Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

10 – Đền Thờ Trong Kỳ Tận Thế (Kh 15:1-8)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Tôi thấy một điềm khác ở trên trời, vừa lớn vừa lạ: bảy thiên sứ cầm bảy tai nạn sau cùng, vì bởi các tai nạn nầy làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Tôi thấy như biển bằng pha lê lộn với lửa, những kẻ đã thắng con thú và hình tượng nó cùng số của tên nó, đứng bên biển pha ly đó mà nâng đàn cầm của Đức Chúa Trời. Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra. Rồi đó, tôi nhìn xem, thấy trên trời có nơi thánh của đền tạm chứng cớ mở ra. Bảy vị thiên sứ cầm bảy tai nạn từ đền thờ đi ra, mặc áo gai trong sạch rực rỡ, và ngang ngực thắt đai vàng. Một con trong bốn con sanh vật ban cho bảy vị thiên sứ bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời, là Đấng hằng sống đời đời. Đền thờ bèn đầy những khói, vì cớ sự vinh hiển và oai quyền của Đức Chúa Trời; chẳng ai được vào đền thờ cho đến chừng nào bảy tai nạn của bảy thiên sứ được làm trọn (15:1-8)

Khi họ nghĩ về cuộc tương lai, người ta lo lắng về nhiều việc. Sự hủy hoại môi trường, sự nóng lên toàn cầu, bất ổn chính trị và tình trạng bất an, chủ nghĩa khủng bố, tội ác, sụp đổ về kinh tế và tài chánh, và sự suy giảm liên tục các giá trị đạo đức huỷ diệt mọi mối quan hệ, hết thảy đều nằm trong mối quan tâm. Thêm một nguyên nhân khác nữa cho lo sợ là cảm giác trống rỗng nảy sinh, nó được thúc đẩy bởi triết lý chống nghịch Đức Chúa Trời của chủ nghĩa nhân đạo. Đối với những ai tin rằng không có Đức Chúa Trời chi hết, không có một quê hương nào trong vũ trụ, vì thế họ chẳng có một chỗ nào để xây trở để tìm cho ra câu trả lời cuối cùng, nâng đỡ hay có ý nghĩa.

Nhưng cái điều thực sự đáng sợ về cuộc tương lai không những là bất kỳ việc nào trong các việc ấy; cái điều sẽ làm cho tấm lòng của hạng tội nhân phải chết điếng là những gì Đức Chúa Trời sẽ làm. Cơn giận và sự thạnh nộ phán xét của Đức Chúa Trời là một thực tại đáng sợ đã hiện ra trên đường chân trời lịch sử nhân loại (đối chiếu Thi 96:13; 98:9; 110:6; Gio 3:2, 12; Cong 17:31; IITi 4:1). Bởi vì họ cố ý bỏ qua thực tại đó, người ta không sợ những gì họ phải sợ. Chúa Jêsus khuyên mọi người hãy “sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục” (Mat 10:28), vì “Đức Chúa Trời là quan án công bình, thật là Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác” (Thi 7:11). Tác giả thơ Hê-bơ-rơ nói thêm: “Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (He 10:31).

Xuyên suốt lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời đã đổ cơn thạnh nộ của Ngài ra trong sự phán xét giáng trên hạng tội nhân. Tội lỗi của A-đam trong vườn Ê-đen đã đưa toàn thể nhân loại đến chỗ chịu sự phán xét (Ro 5:12). Đến thời của Nô-ê, ​​người ta đã trở nên gian ác đến nỗi Đức Chúa Trời đã giáng Nạn Lụt sự phán xét khủng khiếp để hủy diệt thế gian (đối chiếu Sa 6:5-8). Chỉ có Nô-ê và những người ở cùng ông trên tàu mới được cứu. Nhiều thế kỷ của sự bất tuân của dân Do-thái sau cùng đã dẫn đến sự phán xét giáng trên họ, khi vương quốc phía Bắc Israel trước tiên rồi sau đó là vương quốc phía Nam xứ Giuđa phải bị đi làm phu tù.

Cơn thạnh nộ và sự phán xét của Đức Chúa Trời là những lẽ đạo liên tục của các tiên tri thời Cựu Ước. Họ thường xuyên cảnh cáo về Ngày của Đức Giê-hô-va hầu đến, dù là một sự phán xét trong lịch sử tức thì, hoặc Ngày tận thế của Đức Giê-hô-va. Mọi sự phán xét trong Ngày của Đức Giê-hô-va lịch sử đều là cái nhìn trước về Ngày của Đức Giê-hô-va sau cùng và thật kinh khiếp. (For more information about the Day of the Lord, see Revelation 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody,1999],199ff.)

Êsai đã cánh cáo về sự phán xét hầu đến của Đức Chúa Trời:

Các ngươi khá than khóc! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần: ngày đó đến như cơn tai nạn đến bởi Đấng Toàn năng. Vậy nên mọi tay đều yếu đuối, lòng người đều tan chảy. Chúng đều kinh hoàng, bị sự đau đớn thảm sầu bắt lấy, quặn thắt như đàn bà đang đẻ; hắc hơ hắc hãi nhìn nhau, mặt như mặt ngọn lửa! Nầy, ngày Đức Giê-hô-va đến, là ngày hung dữ, có sự thạnh nộ và nóng giận để làm đất nầy nên hoang vu, và diệt những kẻ có tội khỏi đó (Es 13:6-9).

