“Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus. Tôi nghe có tiếng đến từ trên trời rằng: Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa! Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau” (14:12-13)
Kinh Thánh có nhiều câu nói tới phước hạnh. Từ Tân Ước quen thuộc makarios (“phước thay”) đề cập đến sự vui mừng, hạnh phúc, phu phỉ và sự thoả mãn. Từ ngữ ấy mô tả sự vui mừng bề trong, đó là sự phu phỉ của từng sự thoả lòng và bình an như mong muốn thanh thản, không thể chạm tới, không thể công kích. Cựu và Tân Ước tỏ ra nhiều câu nói tới tình trạng được phước đó:
Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng; Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. (Thi 1:1-2)
Phàm kẻ nào nương náu mình nơi Người có phước thay! (Thi 2:12)
Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình! Được khỏa lấp tội lỗi mình! Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, và trong lòng không có sự giả dối! (Thi 32:1-2; đối chiếu Ro 4:7-8).
Phước cho người nào để lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, chẳng nể vì kẻ kiêu ngạo, hoặc kẻ xây theo sự dối trá! (Thi 40:4)
Phước cho người nào đoái đến kẻ khốn cùng! Trong ngày tai họa Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu người. (Thi 41:1)
Phước thay cho người mà Chúa đã chọn và khiến đến gần, đặng ở nơi hành lang Chúa. (Thi 65:4)
Phước cho người nào ở trong nhà Chúa! Họ sẽ ngợi khen Chúa không ngớt. (Thi 84:4)
Phước cho người nào được sức lực trong Chúa (Thi 84:5)
Phước cho người nào gìn giữ sự đoan chánh, và làm theo sự công bình luôn luôn! (Thi 106:3)
Phước cho người nào kính sợ Đức Giê-hô-va, rất ưa thích điều răn Ngài! (Thi 112:1)
Phước cho những người gìn giữ chứng cớ Ngài, và hết lòng tìm cầu Ngài. (Thi 119:2)
Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay (Ch 8:32)
Người nào nghe lời ta, hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay. (Ch 8:34)
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!
Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!
Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!
Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước.
Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy. (Mat 5:3-12)
Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!” (Gi 20:29)
Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài. (Gia 1:12)
Nếu anh em phải vì sự công bình mà chịu khổ, ấy thật là có phước . . . Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em. (IPhi 3:14; 4:14)
Nhưng, lời tuyên bố đáng giật mình nhất về phước hạnh trong cả Kinh Thánh được thấy có ở câu 13. Đáng ngạc nhiên thay, phước lành thứ hai trong bảy phước lành trong sách Khải huyền (đối chiếu 1:3; 16:15; 19:9; 20:6; 22:7, 14) công bố phước lành cho người chết. Một tư tưởng như vậy là không thể hiểu nổi đối với hầu hết mọi người, những ai xem sự chết là điều cần phải tránh. “Phước thay là người sống” dường như là câu phương châm thích hợp hơn cho hầu hết mọi người.
Thắc mắc rõ ràng mà câu Kinh Thánh gợi lên là: “Tại sao những người đã chết này lại được chúc phước cho?” Câu trả lời được trình ra có hai phần: Theo nhận định ở đây, người chết được chúc phước cho vì cớ phương thức họ sinh sống và vì cớ cách thức họ ngã chết.
PHƯƠNG THỨC HỌ SINH SỐNG
Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus. (14:12)
Cụm từ sự nhịn nhục của các thánh đồ giới thiệu một trong những lẽ đạo quan trọng và yên ủi nhất trong Kinh Thánh.Cụm từ ấy chỉ ra lẽ thật cho rằng hết thảy những người mà Đức Chúa Trời đã chọn, đã kêu gọi, và đã xưng công bình sẽ không bao giờ mất đức tin của họ, song sẽ nhịn nhục trong đức tin ấy cho đến chết. Thực tại ấy cung ứng sự bảo đảm, hy vọng và sự vui mừng cho từng người tin Chúa chơn thật nơi Đức Chúa Jêsus Christ và dẫn đến chỗ chấm hết sự sợ hãi và nghi ngờ. Thực tại ấy cũng tỏ ra rằng những cái chết của người tin Chúa được chúc phước cho bởi vì sự chết dẫn họ vào sự vinh hiển của thiên đàng.