Ê-xê-chi-ên đã mô tả Ngày của Đức Giê-hô-va là “kỳ của các dân tộc” (Exe 30:3). Giô-ên hô lên: “Ôi ngày ấy! vì ngày Đức Giê-hô-va đã gần! Nó đến như một tai vạ thả ra bởi Đấng Toàn Năng” (Gio 1:15). A-mốt gào lên với hạng tội nhân trong Israel: “Ngươi khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi” (Am 4:12). Tiên tri Sô-phô-ni đưa ra phần mô tả đáng sợ sau đây nói tới Ngày của Đức Giê-hô-va:

Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần, đã gần rồi; nó đến rất kíp. Ngày của Đức Giê-hô-va có tiếng động; bấy giờ người mạnh dạn sẽ kêu khóc đắng cay. Ngày ấy là ngày thạnh nộ, ngày hoạn nạn và buồn rầu, ngày hủy phá và hoang vu, ngày tối tăm và mờ mịt, ngày mây và sương mù, ngày mà tiếng kèn và tiếng báo giặc nghịch cùng các thành bền vững và các tháp cao góc thành. Ta sẽ đem sự hoạn nạn trên loài người, chúng nó sẽ đi như kẻ mù, vì đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va; máu chúng nó sẽ đổ ra như bụi, và thịt như phân. Hoặc bạc hoặc vàng của chúng nó, đều không có thể giải cứu chúng nó trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va; nhưng cả đất nầy sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt; vì Ngài sẽ diệt hết dân cư đất nầy cách thình lình (So 1:14-18).

Gióp đã cảnh cáo rằng: “Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?” (Giop 21:30).

Sự đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong lịch sử rơi vào một vài phạm trù. Thứ nhứt là loại phạm trù được gọi là cơn thạnh nộ “gieo và gặt”. Con người phạm tội và gánh chịu các hậu quả đúng mức của tội lỗi đó: “Theo điều tôi đã thấy, ai cày sự gian ác, và gieo điều khuấy rối, thì lại gặt lấy nó“ (Giop 4:8; Ga 6:7-8). Loại thạnh nộ thứ hai là cơn thạnh nộ thảm khốc, khi Đức Chúa Trời đưa ra sự phán xét lớn lao, đem lại sự tàn phá. Sự phán xét đó có thể bao lấy cả thế gian, như đã có với Nạn Lụt (Sa 6-8), hoặc một khu vực nhỏ hơn, như khi Đức Chúa Trời hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 19:1-29). Rô-ma chương 1 tỏ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nói tới sự từ bỏ khi Phao-lô ba lần sử dụng cụm từ “Đức Chúa Trời phó họ cho” để chứng tỏ sự từ bỏ công bình của Đức Chúa Trời đối với hạng tội nhân, cất bỏ sự kềm chế trước những hậu quả kinh khiếp của các lựa chọn tội lỗi (các câu 24, 26, 28). Os 4:17 tuyên bố: “Ép-ra-im sa mê thần tượng, hãy để mặc nó!” Như đã lưu ý trước đây, sự phán xét tạm thời của Đức Chúa Trời được đổ ra trong các sự phán xét gọi Ngày của Đức Giê-hô-va trong lịch sử. Sau cùng, có cơn thạnh nộ đời đời, cơn thạnh nộ kỳ tận thế của Đức Chúa Trời trong tương lai sẽ đổ ra trên cả thế gian (ITe 1:10; 5:9). Kết quả tối hậu của cơn thạnh nộ đời đời sẽ là phần kết án hết thảy hạng tội nhân không chịu ăn năn trong địa ngục cho đến đời đời.

Nhưng xuyên suốt toàn bộ sự đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong lịch sử, từ Vườn Ê-đen cho đến sự bùng nổ sau cùng cơn thạnh nộ của kỳ tận thế, một nghịch lý kỳ lạ xuất hiện: Đức Chúa Trời đang bận rộn hành động để cứu hạng tội nhân ra khỏi cơn thạnh nộ của chính mình Ngài. Bản tánh của Đức Chúa Trời bao gồm không những sự công bình và sự thánh khiết mà còn bao gồm ân điển và lòng thương xót nữa. Ngay cả trong suốt các sự phán xét gây tàn phá trong Kỳ Đại Nạn, Đức Chúa Trời sẽ kêu gọi hạng tội nhân đến với ơn cứu rỗi. Ngài sẽ làm vậy bằng cách sử dụng 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái (7:2-8; 14:1-5), hai người làm chứng (11:3-13), một số người Do-thái và dân Ngoại đã được chuộc (7:9-17), thậm chí cả một thiên sứ bay giữa trời (14:6-7). Khi sự đổ ra cơn thạnh nộ thiêng liêng leo thang, các nỗ lực truyền giáo của Đức Chúa Trời cũng sẽ leo thang nữa. Kết quả sẽ là một mùa gặt linh hồn lớn lao nhất trong lịch sử nhân loại (đối chiếu 7:9). Một dân Do-thái được chuộc và nhiều linh hồn từ hết thảy các dân Ngoại sẽ được cứu, nhiều người sống sót trong Kỳ Đại Nạn rồi bước vào vương quốc thiên hi niên.

Các chương 15 và 16 trình bày hiện tượng cụ thể của sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trước khi Đấng Christ tái lâm. Cơn thạnh nộ ấy được thể hiện qua các tác động của tiếng loa thứ bảy (11:15), là những sự phán xét của bảy cái bát được mô tả trong chương 16. Chương 15, là chương ngắn nhất trong sách Khải huyền, hình thành phần giới thiệu các sự phán xét nhanh chóng bằng lửa, song chương này không được viết ra cho mục đích đặc biệt biện hộ cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đâu. Một khi “công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình” (Phu 32:4), các hành động của Đức Chúa Trời không cần phải biện hộ. Tuy nhiên, một vài lý do cho việc đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong phân đoạn này.

Một bối cảnh ở trên trời nói trước các sự phán xét bằng cái bát, như đã có trong trường hợp các sự phán xét bằng cái ấn (các chương 4-5) và tiếng loa (8:2-6). Đây là điềm thứ ba ở trên trời mà Giăng đã nhìn thấy trong sách Khải huyền. Ở 12:1 ông nhìn thấy dấu lớn: “một người đàn bà có mặt trời bao bọc, dưới chân có mặt trăng, và trên đầu có mão triều thiên bằng mười hai ngôi sao” đang khi ở 12:3 ông nhìn thấy dấu khác nữa: “một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên”. Các từ ngữ lớn và lạ nói tới tầm quan trọng lớn lao của con dấu này giống như thể nó chứa sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên hạng tội nhân gian ác, không chịu ăn năn trên đất.

Bản thân “điềm” bao gồm bảy thiên sứ cầm bảy tai nạn. Cũng chính các hữu thể đó, họ quan phòng và phục vụ cho dân sự của Đức Chúa Trời (đối chiếu He 1:14) sẽ giáng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vào thế gian tội lỗi (đối chiếu Mat 13:37-42). Pl¯eg¯e (tai nạn) sát nghĩa ý nói “cú đấm” hay “thương tích”, và được sử dụng như thế trong nhiều phân đoạn như Lu 12:48; Cong 16:23, 33; IICo 6:5, và 11:23. Trong 13:3 và 12 từ ngữ nầy mô tả vít thương trầm trọng của con thú. Như vậy, bảy tai nạn không thực sự là bệnh tật hay dịch lệ, mà là những cú đấm thật mạnh, gây chết chóc (đối chiếu 9:18-20; 11:6) sẽ đập vào thế gian với sức mạnh gây tử vong.

Bảy tai nạn này (các sự phán xét bằng cái bát) là những tai nạn sau cùng (và tệ hại nhất), bởi vì chúng làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Cái điều quan trọng cần phải lưu ý chỗ sự thực chúng được gọi là sau cùng ám chỉ rằng các sự phán xét bằng tiếng loa và cái ấn trước đó cũng là những tai nạn nói tới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời kéo dài xuyên suốt Kỳ Đại Nạn và không bị giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn ở giai đoạn cuối, như có tranh cãi. Chúng là lần sau cùng cũng chỉ ra rằng những cái bát đến sau các cái ấn và tiếng loa theo trình tự thời gian.

Sự đổ ra kinh khiếp cơn giận sau cùng nầy của Đức Chúa Trời thực sự đã được dự đoán trước đây trong sách Khải huyền. Đó là đỉnh cao của “ngày thạnh nộ lớn của [Đức Chúa Cha và của Đức Chúa Jêsus Christ]” (6:17). Đó là “nạn thứ ba” được dự đoán ở 11:14; thời gian hủy diệt (11:18); rượu không pha cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (14:10); vụ gặt cuối cùng trên đất (14:14-16); vụ đạp nho sau cùng của cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời (14:17-20).

Thumos (cơn thạnh nộ) là một từ ngữ mạnh mẽ, mô tả cơn giận dữ, hoặc một cơn bùng nổ giận dữ. Cơn giận của Đức Chúa Trời phải được tỏ ra chống nghịch lại mọi tội lỗi không được tha thứ (đối chiếu 14:8, 10). Trong 16:19 và 19:15, cơn thạnh nộ sau cùng của Đức Chúa Trời được gọi là “cơn thạnh nộ dữ dội” của Ngài. Tiên tri Sô-phô-ni viết về sự đổ ra cơn thạnh nộ sau cùng của Đức Chúa Trời trong So 3:8:

“Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi khá đợi ta cho đến ngày ta sẽ dấy lên đặng cướp bắt; vì ta đã định thâu góp các dân tộc và nhóm hiệp các nước, hầu cho ta đổ sự thạnh nộ và cả sự nóng giận ta trên chúng nó, vì cả đất sẽ bị nuốt bởi lửa ghen ta”.

Cũng thực như thế, Phi-e-rơ đã viết: “Chúa … lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 3:9). Tuy nhiên, những ai chối bỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời, từ chối ân điển của Ngài, và khinh thường ơn thương xót của Ngài sẽ đối mặt với cơn thạnh nộ của Ngài không thể tránh được.

Khi chương nầy mở ra, ba động lực cho sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ ra rõ ràng: sự báo thù của Đức Chúa Trời, bổn tánh của Đức Chúa Trời, và chương trình của Đức Chúa Trời.

SỰ BÁO THÙ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Tôi thấy như biển bằng pha lê lộn với lửa, những kẻ đã thắng con thú và hình tượng nó cùng số của tên nó, đứng bên biển pha ly đó mà nâng đàn cầm của Đức Chúa Trời. (15:2)

Trong sự mặc thị đáng nhớ nầy, Giăng thấy như biển bằng pha lê lộn với lửa. Biển không phải là biển thực, vì trong 21:1 ông “thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa”. Cái điều Giăng đã thấy là cái nền bằng pha lê ở trước ngai của Đức Chúa Trời, lấp lánh và lung linh giống như biển yên tĩnh, đầy ánh nắng. Giăng đã thấy chính cái nền pha lê giống như biển nầy ở 4:6: “Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh”. Môi-se cũng có một sự hiện thấy về biển nầy khi ông cùng các trưởng lão Israel “ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có một vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh-quang” (Xu 24:10). Ê-xê-chi-ên mô tả chỗ đó là “một vòng khung, giống như thủy tinh dễ sợ” (Exe 1:22).