Có người đề cập đến điều này như là lẽ đạo nói tới sự an ninh đời đời; những người khác thêm thắt đấy là sự dạy “một lần được cứu, luôn luôn được cứu”. Trong khi các định nghĩa đó là chính xác, chúng không tỏ ra lẽ thật này rõ ràng cho bằng cụm từ trong kinh thánh sự nhịn nhục của các thánh đồ. Câu nói ấy nhấn mạnh thực tại Đức Chúa Trời giữ gìn các thánh đồ của chính Ngài bằng cách nâng đỡ đức tin của họ cho đến kỳ cùng, vô luận có việc gì xảy ra. Đức tin cứu rỗi đích thực trong chính bản chất của nó là đời đời và không thể bị hư mất hoặc bị phá diệt.
Bản chất nhịn nhục của đức tin cứu rỗi không hề được thấy rõ ràng và mạnh mẽ hơn trong phân đoạn Kinh Thánh này. Không một nhóm tín đồ nào đã từng đối diện với hoặc sẽ phải đối mặt với những cuộc tấn công ồ ạt vào đức tin của họ hơn các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn. Nhóm lớn các tín hữu nầy (7:9, 13-14) sẽ bao gồm cả các dân Ngoại (7:9) và người Do-thái (12:17). Họ sẽ được cứu qua các chức vụ của hai người làm chứng (11:3-13) và 144.000 người (7:1-8; 14:1-5). Các tín đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ gánh chịu sự bắt bớ ghê gớm nhất trong lịch sử nhân loại. Trong Mat 24:21, Chúa Jêsus mô tả thời kỳ nầy như một thời gian của “hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa“. Mọi tình trạng sẽ kinh khủng đến nỗi “nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt“ (Mat 24:22). Đức Chúa Trời sẽ đặt ra một giới hạn cho Kỳ Đại Nạn hầu cho người được chọn sẽ không gánh chịu đau khổ nhiều hơn họ có thể mang nổi (đối chiếu ICo 10:13). Không có một bằng chứng nào mạnh mẽ cho thấy đức tin cứu rỗi nhịn nhục hơn thực tại những người tin Chúa bị thử thách nhiều nhất trong lịch sử sẽ giữ vững đức tin cứu rỗi của họ cho đến cuối cùng.
Sứ điệp đầy khích lệ ở các câu 12 và 13 hình thành một thời gian ngắn xen giữa trong sự mặc thị về sự phán xét của Đức Chúa Trời nghịch cùng những kẻ vô tín. Các câu 9-11 tô vẽ một bức tranh kinh hoàng về sự rủa sã những kẻ thờ lạy Anti-christ không biết ăn năn. Câu chuyện kể về sự phán xét của Đức Chúa Trời tóm tắt trong câu 14 và tiếp tục qua phần còn lại của chương nầy. Ở giữa các vụ tàn sát đó, với những thảm hoạ chưa từng thấy diễn ra ở xung quanh họ, các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ giữ lòng trung tín và trung thành với Đấng Christ. Ngay cả viễn cảnh tuận đạo cũng không thuyết phục họ từ bỏ đức tin của mình. Sự trung thành nhịn nhục của họ đối với Đức Chúa Jêsus Christ tạo thành điểm sáng trong bóng tối tăm của Kỳ Đại Nạn. Điều đó cũng trả lời cho thắc mắc của thế giới vô tín rằng: “Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?“ (6:17). Những người tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn sẽ đứng vững cho đến cuối cùng.