Nhưng vẻ đẹp yên tĩnh của biển bằng pha lê lộn với lửa sự phán xét của Đức Chúa Trời, là điều sắp sửa đổ ra trên đất. Kẻ nào chối bỏ ân điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời đối diện với “sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi” (He 10:27), bởi vì “Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:29). Lửa thường được kết hợp với sự phán xét của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh (đối chiếu Dan 11:1; 16:35; Phu 9:3; Thi 50:3; 97:3; Es 66:15; IITe 1:7-9; IIPhi 3:7).

Giăng đã thấy nhóm lại ở quanh ngai của Đức Chúa Trời những kẻ đã thắng con thú. Đây là các tín đồ được chuộc trong Kỳ Đại Nạn (6:9-11; 7:9-17; 12:11, 17; 14:1-5, 12-13). Họ đã thắng con thú vì cớ đức tin không chao đảo của họ đặt nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Kh 20:4-6 mô tả sự phục sinh và phần thưởng của họ. Trong 13:7 Kinh Thánh chép về con thú (Antichrist): “Nó lại được phép giao chiến cùng các thánh đồ và được thắng”. Nhưng sự thắng của Anti-christ không được bao lâu, và đến cuối cùng các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn được xem là thắng hơn hắn, đắc thắng dưới áp lực mà thế gian không sao chịu nổi (đối chiếu 13:4,14-17; 14:9,11; 19:20).

Không những các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn thắng hơn con thú, mà họ còn thắng hơn hình tượng nó cùng số của tên nó. Bạn nối khố của con thú, tiên tri giả, sẽ thực hiện dấu kỳ giả dối để đánh lừa người ta. Một trong số họ sẽ dựng lên bức tượng của con thú, hắn sẽ ra lệnh cho mọi người phải thờ phượng bức tượng nầy dù phải đau đớn chết chóc (xem phần bàn bạc ở 13:14-15 trong chương 5 của tập sách này). Tiên tri giả cũng sẽ buộc mọi người nhận lãnh con dấu tiêu biểu cho tên của con thú, hoặc số của tên nó. Người nào không có dấu ấy sẽ đối diện với hành hình và sẽ không mua cùng bán được (xem bàn bạc ở 13:17 trong chương 5 của tập sách này). Nhưng những người tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn bởi quyền phép của Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng đời đời trên toàn bộ chiến dịch của Sa-tan, con thú, và tiên tri giả. Ngay cả những người tuận đạo vì đức tin đắc thắng của họ sẽ nhận được những phần thưởng của họ rất vinh hiển (20:4).

Các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn đó được thấy đang nâng đàn cầm của Đức Chúa Trời chỉ ra rằng họ đang vui mừng và ca hát ngợi khen dâng lên Đức Chúa Trời. Đàn cầm cũng được kết hợp với sự ngợi khen trước đó trong Khải huyền (5:8; 14:2), như thường hay có trong Cựu Ước (đối chiếu IISa 6:5; ISu 13:8; 15:16, 28; IISu 5:12-13; Ne 12:27; Thi 33:2; 71:22; 144:9; 150:3). Các tín đồ nầy vui mừng vì những lời cầu nguyện của họ xin Đức Chúa Trời báo thù giáng trên những kẻ bắt bớ họ (6:9-10) sắp sửa được nhậm.

Sự xuất hiện của các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn chỉ ra Đức Chúa Trời đã sai cơn thạnh nộ của Ngài như một hành động báo thù giáng trên những kẻ đã ngược đãi dân sự Ngài. Chúa Jêsus cảnh cáo:

“Song, nếu ai làm cho một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn. Khốn nạn cho thế gian vì sự gây nên phạm tội! Vì sự gây nên phạm tội phải có; song khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội! Nếu tay hay là chân ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chân hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời. Nếu con mắt ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa ngục. Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời” (Mat 18:6-10).

Những kẻ vô tín sẽ bị xét đoán trong địa ngục đời đời vì đã ngược đãi dân sự của Đức Chúa Trời, vì sự ngược đãi ấy tỏ ra tấm lòng gian ác, không chịu ăn năn của họ:

“Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống; ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các người nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa” (Mat 25:41-45).

Sứ đồ Phao-lô đã viết: “Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” (Ro 12:19). Cựu Ước ví việc bắt bớ dân sự Đức Chúa Trời với việc chọt ngón tay vào con mắt Ngài (Xa 2:8). Tác giả Thi thiên cũng viết về sự báo thù của Đức Chúa Trời thay cho dân sự Ngài:

“Hỡi Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời, sự báo thù thuộc về Ngài, Hỡi Đức Chúa Trời, sự báo thù thuộc về Ngài, xin hãy sáng rực rỡ Chúa ra. Hỡi quan xét thế gian, hãy chỗi dậy, Báo trả xứng đáng cho kẻ kiêu ngạo. Hỡi Đức Giê-hô-va, kẻ ác sẽ được thắng cho đến chừng nào? Chúng nó buông lời nói cách xấc xược. Những kẻ làm ác đều phô mình. Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng nó chà nát dân sự Ngài, Làm khổ sở cho cơ nghiệp Ngài. Chúng nó giết người góa bụa, kẻ khách, Và làm chết những kẻ mồ côi. Chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va sẽ không thấy đâu, Đức Chúa Trời của Gia-cốp chẳng để ý vào. Hỡi người u mê trong dân, khá xem xét; Hỡi kẻ ngu dại, bao giờ các ngươi mới khôn ngoan? Đấng đã gắn tai há sẽ chẳng nghe sao? Đấng đã nắn con mắt há sẽ chẳng thấy ư? Đấng sửa phạt các nước há sẽ chẳng phạt sao? Ấy là Đấng dạy sự tri thức cho loài người … Chúng nó hiệp nhau lại nghịch linh hồn người công bình, Và định tội cho huyết vô tội. Nhưng Đức Giê-hô-va là nơi ẩn náu cao của tôi; Đức Chúa Trời tôi là hòn đá, tức nơi tôi nương náu mình. Ngài làm cho sự gian ác chúng nó đổ lại trên chúng nó, Và diệt chúng nó trong sự hung dữ chúng nó; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ diệt chúng nó” (Thi 94:1-10, 21-23).

Những người tin Chúa được phát hoạ ở đây là đã gánh chịu những kinh khiếp trong Kỳ Đại Nạn và đã chịu đựng những cái chết đau khổ, bạo lực trong vai trò những người tuận đạo. Tuy nhiên, bất chấp việc gánh chịu sự bắt bớ ghê gớm nhất của thế gian đã từng biết, đức tin của họ, đây là một ân tứ đến từ Đức Chúa Trời, sẽ nhịn nhục chịu đựng. Chắc chắn, họ sẽ đứng vững đắc thắng trước ngai của Đức Chúa Trời, quan sát Đức Chúa Trời thực hiện sự báo thù giáng trên những kẻ bắt bớ họ.

BỔN TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

“Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra” (15:3-4)

Bài ca được hát lên bởi các thánh đồ đã được làm cho vinh hiển ở trước ngai là một bài quốc ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Động lực tối hậu trong cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là bổn tánh công bình, thánh khiết của Ngài, điều nầy đòi hỏi Ngài xét đoán hạng tội nhân. Chính bổn tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời, không bao lâu nữa sẽ được tỏ ra trong sự phán xét nghịch cùng những kẻ bắt bớ họ, làm bật ra bài ca nầy từ những người được chuộc.

Bài ca Môi-se là bài hát đầu tiên trong số các bài ca đã được ghi lại trong Cựu Ước. Dân Do-thái đã hát lên bài ca ngợi khen khi Đức Giê-hô-va ban nước uống cho họ trong đồng vắng (Dan 21:17-18). Môi-se đã dạy cho con cái Israel bài ca tưởng niệm rất ngắn trước khi ông qua đời (Phu 31:19-22; 32:1-44). Bài ca đó của Môi-se không được ghi ở đây, vì nó xử lý với sự bất trung của Israel và sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cho cả dân tộc trước sự phục hồi của họ. Bối cảnh của Khải huyền 15 không phải là bối cảnh nói tới thái độ bất trung, mà nói tới sự trung tín để đắc thắng. Đê-bô-ra và Ba-rác đã hát lên bài ca chiến thắng tưởng niệm sự Israel đánh bại dân Ca-na-an, các lực lượng của họ do Si-sê-ra cầm đầu (Cac 5:1-31). Đã có một bài ca được hát dâng lên Đức Giê-hô-va là một phần của sự phục hồi lại sự thờ phượng thật trong thời của Ê-xê-chia (IISu 29:27). Ngoài ra, David và nhiều người khác đã viết sách Thi thiên, sách thánh ca của Israel xưa kia, và Vua Solomon đã viết sách Nhã ca.

Bối cảnh lịch sử cho bài ca Môi-se đến từ thời điểm Xuất Ai-cập. Là tôi tớ của Đức Chúa Trời, Môi-se được kêu gọi phải lãnh đạo dân Israel ra khỏi cảnh phu tù trong xứ Ai-cập. Đức Chúa Trời đã giải phóng họ ra khỏi quân đội Pha-ra-ôn đang truy kích họ bằng cách phân Biển Đỏ ra làm hai, tạo thành một con đường có vách bằng nước mỗi bên, nhờ đó cho phép dân Israel băng qua an toàn như đi trên đất khô. Sau khi họ qua rồi an toàn, nước sụp xuống nhấn chìm quân đội xứ Ai-cập. Ở bên kia Biển Đỏ, dân Israel cất tiếng hát bài ca ngợi khen dâng lên Đức Chúa Trời vì ơn giải cứu của họ.

Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa. Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài. Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va. Ngài đã ném xuống biển binh xa Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan tướng kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển đỏ, Những lượn sóng đã vùi lấp họ rồi; Họ chìm đến đáy biển như một hòn đá vậy. Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển thay. Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi. Bởi sự cả thể của oai nghiêm Ngài, Đánh đổ kẻ dấy nghịch cùng mình. Ngài nổi giận phừng phừng, Đốt họ cháy như rơm ra. Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước bèn dồn lại, Lượn sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng lại nơi rún biển. Quân nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp Ta sẽ chia phân của giặc; Tâm hồn ta sẽ thỏa nguyện nơi họ; Ta rút gươm ra, tay ta hủy diệt họ. Ngài đã thở hơi ra Biển vùi lấp quân nghịch lại; Họ bị chìm như cục chì Nơi đáy nước sâu. Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài. Đáng sợ, đáng khen Hay làm các phép lạ? Ngài đã đưa tay hữu ra, Đất đã nuốt chúng nó. Ngài lấy lòng thương xót dìu dắt dân nầy mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng năng lực đưa nó Về nơi ở thánh của Ngài. Các dân tộc nghe biết việc nầy đều run sợ, cơn kinh hãi áp-hãm dân xứ Pha-lê-tin. Các quan trưởng xứ Ê-đôm bèn lấy làm bối rối; Mấy mặt anh hùng nơi Mô-áp đều kinh hồn; Cả dân Ca-na-an đều mất vía. Sự hoảng hốt kinh hãi giáng cho chúng nó; Hỡi Đức Giê-hô-va! vì quyền cao nơi cánh tay Ngài, Chúng nó đều bị câm như đá, Cho đến chừng nào dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi. Hỡi Đức Giê-hô-va! Ngài đưa dân ấy vào, và lập nơi núi cơ nghiệp Ngài, Tức là chốn Ngài đã sắm sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi Chúa! là đền thánh mà tay Ngài đã lập. Đức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp kiếp. (Xu 15:1-18)

Bài ca Môi-se là bài ca nói tới chiến thắng và sự giải cứu dành cho người công bình, và đồng thời nói tới sự phán xét và cơn thạnh nộ giáng trên các kẻ thù của Đức Chúa Trời. Các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, nhóm lại trong đắc thắng ở một nơi an toàn và an ninh, sẽ hát vang chính bài ca giải cứu được hát lên từ lâu bởi dân Israel.

Ngoài việc ca hát một lần nữa với ý nghĩa mới của bài ca Môi-se, là người đã lãnh đạo dân Israel trong sự cứu chuộc ra khỏi xứ Ai-cập, các thánh đồ được chuộc trước ngai của Đức Chúa Trời cũng sẽ hát lên bài ca Chiên Con, Ngài là Đấng Cứu Chuộc đời đời của họ. Bài ca đó trước tiên đã được nghe thấy ở 5:8-14:

Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh. Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất. Đoạn, tôi nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn, đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen! Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời! Rồi bốn con sanh vật đều nói: A-men. Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy.

Giống như bài ca Môi-se, bài ca Chiên Con tỏ ra các lẽ đạo nói tới sự thành tín, sự giải cứu của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài, và sự phán xét các kẻ thù nghịch Ngài. Nhà giải kinh John Phillips so sánh và đối chiếu hai bài ca như sau:

Bài ca Môi-se được hát lên ở Biển Đỏ, bài ca Chiên Con được hát ở biển pha lê; bài ca Môi-se là một bài ca đắc thắng đối với Ai-cập, bài ca Chiên Con là một bài ca thắng hơn Ba-by-lôn; bài ca Môi-se mô tả thể nào Đức Chúa Trời đã đem dân sự Ngài ra, bài ca Chiên Con thuật lại thể nào Đức Chúa Trời đưa dân sự của Ngài vào; bài ca Môi-se là bài ca đầu tiên trong Kinh thánh, bài ca Chiên Con Chim là bài ca cuối cùng. Bài ca Môi-se tưởng niệm hành động của kẻ thù, sự mong đợi của các thánh đồ và sự cao trọng của Đức Giê-hô-va; bài ca Chiên Con xử lý với ba chủ đề tương tự. (Exploring Revelation, Rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N.J.: Loizeaux, 1991], 187)

Lời lẽ của bài ca được ghi lại ở đây không khớp chính xác với bài ca Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô ký 15, hoặc bài ca Chiên Con ở Khải huyền 5. Nhưng các lẽ đạo và nhiều thuật ngữ chính thì tương tự nhau. Bài ca này thêm vào một số khổ thơ mới cho bài ca đắc thắng của những người được chuộc của Đức Chúa Trời, tuy nhiên, từng dòng chữ đều thấy có một sự vang dội trong Cựu Ước. Công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay là sự gợi nhớ đến Thi 139:14: “Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm“. Tước hiệu Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, tưởng niệm đến sự toàn năng của Đức Chúa Trời, chủ yếu nhắm đến quyền phép đắc thắng của những lần phán xét sau cùng, thường xuyên xuất hiện trong sách Khải huyền (đối chiếu 1:8; 4:8; 11:17; 16:7, 14; 19:6, 15; 21:22), và tước hiệu “Đức Chúa Trời Toàn Năng” là danh xưng bởi đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài ra với Áp-ra-ham (Sa 17:1; đối chiếu Sa 35:11; 48:3; Xu 6:3). Lối xưng hô “đường lối Ngài là công bình và chân thật!” phản ảnh lẽ thật trong Cựu Ước cho rằng: “mọi công việc Ngài đều chân thật, các đường lối Ngài đều công bình” (Da 4:37; đối chiếu Phu 32:4; Os 14:9). Đức Chúa Trời được gọi là Vua các nước trong Gie 10:7. Cụm từ ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? cũng được trích từ Gie 10:7 (đối chiếu Thi thiên 86:9). Sự thật cho thấy một mình Ngài là thánh là một lẽ đạo thường được lặp đi lặp lại trong Cựu Ước (đối chiếu ISa 2:2; Thi 22:3; 99:5, 9; 111:9; Es 6:3; 57:15; Ha 1:12). Cụm từ mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài trích dẫn Thi 86:9 (đối chiếu Gie 10:7), trong khi cụm từ vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra vang dội các phân đoạn như thế trong Cựu Ước, tỉ như Cac 5:11; ISa 12:7; Thi 103:6; Da 9:16; và Mi 6:5.