Lẽ đạo của Kinh Thánh nói về sự nhịn nhục của hàng thánh đồ dựa trên năm cột trụ vững chắc, không lay động. Bằng chứng đầu tiên nói tới sự chơn thật của lẽ đạo, ấy là lời hứa của Đức Chúa Trời đã thiết lập ra lẽ đạo ấy. Trong Thi 37:23-34, Đa-vít bày tỏ lẽ thật Đức Chúa Trời giữ gìn kẻ thuộc về Ngài:
Đức Giê-hô-va định liệu các bước của người, và Ngài thích đường lối người: Dầu người té, cũng không nằm sải dài; Vì Đức Giê-hô-va lấy tay Ngài nâng đỡ người. Trước tôi trẻ, rày đã già, nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, hay là dòng dõi người đi ăn mày. Hằng ngày người thương xót, và cho mượn; Dòng dõi người được phước. Hãy tránh điều dữ, và làm điều lành, thì sẽ được ở đời đời. Vì Đức Giê-hô-va chuộng sự công bình, không từ bỏ người thánh của Ngài; họ được Ngài gìn giữ đời đời: Còn dòng dõi kẻ dữ sẽ bị diệt đi. Người công bình sẽ nhận được đất, và ở tại đó đời đời. Miệng người công bình xưng điều khôn ngoan, và lưỡi người nói sự chánh trực. Luật pháp Đức Chúa Trời người ở trong lòng người; Bước người không hề xiêu tó. Kẻ ác rình rập người công bình, và tìm giết người. Đức Giê-hô-va không bỏ người trong tay hắn, cũng chẳng định tội cho người khi người bị đoán xét. Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va, và giữ theo đường Ngài, thì Ngài sẽ nâng ngươi khiến để nhận được đất! Khi kẻ ác bị diệt đi, thì ngươi sẽ thấy điều ấy.
Ê-sai cũng tưởng niệm lẽ thật quan trọng nầy:
Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đức Giê-hô-va là Đấng đã dựng nên ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi. Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Cứu Chúa ngươi. Ta ban Ê-díp-tô làm giá chuộc ngươi, Ê-thi-ô-bi và Sê-ba làm của thay ngươi. Vì ta đã coi ngươi là quí báu, đáng chuộng, và ta đã yêu ngươi, nên ta sẽ ban những người thế ngươi, và các dân tộc thay mạng sống ngươi. Đừng sợ, vì ta ở cùng ngươi: ta sẽ khiến dòng dõi ngươi đến từ phương đông, và nhóm họp ngươi từ phương tây. Ta sẽ bảo phương bắc rằng: Hãy buông ra! và bảo phương nam rằng: Chớ cầm lại làm chi! Hãy đem các con trai ta về từ nơi xa, đem các con gái ta về từ nơi đầu cùng đất, tức là những kẻ xưng bằng tên ta, ta đã dựng nên họ vì vinh quang ta; ta đã tạo thành và đã làm nên họ. (Es 43:1-7)
Duy Y-sơ-ra-ên đã được Đức Giê-hô-va cứu cho, được sự cứu đời đời, đến đời đời vô cùng các ngươi không còn mang hổ mang nhơ! (Es 45:17)
Si-ôn từng nói rằng: Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ ta; Chúa đã quên ta. Đàn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đàn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên ngươi. Nầy ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay ta; các tường thành ngươi thường ở trước mặt ta luôn. (Es 49:14-16)
“Hãy ngước mắt lên các từng trời và cúi xem dưới đất; vì các từng trời sẽ tan ra như khói, đất sẽ cũ như áo, dân cư trên đất sẽ chết như ruồi: nhưng sự cứu rỗi của ta còn đời đời, sự công bình của ta chẳng hề bị bỏ đi” (Es 51:6)
Đức Chúa Trời cũng hứa trong Tân Ước rằng ơn cứu rỗi là đời đời:
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Gi 3:16)
“Ai tin Con, thì được sự sống đời đời” (Gi 3:36)
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (Gi 5:24)
“Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời” (IGi 2:25)
Lẽ thật thứ hai, lẽ đạo nói tới sự nhịn nhục của các thánh đồ đặt trên đó, mục đích của Đức Chúa Trời bảo đảm việc ấy. Chúa Jêsus tuyên bố:
“Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến. Vả, ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt. Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt” (Gi 6:37-40)
Lời hứa của Đức Chúa Trời đặt trên ý đồ hay chương trình tễ trị của Ngài; lời hứa đó được trình bày đơn sơ rằng ý chỉ của Ngài, ấy là chẳng có một người nào Ngài ban cho Con của Ngài bị lạc mất cả. Trong Gi 6:44 Chúa Jêsus củng cố lẽ thật ấy, lưu ý rằng: “Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt”. Hết thảy những ai đến với đức tin cứu rỗi nơi Chúa Jêsus sẽ là chi thể của sự “sống lại để được sống” (Gi 5:29); không một người nào bị hư mất. Ro 8:28-30 cũng dạy rằng chẳng có một gãy vỡ nào trong tiến trình cứu rỗi:
Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.
Hết thảy những ai Đức Chúa Trời đã biết trước, đã được định trước, được kêu gọi, được xưng công bình, và được làm cho vinh hiển. Từ lúc bắt đầu trong cõi quá khứ đời đời cho đến phần kết cuộc trong tương lai đời đời, tiến trình cứu rỗi là một sự liên tục không đứt đoạn; chẳng ai có khả năng ngắt quãng việc ấy giữa đường. Phao-lô viết: “tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi 1:6; đối chiếu ICo 1:7-9). Trong Ro 11:29 ông nói thêm: “vì các sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời chẳng hề đổi lại được bao giờ”. Đúng là ý đồ của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ phô bày ra các ý đồ đó.
Bằng chứng thứ ba về lẽ đạo nói tới sự nhịn nhục của các thánh đồ, ấy là quyền phép của Đức Chúa Trời bảo đảm việc ấy. Quyền phép của Đức Chúa Trời biến đổi người tin Chúa thành ra các tạo vật mới (IICo 5:17) sẽ nâng đỡ họ, hầu cho họ sẽ không thể bị hư mất. Trong Gi 10:27-29, Chúa Jêsus nói dứt khoát rằng quyền phép của Đức Chúa Trời giữ gìn các tín hữu được an toàn: “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta. Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha“. Satan, hay tất cả các thế lực của địa ngục cũng không thể rứt một tín đồ ra khỏi Đức Chúa Trời: “vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian” (IGi 4:4). Phao-lô viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca: “Chúa là thành tín, sẽ làm cho anh em bền vững và giữ cho khỏi Ác giả” (IITe 3:3). Tác giả thơ Hê-bơ-rơ viết: “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy“ (He 7:25). Thư tín Giu-đe kết thúc với một lời chúc phước: “Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được” (Giu-đe 24). Cùng với lời hứa và các ý đồ của Ngài, Đức Chúa Trời có quyền phép để bảo vệ những người tin Chúa được an toàn.
Các thánh đồ cũng sẽ nhịn nhục vì ơn cứu rỗi toàn bộ là do ân điển của Đức Chúa Trời (Eph 2:8-9). Một khi chúng ta không làm chi hết để có được ơn ấy, cũng một thể ấy chúng ta sẽ chẳng làm chi hết để giữ lấy ơn đó. Giống như ông kết thúc thư tín thứ nhứt của ông viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô tuyên bố lời chúc phước sau đây giáng trên họ: “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến!” (ITe 5:23). Khi ấy, vị sứ đồ giải thích thể nào việc giữ an toàn của người Tê-sa-lô-ni-ca sẽ được hoàn tất: “Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (câu 24).
Bàn bạc rằng đức tin cứu rỗi có thể chết đi, hoặc lạc mất, mâu thuẫn với lời hứa, ý đồ, quyền phép và ân điển của Đức Chúa Trời. Những người tin Chúa đã được “lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt!” (IPhi 1:3-5). Đức Chúa Trời bảo đảm người tin Chúa sẽ nhịn nhục.
Tuy nhiên, những lời khuyên lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh về sự nhịn nhục rất là rõ ràng, rằng người tin Chúa có trách nhiệm phải nhịn nhục. Chúa Jêsus đã cảnh cáo: “Các ngươi lại sẽ bị thiên hạ ghen ghét vì danh ta; song ai bền lòng cho đến cuối cùng, thì sẽ được rỗi” (Mat 10:22). Trong Mat 24:13 Ngài nói thêm: “Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu“. Sau khi đến An-ti-ốt, Ba-na-ba “khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa” (Cong 11:23). Sau đó, Phao-lô và Ba-na-ba đã dành thời gian ở tại Lít-trơ, Y-cô-ni, và An-ti-ốt “giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin, và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời” (Cong 14:22). Phao-lô viết cho người Rô-ma: “Đấng [Đức Chúa Trời] sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm: ai bền lòng làm lành, tìm sự vinh hiển, sự tôn trọng và sự chẳng hề chết, thì báo cho sự sống đời đời; còn ai có lòng chống trả, không vâng phục lẽ thật, mà vâng phục sự không công bình, thì báo cho họ sự giận và cơn thạnh nộ” (Ro 2:6-8). Co 1:21-23 cho thấy rõ ràng phần của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi và trách nhiệm của con người phải nhịn nhục: Cơ Đốc nhân đã được chuộc: “Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc ác mình, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà khiến anh em hòa thuận, đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được; miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe“. Tương tự, tác giả thơ Hêbơrơ viết: “Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối cùng” (Hê-bơ-rơ 3:14). Sứ đồ Giăng mô tả Cơ Đốc nhân là hạng người đắc thắng (2:7, 11, 17, 26-28; 3:5, 12, 21; IGi 5:4-5).
Người tin Chúa nhịn nhục bởi đức tin (IPhi 1:5; IGi 5:4-5), kính sợ (Gie 32:40), yêu thương (Eph 6:24), vâng lời (Gi 8:31), và bằng cách xây khỏi tội lỗi (IICo 7:1; đối chiếu Ro 6:12-14). Hết thảy mọi sự ấy đều được Đức Chúa Trời ưng nhận — khi ấy Ngài khuyên những người tin Chúa biểu hiện chúng ra trong đời sống của họ. Lẽ đạo nói tới sự nhịn nhục không được hiểu nhầm là sự dạy cho người tin Chúa sẽ được cứu cho đến đời đời bất chấp niềm tin và lối sống của họ. Cái điều mà lẽ đạo ấy dạy là, như đã nói ở trên, người tin Chúa chơn thật sẽ cứ tiếp tục trong đức tin. Sự xưng công bình sẽ nối theo sau bởi việc làm nên thánh dẫn đến sự vinh hiển.
Điều đó làm dấy lên thắc mắc về những người đã từng tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ, nhưng rồi lại vấp ngã. Kinh thánh dạy rằng hạng người thể ấy không bao giờ được cứu trong chỗ thứ nhứt. Khi giải thích thí dụ các loại đất các môn đồ của Ngài, Chúa Jêsus nói về thứ đất đá sỏi: “Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy; song vì trong lòng họ không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm“ (Mac 4:16-17). Chúa Jêsus đã cảnh cáo ở Gi 15:6: “Nếu ai chẳng cứ trong ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy”. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ lưu ý rằng: “Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh, nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường” (He 6:4-6). Trong He 10:29, ông hỏi thật hùng hồn: “huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?“ Sứ đồ Giăng tuyên bố: “Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy“ (IGi 2:19).