Bài ca của các thánh đồ được chuộc này đã tôn vinh bổn tánh của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và Quan Án toàn năng, bất biến, tễ trị, trọn vẹn và công bình. Vì Ngài là mọi sự ấy, Đức Chúa Trời đã và sẽ xét đoán hạng tội nhân; nếu Ngài bỏ qua tội lỗi của họ, thì Ngài sẽ không còn là thánh, công bình và chân thật đối với bản tánh của Ngài nữa. Tiên tri Ha-ba-cúc, thưa với Đức Chúa Trời đã nói theo cách như sau: “Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược” (Ha 1:13). Giop 8:3 thắc mắc: “Đức Chúa Trời há thiên đoán ư? Đấng toàn năng há trái phép công bình sao?” Thi 19:9 đáp: “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả”.

Bài ca kết thúc với sự lường trước đầy vui mừng về đời trị vì ngàn năm của Đấng Christ, khi mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài. Tác giả Thi thiên: “Cả trái đất sẽ thờ lạy Chúa, và hát ngợi khen Ngài; chúng sẽ ca tụng danh Chúa“ (Thi 66:4). Trong lời lẽ của tác giả Thi thiên: “Cả trái đất sẽ thờ lạy Chúa, và hát ngợi khen Ngài; Chúng sẽ ca tụng danh Chúa” (Thi 66:4). Trong vương quốc thiên hi niên trên đất: “Xảy ra hết thảy những kẻ nào còn sót lại trong mọi nước lên đánh Giê-ru-sa-lem, sẽ lên đó hàng năm đặng thờ lạy trước mặt Vua, là Đức Giê-hô-va vạn quân, và giữ lễ lều tạm” (Xa 14:16). Sau các sự đoán xét công bình của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong suốt Kỳ Đại Nạn, thì giờ mà Ê-sai đã lường trước sẽ đến: “Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta“ (Es 66:23). Thời điểm đó sẽ đánh dấu chặng đường ứng nghiệm đầu tiên Phi 2:10-11: “hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha”.

CHƯƠNG TRÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Rồi đó, tôi nhìn xem, thấy trên trời có nơi thánh của đền tạm chứng cớ mở ra. Bảy vị thiên sứ cầm bảy tai nạn từ đền thờ đi ra, mặc áo gai trong sạch rực rỡ, và ngang ngực thắt đai vàng. Một con trong bốn con sanh vật ban cho bảy vị thiên sứ bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời, là Đấng hằng sống đời đời. Đền thờ bèn đầy những khói, vì cớ sự vinh hiển và oai quyền của Đức Chúa Trời; chẳng ai được vào đền thờ cho đến chừng nào bảy tai nạn của bảy thiên sứ được làm trọn. (15:5-8)

Từng vận động viên thuộc hàng thiên sứ trong tấn thảm kịch vừa mở ra này sẽ hoàn thành nhiệm vụ được giao theo chương trình của Đức Chúa Trời. Mục đích của Đức Chúa Trời luôn luôn là xét đoán hạng tội nhân tiêu diệt tội lỗi. Ngọn “lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó” (Ma-thi-ơ 25:41) và chờ đợi những người mà một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ kết án trừng phạt đời đời ở đó. Các thiên sứ thánh của Đức Chúa Trời đang chờ đợi thì giờ khi họ sẽ đóng vai trò của họ trong sự phán xét của Đức Chúa Trời về tội lỗi (đối chiếu Mat 13:41-42, 49-50). Ở đây, trong một sự mặc thị mới, họ được trao cho loại công cụ hành quyết.

Như trong cả sách Khải huyền (đối chiếu 4:1; 6:2, 5, 8; 7:9; 14:1, 14; 19:11), cụm từ rồi đó, tôi nhìn xem giới thiệu một sự mặc thị mới đáng kinh ngạc. Có một thứ thu hút sự chú ý của Giăng từ các thánh đồ được chuộc, họ đang hát lên những lời ngợi khen của họ trước ngai vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự mặc thị mới này đã cho ông thấy những sự phán xét bằng cái bát (16:1-21), nhưng trước tiên Giăng nhìn thấy các thiên sứ, họ sẽ bày ra các sự phán xét đó. Khi ông nhìn xem, nơi thánh của đền tạm chứng cớ mở ra. Vị sứ đồ đã nhìn thấy một bối cảnh tương tự trong sự mặc thị trước đó, dự kiến việc ​​mở ra này, khi “Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn” (11:19). Naos (đền thờ) là Nơi Chí Thánh, nơi thánh bên trong chỗ sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự trị, nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là nguồn của các tai nạn. Đền tạm đôi khi được đề cập đến là đền tạm chứng cớ (Xu 38:21; Dan 1:50, 53; 10:11; Cong 7:44) vì thứ quan quan trọng nhất trong đó là hòm giao ước, đôi khi được gọi là hòm bảng chứng (Xu 25:22; 26:33-34; 30:6; Le 16:13; Dan 4:5; 7:89; Gios 4:16). Hòm ấy được đặt tên như thế bởi vì nó chứa chứng cớ, hai tấm bảng đá trên đó Đức Chúa Trời đã ghi ra 10 Điều Răn (Xu 25:16,21; 40:20; đối chiếu Thi 78:5).