Một bối cảnh từ quyển Thiên Lộ Lịch Trình của John Bunyan làm minh hoạ cho sự thực các Cơ Đốc nhân thật nhịn nhục khi chịu thử thách, trong khi những tín đồ giả vấp ngã đối với đức tin:
Tôi nhìn thấy trong chiêm bao, khi CƠ ĐỐC NHÂN đi vào biên giới bóng tối của sự chết, ở đó gặp hai người, con cái của họ đã đưa ra nguồn tin xấu về mảnh đất tốt, vội vã quay trở lại (Dan 13:32), CƠ ĐỐC NHÂN đã nói với họ như sau:
Cơ Đốc nhân: Các bạn sẽ đi đâu chứ?
Hai người kia: Họ nói: “Trở lại, lùi lại; và chúng tôi muốn bạn cũng lui lại, một khi lấy chính bạn làm phần thưởng cho sự sống hay sự bình an”.
Cơ Đốc nhân: “Sao chứ, đâu là vấn đề chứ?” CƠ ĐỐC NHÂN nói.
Hai người kia: Họ nói: “Vấn đề ư! chúng tôi sẽ đi đường ấy giống như bạn đang đi đây, và chúng tôi đi xa lắm đấy; và quả thật chúng tôi gần như quay lại với quá khứ, vì chúng tôi đã đi xa hơn một chút, chúng tôi không có mặt ở đây để đem cho bạn thông tin đâu”.
Cơ Đốc nhân: “nhưng anh em đã gặp gỡ điều gì vậy?” CƠ ĐỐC NHÂN nói.
Hai người kia: Sao chứ, chúng tôi gần như ở trong Trũng Bóng Chết (Thi 44:19; 107:10); nhưng may mắn thay chúng tôi đã nhìn thấy ở trước mặt chúng tôi và đã nom thấy nguy hiểm trước khi chúng tôi đi đến đó.
Cơ Đốc nhân: “Nhưng anh em đã nhìn thấy cái gì mới được?” CƠ ĐỐC NHÂN nói.
Hai người kia: Thấy gì à! Cái trũng ấy sao à, cái hố ấy tối tăm sao à. Chúng tôi cũng đã xem thấy ở đó lũ quỉ, bầy dê thần, và mấy con rồng trong hố sâu; chúng tôi cũng nghe thấy trong trũng ấy tiếng kêu gào, la hét liên tục, giống như tiếng gào thét của một kẻ đau khổ không thể thốt ra được vậy, họ ngồi đó bị trói trong hoạn nạn và xích sắt; các đám mây khốn khổ treo trên trũng nhầm lẫn đó; sự chết cũng giang đôi cánh ra ở đó, đúng là một cảnh tượng rất đáng sợ, hoàn toàn không có trật tự (Giop 3:5; 10:22).
Cơ Đốc nhân: Khi ấy CƠ ĐỐC NHÂN nói: “Tôi cũng chưa hiểu được, bởi những gì Ngài đã phán, song đấy là con đường dẫn tới chỗ ẩn náu đáng mong ước”.
Hai người kia: “Nguyện con đường ấy là con đường của bạn, chúng tôi không chọn đường ấy cho mình”.
Thế là họ chia tay, và CƠ ĐỐC NHÂN bèn đi đường mình; nhưng vẫn với thanh gươm tuốt trần nơi tay, vì e sợ hắn sẽ tấn công ([Reprint, Grand Rapids: Zondervan, 1967], 61-62).
Sự nhịn nhục của các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ ra rõ ràng vì đấy sẽ là bằng chứng cho thấy họ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Đức tin cứu rỗi chơn thật đó sẽ kết quả nơi sự vâng theo sự dạy rõ ràng của Đức Chúa Trời. Trong Gi 8:31 Chúa Jêsus phán: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta”. Ở Gi 14:21 Chúa Jêsus xác định những ai thực sự đem lòng yêu mến Ngài: “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta”. Trong Gi 15:14 Ngài nói thêm: “Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta”. Trong Lu 6:46, Chúa Jêsus hỏi: “Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” Sứ đồ Giăng đã viết: “Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài” (IGi 5:3).
Cách thứ hai các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ chứng tỏ sự nhịn nhục, ấy là nhờ đức tin của họ nơi Chúa Jêsus. Họ sẽ giữ lòng trung thành, thậm chí ở dưới sự cai trị độc tài của Anti-christ. Ngay cả sự đe doạ hành quyết (13:15) sẽ không khiến họ từ bỏ đức tin của họ nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Giống như các bậc anh hùng đức tin được liệt kê ra trong Hê-bơ-rơ 11, họ sẽ giữ sự làm chứng của họ cho đến cuối cùng — ngay cả sự cuối cùng ấy là một sự tuận đạo ghê khiếp đi nữa.
Tại sao những người tin Chúa trung tín cho đến chết này lại được phước chứ? Vì họ đã sống loại đời sống trinh khiết, cao thượng, có mục đích, vâng lời, phong phú, vui mừng, nêu gương. Họ đã sống loại đời sống đầy đủ nhất trong đức tin và vâng phục đối với Đức Chúa Trời. Ngay cả nếu sẽ chẳng có thiên đàng, đấy vẫn là phương thức tốt nhứt để sống. Nhưng có thiên đàng theo sau đời nầy cho dân sự của Đức Chúa Trời; vì lẽ đó sự chết của hàng thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn cũng sẽ được phước cho đến đời đời.
CÁCH THỨC HỌ NGÃ CHẾT
Tôi nghe có tiếng đến từ trên trời rằng: Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa! Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau. (14:13)
Sau khi đã sống với sự nhịn nhục, các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ chết với lời hứa. Đây là lần thứ sáu trong sách Khải huyền Giăng nghe có tiếng đến từ trời (đối chiếu 10:4, 8; 11:12; 12:10; 14:2); ông sẽ nghe tiếng nói ấy thêm ba lần nữa (18:4; 19:5; 21:3). Tiếng (có lẽ là tiếng của Đức Chúa Trời, chớ không phải là tiếng của thiên sứ) đã ra lệnh cho Giăng phải ghi lại. Mười hai lần trong sách Khải huyền, Giăng được yêu cầu phải viết lấy (đối chiếu 1:11, 19; 2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14; 19:9; 21:5); vị sứ đồ đã bị đặt dưới sự ủy thác thiêng liêng phải ghi chép lại các sự mặc thị mà ông đã xem thấy.
Tiếng từ trời truyền cho Giăng phải viết lấy: “Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa!” Điều đó bao gồm những người tuận đạo như An-ti-ba (2:13), những người được nhìn thấy ở dưới bàn thờ ở trên trời (6:9-11), và “vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, … là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con” (Kh 7:9, 14). Những người tuận đạo này được phước không những vì họ đã sống đời sống trọn vẹn nhất trong sự vâng lời và tin cậy, mà còn vì họ đã chết trong Chúa. Họ sẽ trải nghiệm phần thưởng trọn vẹn nhất trong sự chết, bởi vì “sự chết của các người thánh là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 116:15). Họ sẽ cùng với Phao-lô có thể kêu lên đắc thắng: “Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?” (ICo 15:55).
Tiếng cho Giăng biết rằng không những kẻ đã chết rồi, mà còn những ai chết từ rày trở đi đều được chúc phước cho. Những người tin Chúa tuận đạo từ thời điểm đó cho đến cuối cùng của Kỳ Đại Nạn sẽ chẳng có gì phải sợ cả. Sự chết của họ cũng sẽ được chúc phước cho.
Đức Thánh Linh được trưng dẫn trực tiếp trong sách Khải huyền chỉ có ở đây và ở 22:17. “Phải” của Ngài được nhấn mạnh (mạo từ tiếng Hy-lạp chỉ ra sự xác quyết mạnh mẽ) cho thấy rằng Ngài đồng ý với tiếng từ trời rằng người chết được chúc phước cho. Là Đấng nâng đỡ và yên ủi của họ, Đấng yêu thương họ và đau khổ bởi nổi khổ của họ, Đức Thánh Linh mong muốn sự đau khổ đó kết thúc. Ngài thêm hai lý do nữa cho sự được phước của những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn.
Thứ nhất, Đức Thánh Linh tuyên bố họ được phước vì họ có thể nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc của họ. Kopos mô tả công việc nhọc nhằn, khó khăn, mệt mỏi. Từ nầy cũng có thể đề cập đến bận tâm, phiền toái, hoặc rối rắm. Chắc chắn các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn sẽ trải nghiệm toàn bộ nỗi khổ sở theo ý nghĩa của từ ngữ. Họ sẽ bị phủ lút với nỗi buồn sâu sắc khi họ nhìn thấy những kẻ họ yêu mến — con cái, cha mẹ, vợ chồng và bạn bè — đang gánh chịu nhọc nhằn và chết chóc. Cuộc sống của họ sẽ là một sự phấn đấu nhọc nhằn, khó khăn, nguy hiểm để được sống còn. Không có dấu hiệu của con thú, họ sẽ bị loại ra khỏi xã hội, không thể mua hoặc bán, và sống loại đời sống chạy trốn như những kẻ lánh nạn bị săn đuổi vậy. Sự chết, sự nghỉ ngơi khỏi mọi khó khăn và buồn rầu trong cuộc sống của họ, sẽ đến như một sự giải cứu đáng hoan nghênh. Ngược lại hoàn toàn là kẻ bị rủa sã, họ sẽ không biết nghỉ ngơi trong một phút xuyên suốt cõi đời đời (14:11).
Đức Thánh Linh cũng tuyên bố những người tuận đạo được chúc phước vì những việc làm họ theo sau. Erga (việc làm) đề cập đến sự họ phục vụ Chúa. Khi những người tin Chúa này lên thiên đàng, bản tường trình việc làm siêng năng của họ sẽ theo họ. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho những người tin Chúa trên thiên đàng vì sự phục vụ của họ trong đời nầy đối với Ngài. He 6:10 chép: “Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã tỏ ra vì danh Ngài, trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đang còn hầu việc nữa“. Khi đối diện với sự hành quyết sắp tới, Phao-lô tuyên bố cách đắc thắng: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài” (IITi 4:7-8). ICo 3:12-14 mô tả việc Đức Chúa Trời thử nghiệm các việc làm của người tin Chúa. “Vàng, bạc, [và] đá quí” (câu 12) sẽ được bảo tồn, trong khi “gỗ, cỏ khô, và rơm rạ” (câu 12) sẽ bị phá diệt. Những gì còn lại sẽ tạo thành cơ sở cho các phần thưởng của người tin Chúa (các câu 13-14).
Người chết nào đã sống trong sự vâng lời và tin cậy sẽ được chúc phước cho sự yên nghỉ và phần thưởng sau khi họ qua đời. Những người còn đang sống lúc bây giờ hưởng sự khoái lạc đã chết ngay cả khi họ đang sống (ITi 5:6). Đã “chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Eph 2:1), họ đối mặt với sự kinh khiếp của sự rủa sã đời đời trong địa ngục. Lẽ thật không thiên vị, ấy là những sự lựa chọn mà người ta đưa ra trong đời này sẽ không thể đảo ngược được biểu đồ tiến trình về số phận đời đời của họ. Một cõi đời đời không có Đấng Christ với hình khổ không dứt hay sự yên nghỉ phước hạnh và phần thưởng của thiên đàng: đó là sự lựa chọn đã đối diện với từng người một.