Trong sự mặc thị trước đó, căn phòng có ngai của Đức Chúa Trời đã được mở ra để người trung tín có thể nhìn vào trong (4:1…). Trong sự mặc thị nầy, đền tạm trên đất chỉ là bản sao (He 8:2, 5) của đền tạm trên trời, được mở ra để bày tỏ sự phán xét nghiệt ngã nhất trên đất giáng trên kẻ bất trung. Khi Giăng quan sát, bảy vị thiên sứ cầm bảy tai nạn từ đền thờ đi ra. Thì giờ đã đến trong chương trình đã định của Đức Chúa Trời về 7 tai nạn, tiêu biểu cho những lần phán xét sau cùng, gây chết chóc, được đổ ra trên thế gian (đối chiếu He 10:31). Bảy thiên sứ sẽ thực thi chương trình đó. Họ mặc áo gai trong sạch rực rỡ, là thứ vải tiêu biểu cho sự thánh khiết và trinh khiết của họ (xem bàn luận 19:14 trong chương 15 của tập sách này, đối chiếu Cong 10:30). Là các thiên sứ vinh hiển, thánh khiết và oai nghi thể ấy, các thiên sứ ngang ngực thắt đai vàng, chạy qua thân từ vai xuống đến hông.

Sau khi long trọng tiến ra từ nơi thánh bên trong đền thờ trên trời của Đức Chúa Trời, bảy vị thiên sứ tiếp nhận các phương tiện bởi đó họ sẽ đưa ra sự phán xét của Đức Chúa Trời. Một con trong bốn con sanh vật (chê-ru-bin; một đẳng cấp cao trong hàng thiên sứ; 4:6, 8-9; 5:6, 8, 11, 14; 6:1, 6; 7:11; 14:3; 19:4; Exe 1:4-25; 10:15; đối chiếu ISa 4:4; IISa 6:2; 22:11; Thi 80:1; 99:1; Es 37:16) ban cho bảy vị thiên sứ bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời, là Đấng hằng sống đời đời. Phialas (bát) đề cập đến là loại đĩa nông. Hình ảnh không phải là hình ảnh nói tới dòng sông chảy ra từ cái bình, song toàn bộ nội dung của đĩa nông kia đang bị trút xuống trong một trận lụt phán xét ngắn. Bát là một phần trang thiết bị của đền thờ (IVua 7:50; IIVua 12:13; 25:15; ISu 28:17; Xa 14:20) và có liên quan đến các của lễ (Xu 27:3; 38:3). Người nào từ chối uống chén cứu rỗi đó (Thi 116:13) sẽ bị dìm chết trong các sự phán xét đổ ra từ những cái bát thạnh nộ. Vì Đức Chúa Trời hằng sống đời đời, Ngài có quyền đặt dấu chấm hết cho tội lỗi, hầu cho nó không thể tồn tại mãi mãi trong sự hiện diện thánh khiết của Ngài.

Từ trong đền thờ trên trời đi ra không những là các thiên sứ thôi, mà còn có khói tiêu biểu cho cho sự vinh hiển và quyền phép của Ngài nữa. Khói, dấu hiệu của sự oai nghi (Xu 19:16-18), cũng tiêu biểu cho sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời trong Đền Tạm hay Đền Thờ thời Cựu Ước (Xu 40:34-35; IVua 8:10-11; Es 6:1-4). Khói này cũng tiêu biểu cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì vậy chẳng ai được vào đền thờ cho đến chừng nào bảy tai nạn của bảy thiên sứ được làm trọn. Đám mây vinh hiển vẫn còn ở trong đền thờ trên trời cho đến khi đất đã được thanh lọc, được làm sạch và chuẩn bị hoàn toàn cho Nhà Vua và vương quốc của Ngài.

Bối cảnh được mô tả trong chương này thiết lập nền tảng cho các sự phán xét kiên quyết sau cùng, được đổ ra trong chương 16. Một khi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã đổ ra trên Đức Chúa Jêsus Christ vì những gì Ngài đã làm cho hạng tội nhân; trong tương lai, cơn thạnh nộ sẽ được đổ ra trên hạng tội nhân vì cớ những gì họ đã làm cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sự thực là “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (IIPhi 3:9), và thậm chí trong cơn thạnh nộ của Ngài, Ngài sẽ nhớ lại lòng thương xót (đối chiếu Ha 3:2). Tuy nhiên, lòng thương xót bị từ chối đem lại sự phán xét. Vào thời điểm Đức Chúa Trời đổ ra bảy cái bát thạnh nộ sau cùng của Ngài trên đất, hạng tội nhân sẽ bị cảnh cáo nhiều lần để ăn năn. Họ sẽ kinh nghiệm nhiều sự phán xét đáng kinh sợ, đến nỗi họ sẽ công nhận mọi sự ấy đều đến từ Đức Chúa Trời (6:16-17). Họ sẽ nghe giảng sứ điệp cứu rỗi của đạo Tin lành được rao ra bởi 144.000 giáo sĩ người Do-thái, hai người làm chứng, nhiều người dân Ngoại và Do-thái đã được chuộc khác nữa, thậm chí một thiên sứ bay giữa trời nữa. Thế mà thê thảm thay, họ vẫn cứng lòng rồi sa vào tai hoạ (Ch 28:14). Họ sẽ trả một giá rất đáng sợ vì thất bại không nghe theo lời cảnh cáo của Kinh Thánh: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (He 3:15; 4:7).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme