Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

12 – Sự Hủy Diệt Tôn Giáo Sau Cùng Cấp Thế Giới (Kh 17:1-18)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia. Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. Tôi được Thánh Linh cảm động thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng. Người đàn bà ấy mặc màu tía mà điều, trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu; tay cầm một cái chén vàng đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. Trên trán nó có ghi một tên, là: Sự Mầu nhiệm, Ba-By-Lôn Lớn, Là Mẹ Kẻ Tà Dâm Và Sự Đáng Gớm Ghê Trong Thế Gian. Tôi thấy người đàn bà đó say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus; tôi thấy mà lấy làm lạ lắm. Thiên sứ bảo tôi rằng: sao người lấy làm lạ? Ta sẽ cắt nghĩa cho ngươi sự mầu nhiệm của người đàn bà cùng của con thú chở nó, là con thú có bảy đầu và mười sừng. Con thú ngươi đã thấy, trước có, mà bây giờ không còn nữa; nó sẽ từ dưới vực lên và đi đến, chốn hư mất; những dân sự trên đất, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống từ khi sáng thế, thấy con thú thì đều lấy làm lạ, vì nó trước có, nay không có nữa, mà sau sẽ hiện đến. Đây là sự nghĩ ngợi có khôn ngoan. Bảy cái đầu tức là bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên. Nó cũng là bảy vì vua nữa; năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến; khi vì ấy sẽ đến, cũng chẳng còn được bao lâu. Chính con thú trước đã có nay không có nữa, là vì vua thứ tám; nó cũng ở trong số bảy, và nó sẽ đi đến chỗ hư mất. Vả, mười cái sừng mà ngươi đã thấy, là mười vì vua chưa nhận được nước mình; nhưng họ nhận quyền vua với con thú trong một giờ. Chúng cũng một lòng một ý trao thế lực quyền phép mình cho con thú. Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua; và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con, cũng thắng được chúng nữa. Đoạn, thiên sứ lại nói với tôi rằng: Những dòng nước ngươi đã thấy, trên có dâm phụ ngồi, tức là các dân tộc, các chúng, các nước và các tiếng. Mười cái sừng ngươi đã thấy, và chính mình con thú sẽ ghét dâm phụ, sẽ bóc lột cho nó lõa lồ, ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa. Bởi Đức Chúa Trời đã để cho chúng có lòng vâng làm theo ý muốn Ngài cùng khiến chúng có chung một ý, và ban nước mình cho con thú, đến khi những lời Đức Chúa Trời phán được ứng nghiệm. Người đàn bà ngươi đã thấy, tức là cái thành lớn hành quyền trên các vua ở thế gian (17:1-18).

Có một yếu tố nhất định rất thực trong câu nói của Karl Marx thường được trưng dẫn, cho rằng tôn giáo là “thuốc phiện của con người”. Người ta sống triền miên trong tôn giáo, bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên họ để trở thành hạng người chuyên thờ phượng. Không thể tránh được chỗ họ sẽ thờ lạy ai đó hoặc cái gì đó, nếu không phải là Đức Chúa Trời chơn thật, khi ấy là đủ thứ tà thần mà chính họ tạo ra. Con người được tạo ra với một khoảng trống do Đức Chúa Trời nắn nên, thế nên họ thường tìm cách để lấp đầy.

Kể từ Sự Sa Ngã, ao ước bẩm sinh của con người muốn nhìn biết Đức Chúa Trời đã bị vặn cong và sai lệch. Người ta vẫn tìm kiếm cái gì đó để thờ lạy song không còn tìm kiếm Đức Chúa Trời chơn thật nữa. Thực vậy: “Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời“ (Ro 3:11), bởi vì, như Chúa Jêsus đã tuyên bố: “Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta“ (Gi 6:44). Buồn thay, nhu cầu của con người về mối quan hệ với Đức Chúa Trời đã bị băng hoại bởi lòng yêu mến tội lỗi của con người. Phao-lô đã viết trong Ro 1:21 rằng “vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm“.

Sa-tan bước vào khoảng trống thuộc linh của con người, “cha của sự nói dối” (Gi 8:44) và các quỉ sứ hắn, giả mạo làm thiên sứ sáng láng (IICo 11:14-15) và truyền bá “đạo lý của quỉ dữ” (ITi 4:1). Đùa giỡn chỗ cong vạy tôn giáo của con người, chúng kích hoạt sự lừa đảo về mặt tôn giáo. Bề ngoài quyền lực của tôn giáo giả đến từ lời hứa của nó làm thỏa mãn khát vọng của con người về lãnh vực thuộc linh mà không đưa họ đến ở dưới uy quyền của Đức Chúa Trời. Trong cuộc nổi loạn của chúng chống lại Đức Chúa Trời chơn thật, và vì cớ lòng yêu mến tội lỗi, hạng người sa ngã bằng lòng hướng tới các thứ tôn giáo nguy hiểm của Sa-tan. Nhưng mặc dù con người không còn tìm kiếm Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời vẫn thương xót, nhân từ, và kỳ diệu thay, Ngài tìm kiếm con người. Thật vậy, chính là “tìm và cứu kẻ bị mất” (Lu 19:10) mà Chúa Jêsus đã đến trong thế gian.

Vì tôn giáo giả là một phần của thế giới sa ngã này nên không có gì phải ngạc nhiên khi thấy nó sẽ đóng một vai chính trong kỳ sau rốt. Trong suốt Kỳ Đại Nạn, tất cả các tôn giáo giả mạo của thế gian sẽ được thống nhất lại thành tôn giáo lớn cấp thế giới. Sự biểu hiện tối hậu của tôn giáo giả sẽ là một yếu tố cơ bản trong đế quốc sau cùng cấp thế giới của Anti-christ, hội tụ nhau trong cấu trúc quân sự, kinh tế và chính trị của hắn ta. Chỉ có tôn giáo mới có thể thống nhất thế giới theo cách hấp dẫn nhất. Chính trị, kinh tế, thậm chí thế lực quân sự cũng không thể thắng hơn sự đa dạng văn hoá của thế giới. Chỉ có tôn giáo, với sự hấp dẫn của nó về mặt siêu nhiên, có thể thắng hơn các trở ngại về thuộc thể, địa lý, lịch sử, kinh tế và văn hoá đối với sự thống nhất thế giới. Chương 17 tỏ ra bản chất thuộc linh của vương quốc Anti-christ; chương 18 theo sau với các khía cạnh vật chất của nó. Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt cả hai mặt của vương quốc Anti-christ.

Các chương 17 và 18 được đưa vào dòng chảy theo thời gian của sách Khải huyền, tiếp tục trong chương 19. Việc đổ ra cái bát thứ bảy (16:17) thực sự được theo sau đúng thời điểm sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ để kết thúc trận chiến lớn lao cấp thế giới (19:11). Các chương 17 và 18 đi lệch ra không nhắm vào các sự phán xét đặc biệt của Đức Chúa Trời, nhưng nhắm vào những điều đang bị xét đoán. Hai chương này quay lại mô tả hệ thống thế gian do Sa-tan, Anti-christ, và các tiên tri giả lãnh đạo, trước khi ghi lại sự hủy diệt nó. Giăng đã nghe thấy rồi các điềm báo hiệu về sự hủy diệt Ba-by-lôn (14:8; 16:19); bây giờ các chi tiết của sự hủy diệt đó sẽ được đưa ra trong các sự mặc thị đáng nhớ này.

Trong suốt Kỳ Đại Nạn, người sẽ tìm kiếm tôn giáo trong thất vọng vì cớ những gì sắp xảy ra trong thế gian. Giống như các cú nện bằng búa sự phán xét của Đức Chúa Trời (những sự phán xét qua cái ấn, tiếng loa, và cái bát) tàn phá đất và gây khủng khiếp cho cư dân nó, người ta sẽ chạy ùa đến Anti-christ là cứu tinh của họ trong sự thất vọng. Được vùa giúp bởi tiên tri giả cùng bầy ma quỉ dối gạt, Anti-christ sẽ thiết lập một thứ tôn giáo khắp thế gian: “BA-BY-LÔN LỚN, LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN”. Làm sao Ba-by-lôn tôn giáo trong tương lai lại là mẹ của các tôn giáo giả chứ? Để hiểu rõ tôn giáo giả Ba-by-lôn của tương lai đòi hỏi một sự hiểu biết về vai trò của Ba-by-lôn trong tôn giáo giả của quá khứ.

Câu chuyện nói tới Ba-by-lôn khởi sự với Tháp Ba-bên, được ghi lại trong Sa 11:1-9:

Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó. Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất. Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia. Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.

Sau khi hành trình qua Đông phương sau Nạn Lụt, dòng dõi của Nô-ê đã đến tại bối cảnh Ba-by-lôn (“xứ Si-nê-a”). Nỗ lực lớn lao đầu tiên của con người trong lịch sử, họ quyết định xây một công trình kiến trúc lớn cho chính họ, “để tạo cho họ một danh”. Những hành động loạn nghịch nầy chống lại Đức Chúa Trời cũng có nhiều hàm ý về tôn giáo. Những cái tháp bằng gạch, giống như cái tháp họ đã xây (được biết giống như các kim tự tháp), về sau được sử dụng trong các tôn giáo giả. Kim tự tháp có trên đỉnh của nó con dấu hoàng đạo, con dấu này được sử dụng bởi các thầy tế lễ tà giáo lập biểu đồ cho các ngôi sao. Qua phần quan sát của họ về các ngôi sao, những thầy tế lễ đã kiếm được sự soi sáng về tâm linh và sự hiểu biết về cuộc tương lai.

Sự loạn nghịch trắng trợn, chống đối Đức Chúa Trời là điều đáng kinh ngạc nơi phần của những kẻ mà đối với họ Nạn Lụt là một biến cố mới đây. Thực vậy, Nim-rốt, người lãnh đạo đương nhiên của câu chuyện, là cháu nội của Nô-ê. Sáng thế ký mô tả ông ta như một “tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va” (10:9), và lưu ý rằng “Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a. Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách, và thành Rê-sen, là thành rất lớn, ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve và Ca-lách“ (Sa 10:10-12). Nhà lãnh đạo ngạo mạn, kiêu căng này (tên của ông ta có thể được rút ra từ một động từ Hy-bá-lai có nghĩa là “nổi loạn”) đã lường trước Anti-christ sau cùng.

Về sự xét đoán, Đức Chúa Trời đã tan rải những kẻ nổi loạn ra khỏi Ba-bên (Sa 11:8), và họ đã đem tôn giáo giả của họ đi khắp thế giới. Bất chấp sự tan rải đó, Ba-by-lôn vẫn là một trung tâm thờ lạy hình tượng giả dối. Tại một thời điểm trong lịch sử ô nhục của thành phố, nó đã không có dưới 180 đền thờ dành cho nữ thần Ishtar (Charles L. Feinberg, “Jeremiah” in The Expositor’s Bible Commentary, Frank E. Gaebelein, ed., [Grand Rapids: Zondervan,1986],6:643).

Thậm chí một số người Do-thái đã bị bắt trong một buổi thờ lạy hình tượng thần Ishtar, một trong những tước hiệu của thần nầy là “Nữ vương trên trời”. Giê-rê-mi đã quở trách dân sót Do-thái đã trốn sang Ai-cập vì sự thờ lạy hình tượng dẫn đến sự sụp đổ của họ. Tuy nhiên, thay vì ăn năn, họ vẫn cứ chống đối:

“Bấy giờ, hết thảy những người biết vợ mình đốt hương cho các thần khác, hết thảy đàn bà đứng tại đó nhóm thành một hội đông, tức mọi dân sự ở trong đất Ê-díp-tô, tại Pha-trốt, đáp cùng Giê-rê-mi rằng: Về sự ông nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói cùng chúng tôi, thì chúng tôi không khứng nghe đâu. Nhưng chúng ta chắc sẽ làm trọn mọi lời đã ra từ miệng chúng tôi, sẽ đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, như chúng tôi cùng tổ phụ, vua, quan trưởng chúng tôi đã làm trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem; vì lúc bấy giờ chúng tôi có bánh đặng no mình, hưởng phước, chẳng thấy tai vạ gì. Nhưng, từ khi chúng tôi thôi đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, thì chúng tôi thiếu thốn mọi sự, và bị nuốt bởi gươm dao đói kém. Vả lại, khi chúng tôi đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, chúng tôi làm bánh để thờ lạy người, và dâng lễ quán cho người nữa, thì chồng chúng tôi há chẳng biết hay sao?” (Gie 44:15-19)

Đức Chúa Trời, qua Giê-rê-mi, đã công bố sự phán xét giáng trên những người Do-thái vì sự trung thành ngoan cố ngang ngạnh của họ đối với sự thờ lạy hình tượng Ishtar:

“Giê-rê-mi bèn nói cùng cả dân sự, đàn ông, đàn bà, và mọi kẻ đã trả lời cho người như vậy, rằng: Các ngươi cùng tổ phụ, các vua các quan trưởng mình, và dân trong đất, đã đốt hương trong các thành Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-hô-va há chẳng đã nhớ lấy và đã ghi trong ý tưởng Ngài sao? Vì cớ sự hung ác của việc làm các ngươi và sự gớm ghiếc các ngươi đã phạm, nên Đức Giê-hô-va không chịu được nữa. Vì vậy đất các ngươi đã trở nên hoang vu, gở lạ, và sự rủa sả, chẳng có ai ở, như có ngày nay. Ấy là bởi các ngươi đã đốt hương và đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va, bởi các ngươi chẳng vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va, và không bước theo luật pháp, mạng lịnh, và sự dạy dỗ của Ngài, nên tai vạ nầy đã đến cho các ngươi, như có ngày nay. Giê-rê-mi lại nói cùng dân sự và mọi người đàn bà rằng: Hỡi cả dân Giu-đa hiện ở trong đất Ê-díp-tô, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi và vợ các ngươi đã nói ra từ miệng mình, và lấy tay làm trọn điều mình đã nói rằng: Thật chúng ta sẽ làm thành lời mình đã khấn nguyện, đốt hương, và làm lễ quán cho nữ vương trên trời. Vậy các ngươi khá giữ vững lời nguyện mình và làm trọn lời nguyện. Cho nên, hỡi cả dân Giu-đa hiện ở trong đất Ê-díp-tô, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va có phán: Nầy ta lấy danh lớn mình mà thề, trong khắp đất Ê-díp-tô sẽ chẳng có một người Giu-đa nào còn mở miệng xưng danh ta nữa, mà rằng: Thật như Chúa Giê-hô-va hằng sống! Nầy, ta sẽ tỉnh thức đặng xuống họa cho chúng nó mà không xuống phước; mọi người Giu-đa ở trong đất Ê-díp-tô sẽ đều bị vồ nuốt bởi gươm dao đói kém cho đến đã diệt hết” (Gie 44:20-27)

Ê-xê-chi-ên cũng đề cập đến sự thờ lạy Ishtar and Tham-mu: “Ngài dẫn ta đến lối vào cửa nhà Đức Giê-hô-va, cửa ấy về phía bắc; nầy, tại đó ta thấy những đàn bà ngồi mà khóc Tham-mu” (Exe 8:14).

Như vậy, xuyên suốt lịch sử, Ba-by-lôn là một trung tâm quan trọng của tôn giáo giả. Trong các thời kỳ sau rốt, tôn giáo giả sẽ trở lại chỗ mà nó đã bắt đầu. Ma quỉ là kẻ dối gạt người ta tại Ba-bên, và từ đó mở ra tôn giáo giả trên đất, sẽ dối gạt thế gian một lần nữa.

Tôn giáo sau cùng cấp thế giới, được mô tả là đại dâm phụ, là lẽ đạo của sự mặc thị nầy, ghi lại sự vạch trần đại dâm phụ, sự giải thích về đại dâm phụ, và sự huỷ diệt đại dâm phụ.

SỰ VẠCH TRẦN ĐẠI DÂM PHỤ

“Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia. Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. Tôi được Thánh Linh cảm động thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng. Người đàn bà ấy mặc màu tía mà điều, trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu; tay cầm một cái chén vàng đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. Trên trán nó có ghi một tên, là: Sự Mầu nhiệm, Ba-By-Lôn Lớn, Là Mẹ Kẻ Tà Dâm Và Sự Đáng Gớm Ghê Trong Thế Gian. Tôi thấy người đàn bà đó say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus; tôi thấy mà lấy làm lạ lắm … Đoạn, thiên sứ lại nói với tôi rằng: Những dòng nước ngươi đã thấy, trên có dâm phụ ngồi, tức là các dân tộc, các chúng, các nước và các tiếng” (17:1-6,15)

Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với Giăng kết nối sự phán xét đại dâm phụ với bảy tai nạn sau cùng (16:1-21). Như đã đề cập ở trên, thời gian xen giữa các chương 17 và 18 là bối cảnh chuyển từ các sự phán xét của Đức Chúa Trời sang vương quốc cấp thế giới của Anti-christ, là mục tiêu của những sự phán xét đó. Đại dâm phụ sẽ bị phán xét sẽ không phải là một gái điếm thực sự đâu. Thuật ngữ dâm phụ là ẩn dụ nói tới tôn giáo giả mạo, bội đạo về mặt thuộc linh, thờ lạy hình tượng và bội đạo về mặt tôn giáo. Ngoài Ba-by-lôn, một vài thành phố trong Kinh thánh bị coi là các thành phố tà dâm vì cớ sự thờ lạy hình tượng của họ và theo đuổi thứ tôn giáo sai lầm. Ni-ni-ve (Na 3:1, 4), Ty-tơ (Es 23:15-17), và thật đáng buồn, Giê-ru-sa-lem (Es 1:21) là những thí dụ về các thành phố phạm vào sự tà dâm thuộc linh.

Sự mặc thị của Giăng phơi bày một số khía cạnh của thành phố tà dâm Ba-by-lôn: quyền lực, liên minh, trang phục, sự gớm ghiếc, và lời cáo buộc của nó.

QUYỀN LỰC CỦA ĐẠI DÂM PHỤ

nó ngồi trên các dòng nước lớn kia … Đoạn, thiên sứ lại nói với tôi rằng: Những dòng nước ngươi đã thấy, trên có dâm phụ ngồi, tức là các dân tộc, các chúng, các nước và các tiếng. (17:1b,15)

Đại dâm phụ trong sự mặc thị của Giăng ngồi ở một địa vị uy quyền và cai trị như một vị vua trên ngai vàng trên hoặc bên cạnh nhiều dòng nước. Các thành phố trong thời cổ đại thường định vị gần một nguồn nước, hoặc là biển, sông, hồ, hoặc dòng suối. Điều nầy là thực đối với Ba-by-lôn, định vị trên dòng sông Ơ-phơ-rát. Gie 51:13 nói tới Ba-by-lôn cổ là “ở trên nhiều dòng nước kia”, chính cụm từ được dùng trong phân đoạn này cho bản sao tương lai của nó. Giống như thủ phủ đầy tự hào của đế quốc Ba-by-lôn có chỗ ngồi của nó bên cạnh “nhiều dòng nước”, cũng một thể ấy thành phố tà dâm Ba-by-lôn trong tương lai.

Tuy nhiên, cụm từ nhiều dòng nước không đề cập đến vị trí địa lý của đại dâm phụ. Thay vì thế, như thiên sứ giải thích cho Giăng ở câu 15: “Những dòng nước ngươi đã thấy, trên có dâm phụ ngồi, tức là các dân tộc, các chúng, các nước và các tiếng”. Sự ẩn dụ là một việc rất thích đáng, vì thành phố nằm ở vị trí lãnh đạo trên đường thủy lộ quan trọng sẽ có ảnh hưởng rất lớn. Đại dâm phụ không những là có ảnh hưởng, mà còn thống trị tất cả các dân tộc và các chúng, các nước và các thứ tiếng chưa được chuộc của đất, (đối chiếu các cụm từ tương tự ở 5:9; 7:9; 11:9; 13:7; 14:6). Uy quyền của đại dâm phụ rất là bao quát; cả thế gian sẽ phục theo sự thờ phượng giả dối của hệ thống Ba-by-lôn, thay vì là Đức Chúa Trời chơn thật.

LIÊN MINH CỦA ĐẠI DÂM PHỤ

Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. Tôi được Thánh Linh cảm động thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng. (17:2-3)

Sự hội hiệp của ả với các vua trong thiên hạ cho thấy phạm vi ảnh hưởng của ả sẽ rất to lớn. Những người đó với cấp độ cao nhất của quyền lực và ảnh hưởng sẽ phạm tội tà dâm với ả. Cụm từ phạm tội tà dâm dịch một hình thức của động từ Hy-lạp porneu¯o (“phạm tội phi luân về tình dục”). Cụm từ nầy mô tả thích đáng sự hổ tương của đại dâm phụ với các vua trong thiên hạ. Biểu tượng về sự tà dâm thuộc linh, được sử dụng trong Cựu Ước để mô tả tình trạng bội đạo của Israel đối với Đức Giê-hô-va (đối chiếu Ê-xê-chi-ên 16, 23) là không phù hợp ở đây. Bậc cầm quyền không được chuộc và các nước mà họ đại diện không nhìn biết Đức Chúa Trời và không được phác hoạ là vợ của Ngài.

Bậc cầm quyền từ khắp thế giới sẽ bị ám ảnh với đại dâm phụ Ba-by-lôn. Bị lừa dối bởi tiên tri giả, Anti-christ, Satan và các quỉ sứ hắn, họ sẽ bị mê hoặc với tôn giáo giả cấp thế giới. “Hết thảy những dân sự trên đất đều thờ lạy nó [Anti-christ], là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (13:8). Nhưng sau khi hội hiệp với ả đại dâm phụ, về mặt kinh tế, về mặt xã hội, về mặt quân sự, về mặt chính trị và về mặt tôn giáo, họ sẽ chia sẻ cùng số phận thảm khốc của ả.

Đại dâm phụ không những liên kết với các vua cùng hạng người có ảnh hưởng trên thế giới. Hết thảy dân sự trong thế gian (thuật ngữ nói tới những kẻ không tin Chúa; đối chiếu câu 8; 3:10; 6:10; 8:13; 11:10; 13:8, 12, 14; 14:6) cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. Hết thảy những kẻ không được chuộc sẽ bị cuốn vào thứ tôn giáo giả sau cùng; họ sẽ dâng lòng và linh hồn của họ cho đại dâm phụ gớm ghiếc Ba-by-lôn. Thiên sứ không mô tả những kẻ say sưa về phần xác với rượu đã phạm tội tà dâm với một gái mại dâm đích thực, mặc dù điều đó có thể xảy ra. Thay vì thế, Ngài đang nói tới những kẻ say sưa với thứ tôn giáo giả cấp thế giới của Anti-christ. Hình ảnh rút ra từ Gie 51:7, ở đây nói tới Ba-by-lôn xưa kia: “Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng”.

Trước khi liên minh kế đó của đại dâm phụ được chỉ ra, bối cảnh sự mặc thị của Giăng thay đổi. Vị thiên sứ mà Giăng đã trao đổi với đưa ông đi trong Thánh Linh vào nơi đồng vắng (đối chiếu 1:10; 4:2; 21:10).

Đồng vắng dịch er¯emos, từ nầy mô tả một vùng hoang mạc hoang vắng như khu vực định vị Ba-by-lôn hiện đại. Trong chốn ấy Giăng nhìn thấy một người đàn bà — đại dâm phụ Ba-by-lôn mà vị thiên sứ vừa mô tả (các câu 1-2). Ả đang ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, phần mô tả hắn chỉ ra hắn là Anti-christ (đối chiếu 13:1, 4; 14: 9; 16:10). Người đàn bà đang ngồi trên con thú sắc đỏ sặm cho thấy rằng hắn ta đang hỗ trợ cho ả. Yếu tố thống nhất và kiểm soát lúc ban đầu của vương quốc Anti-christ sẽ là tôn giáo. Với các từng trời và đất bị tàn phá bởi các sự phán xét của Đức Chúa Trời, và sức mạnh chính trị, kinh tế, và quân sự của thế giới đang sụp đổ, người ta sẽ tuyệt vọng hướng tới chỗ siêu nhiên. Con thú và người đàn bà sẽ cùng tồn tại trong một thời gian ngắn; nghĩa là, tôn giáo sẽ bị tách ra khỏi vương quốc Anti-christ lúc ban đầu. Song cuối cùng “con thú sẽ ghét dâm phụ, sẽ bóc lột cho nó lõa lồ, ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa“ (câu 16). Vào thời điểm ấy, tiên tri giả sẽ làm cho cả thế giới phải thờ lạy Anti-christ (13:11-14), và mọi thứ sẽ là một trong sự cai trị phổ quát và toàn diện của con thú.

Đỏ sặm là màu sắc hiệp với sự sang trọng (IISa 1:24), nét rực rỡ và vương giả. Nó cũng là màu được kết hiệp với tội lỗi (Ê-sai 1:18) và là màu của máu. Anti-christ sẽ là một con thú lộng lẫy, vương giả, tội lỗi, và đẫm máu, mình mang đầy những tên sự phạm thượng (đối chiếu 13:1). Trong sự cai trị đầy kiêu căng, Anti-christ sẽ tự lấy cho mình những danh xưng và tước hiệu thuộc về Đức Chúa Trời. Không những hắn phạm thượng đối với Đức Chúa Trời bởi những gì hắn xưng nhận, mà còn bởi những gì hắn nói nữa. Anti-christ “sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, … nói những lời lạ lùng nghịch cùng Đức Chúa Trời của các thần” (Da 7:25; 11:36).

Con thú sắc đỏ sặm thuộc ma quỉ này được mô tả thêm là có bảy đầu và mười sừng, tỏ ra tầm cở các liên minh của nó. Như đã thấy trong phần bàn bạc các câu 9 và 10 dưới đây, bảy đầu là “bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên. Nó cũng là bảy vì vua nữa; năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến; khi vì ấy sẽ đến, cũng chẳng còn được bao lâu“ (các câu 9-10). Chúng tiêu biểu cho bảy hòn núi, bảy chính phủ trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Mười sừng tiêu biểu cho mười vị vua (câu 12), họ sẽ cai trị như phụ tá của Anti-christ (câu 13).

Các liên minh của đại dâm phụ sẽ bao hàm toàn diện. Vòng tay ôm chết chóc của ả sẽ bao gồm hết kẻ không được chuộc, từ các vị vua và bậc cầm quyền đến quần chúng phổ thông; hết thảy sẽ thờ lạy và phục theo tôn giáo của ả. Khi chưa được phân ra, Hội thánh và nhà nước sẽ được thống nhất như chưa từng có trong lịch sử loài người.

TRANG PHỤC CỦA ĐẠI DÂM PHỤ

Người đàn bà ấy mặc màu tía màu điều, trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu; (17:4a)

Hạng đĩ điếm thường ăn mặc để thu hút người ta chú ý đến họ, và về mặt hình bóng đại dâm phụ Ba-by-lôn sẽ chẳng khác gì trong việc nầy. Giăng đã thấy ả mặc màu tía màu điều, màu sắc vương giả, sang cả, cao quí và giàu có (đối chiếu Cac 8:26; Et 8:15; Ca 4:5; Exe 23:6; Da 5:7, 16, 29). Ả ấy trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu phác hoạ ả giống như một gái điếm có cả hai: xinh đẹp hấp dẫn (Ch 7:10) và đã làm cho nghề của ả thành công và trở nên cực kỳ giàu có.

SỰ GỚM GHIẾC CỦA ĐẠI DÂM PHỤ

tay cầm một cái chén vàng đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. Trên trán nó có ghi một tên, là: Sự Mầu nhiệm, BA-BY-LÔN LỚN, LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN. (17:4b-5)

Là hàm ý chỉ ra sự giàu có của ả, đại dâm phụ tay cầm một cái chén vàng. Giống như những cô gái điếm, họ muốn lấy mọi thứ mà nạn nhân của họ có, ả sẽ làm cho các nạn nhân của ả phải say xỉn, giống như Ba-by-lôn xưa kia: “Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng” (Gie 51:7). Cái chén vàng của đại dâm phụ đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. Bình luận về phần mô tả đó, Donald Gray Barnhouse đã viết:

Nói đến những thứ gớm ghiếc và bẩn thỉu từ cái chén vàng cũng là việc rất quan trọng: “Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng” (Gie 51:7). Đối với những ai quen biết với lịch sử của các tôn giáo cổ đại, tầm quan trọng nầy được nâng cao hơn bằng cách so sánh với các nghi thức bí nhiệm ngoại giáo. Một học giả người Pháp, Salverte, viết trong quyển The Occult Sciences, kể về việc uống rượu gắn với các nghi thức thuộc về ma quỉ này. Ông nói: “uống các thức uống bí ẩn là điều không thể thiếu nơi phần của những người tìm kiếm sự khởi đầu trong những bí nhiệm này. Những thức uống bí ẩn này bao gồm rượu, mật ong, nước, và bột, với nhiều thành phần khác được sử dụng tại địa phương. Từ bản chất của các thành phần được sử dụng tự nhiên, và từ bản chất của các thứ khác không được tiết lộ, nhưng chắc chắn được sử dụng, không có gì phải nghi ngờ, vì chúng có tính chất say; cho đến khi những người dùng chúng sự hiểu biết của họ bị mờ đi, và niềm đam mê của họ bị kích động bởi các chất thảo mộc, họ đã không chuẩn bị trước cho những gì họ nghe hoặc nhìn thấy” (Revelation: An Expository Commentary [Grand Rapids: Zondervan, 1971], 324)

Mọi hình thức thờ lạy hình tượng đều là gớm ghiếc đối với Đức Chúa Trời (đối chiếu IVua 14:22-24; IIVua 21:1-9; Exe 20:30-33), và sự thờ lạy thô bạo tôn giáo giả của Anti-christ sẽ là tồi tệ nhất hơn bao giờ hết. Không có gì phải ngạc nhiên khi các tội lỗi của Ba-by-lôn “chất cao tày trời“ (18:5) đem đến sự huỷ diệt của ả.

Như thông lệ đối với hạng đĩ điếm tự xác định mình trong thế giới La-mã, đại dâm phụ Ba-by-lôn cũng có một cái tên được viết trên trán (đối chiếu Giê-rê-mi 3:3). Cái tên Giăng đã thấy là “Sự Mầu nhiệm, BA-BY-LÔN LỚN, LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN“. (Cụm từ sự mầu nhiệm được xem là một phần của tước hiệu). Đại dâm phụ được gọi là sự mầu nhiệm BA-BY-LÔN để chỉ ra rằng BA-BY-LÔN trong văn mạch nầy không đề cập đến vị trí địa lý. Đây không phải là Ba-by-lôn cổ đại đâu, Ba-by-lôn trong thời của Giăng, hay thành phố Ba-by-lôn được xây dựng lại trong kỳ sau rốt. Các chi tiết của sự mặc thị nầy không thể được áp dụng cho bất kỳ thành phố đích thực nào. Đây là một Ba-by-lôn chưa được tiết lộ trước đây, một thực tế bí mật được tiết lộ vào các thời kỳ sau rốt. BA-BY-LÔN này là biểu tượng của mọi đề kháng của thế gian đối với Đức Chúa Trời; nó được mô tả là LỚN vì ảnh hưởng sâu rộng của nó. Thực vậy, ảnh hưởng của nó lớn đến nỗi nó được gọi LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN. Ba-by-lôn sẽ là nguồn gốc của tất cả sự thờ phượng giả dối, thờ lạy hình tượng, thờ lạy phạm thượng trong những ngày sau rốt. Mệnh danh của ả LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM là thích hợp, vì sự tà dâm trong Kinh thánh thường tượng trưng cho sự thờ lạy hình tượng (đối chiếu Cac 2:17; 8:27, 33; ISu 5:25; IISu 21:11; Gie 3:6, 8-9; Exe 16:30-31, 36). Vì vậy, Ba-by-lôn, thành phố đã sinh ra hệ thống gây đồi bại cho thế gian với tôn giáo giả, sẽ làm lại như thế một lần nữa.

LỜI CÁO BUỘC CỦA ĐẠI DÂM PHỤ

Tôi thấy người đàn bà đó say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus; tôi thấy mà lấy làm lạ lắm. (17:6)

Giống như nhiều đĩ điếm, người đàn bà đó say, song không phải là say các thức uống có cồn đâu. Trong một bản cáo trạng về ả vì sự bắt bớ của ả, cứ giết chóc dân sự của Đức Chúa Trời, đại dâm phụ Ba-by-lôn đã được phác hoạ là say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus. Biểu hiện sinh động này thường được sử dụng trong thế giới cổ đại để mô tả một sự ham muốn giết chóc bằng bạo lực. Một số nhà giải kinh xem các thánh đồ và các nhân chứng của Chúa Jêsus như hai nhóm riêng biệt, nhóm trước là các thánh đồ thời Cựu Ước và nhóm sau là các thánh đồ thời Tân Ước. Tuy nhiên, nhiều khả năng hai phần mô tả này đề cập đến cùng một nhóm và mô tả dân sự của Đức Chúa Trời xuyên suốt lịch sử. Điểm quan trọng, ấy là tôn giáo giả, được tiêu biểu ở đây bởi đại dâm phụ, là một kẻ giết người. Nó đã giết chết hàng triệu tín đồ trải qua nhiều thế kỷ. Lịch sử của Hội thánh đã cho thấy rằng Cơ Đốc giáo bội đạo là không ngừng nghỉ trong sự bắt bớ của nó đối với những ai giữ lấy đức tin thật trong Đức Chúa Jêsus Christ. Trong khi thế gian trở nên say sưa dục vọng với ả ấy, đại dâm phụ trở nên say với huyết của dân sự Đức Chúa Trời. Sự mặc thị kinh khủng đến nỗi khi Giăng nhìn thấy ả, ông lấy làm lạ lắm; cho thấy rằng ông đã phải bối rối, bị sốc, kinh ngạc và sợ hãi trước viễn cảnh ghê tởm về hình ảnh của một người đàn bà tuyệt đẹp như thế và một dự tính gây chết chóc.

PHẦN GIẢI THÍCH VỀ ĐẠI DÂM PHỤ

Thiên sứ bảo tôi rằng: sao người lấy làm lạ? Ta sẽ cắt nghĩa cho ngươi sự mầu nhiệm của người đàn bà cùng của con thú chở nó, là con thú có bảy đầu và mười sừng. Con thú ngươi đã thấy, trước có, mà bây giờ không còn nữa; nó sẽ từ dưới vực lên và đi đến, chốn hư mất; những dân sự trên đất, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống từ khi sáng thế, thấy con thú thì đều lấy làm lạ, vì nó trước có, nay không có nữa, mà sau sẽ hiện đến. Đây là sự nghĩ ngợi có khôn ngoan. Bảy cái đầu tức là bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên. Nó cũng là bảy vì vua nữa; năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến; khi vì ấy sẽ đến, cũng chẳng còn được bao lâu. Chính con thú trước đã có nay không có nữa, là vì vua thứ tám; nó cũng ở trong số bảy, và nó sẽ đi đến chỗ hư mất. Vả, mười cái sừng mà ngươi đã thấy, là mười vì vua chưa nhận được nước mình; nhưng họ nhận quyền vua với con thú trong một giờ. Chúng cũng một lòng một ý trao thế lực quyền phép mình cho con thú. Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua; và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con, cũng thắng được chúng nữa … Người đàn bà ngươi đã thấy, tức là cái thành lớn hành quyền trên các vua ở thế gian. (17:7-14, 18)

Phản ứng lại trước sự bối rối và kinh ngạc của Giăng, vị thiên sứ đã hùng hồn bảo ông: “Sao ngươi lấy làm lạ?” Đối với Giăng, không cần phải bối rối bởi mối quan hệ của con thú với người phụ nữ say huyết xinh đẹp này trong sự mặc thị; vị thiên sứ sắp sửa giải thích cho ông biết sự mầu nhiệm của người đàn bà (câu 18) cùng của con thú chở nó (các câu 8-17). Vị sứ đồ đã hiểu rằng người đàn bà này tiêu biểu cho một hệ thống tôn giáo giả, và con thú là Anti-christ, như phần tham khảo đến bảy đầu và. . . mười sừng của hắn chỉ ra (câu 3; 13:1). Cái điều ông không hiểu là mối quan hệ giữa hai nhân vật. Đã được tỏ ra cho Giăng trong sự mặc thị trước kia, ấy là cả thế gian sẽ thờ lạy Anti-christ (13:4, 8, 12). Có thể đấy là những gì làm dấy lên thắc mắc trong tâm trí của Giăng về cách thức người đàn bà thích ứng với bức tranh, đặc biệt là làm thể nào con thú lại chở ả.

Bỏ qua giây phút ngoài lề của thiên sứ ở các câu 8-14 khi mô tả con thú, câu 18 xác định người đàn bà mà Giăng đã nhìn thấy là thành lớn, hành quyền trên các vua ở thế gian. Một số nhà giải kinh phủ nhận thành lớn là một thành phố đích thực, thích xem nó như một biểu tượng của phương diện tôn giáo trong đế quốc của Anti-christ. Có người xem thành lớn là một thành phố thực tế xác định đó là Rome, những người khác xem là Jerusalem. Nhưng vị thiên sứ đề cập rõ ràng và liên tục đến Ba-by-lôn trên sông Ơ-phơ-rát trong các chương 17-18. Những ám chỉ đó có thể được nhìn thấy bằng cách so sánh 17:1 với Giê-rê-mi 51:13; 17:2, 4 với Giê-rê-mi 51:7; 18:7 với Es 47:5; 18:2 với Es 13:21 và Gie 51:8; 18:4 với Gie 50:8 và 51:6, 45; 18:5 với Gie 51:9; 18:6 với Giê-rê-mi 50:15 và 51:24; 18:21 với Gie 51:63-64. Phần mô tả sự tàn phá của Ba-by-lôn (đối chiếu 18:10, 18, 21) cũng gợi ý rằng một thành phố đích thực nằm trong tầm nhận định. Như vậy, một thành phố Ba-by-lôn được tái thiết lại đã được xác định chặt chẽ với đế quốc cấp thế giới của Anti-christ, có lẽ là thành phố thủ phủ của nó. Thành phố đó sẽ là trung tâm vương quốc của hắn, tầm cở của vương quốc sẽ là toàn bộ địa cầu.

Các tiên đoán của Cựu Ước về sự hủy diệt toàn bộ của Ba-by-lôn (thí dụ, Es 13:1-14: 27; Gie 50-51) cũng ủng hộ việc xác định thành lớn với Ba-by-lôn trên sông Ơ-phơ-rát. Phần mô tả chi tiết các phân đoạn đó cung ứng sự huỷ diệt Ba-by-lôn chỉ được thực hiện một phần khi người Mê-đi Ba-tư bao vây thành cổ Ba-by-lôn. Giống như là trường hợp của nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước, các dự đoán này đã có một sự ứng nghiệm gần và xa. Henry Morris lưu ý rằng:

Thực vậy, Ba-by-lôn sẽ bị hủy diệt vĩnh viễn, như đã được ghi lại trong chương kế tiếp (18:21), nhưng điều này vẫn chưa xảy ra. Các sách tiên tri Êsai và Giê-rê-mi cũng đề cập đến sự hủy diệt này trong tương lai, không những cho tình trạng hiện nay của Ba-by-lôn, rất rõ ràng từ những phần xem xét sau đây, giữa vòng các sách khác nữa: (1) Sự hủy diệt sẽ diễn ra trong thời gian mà các ngôi sao và mặt trời bị tối tăm (Es 13:1, 9, 10). (2) Thành phố sẽ trở nên hoang vu giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ, bị thiêu cháy hoàn toàn, không còn một di tích nào chừa lại (Es 13:19; Gie 50:40). (3) Nó sẽ trở nên hoang vu đời đời, không có người và thú vật nào vào ở đó nữa (Es 13:20; Gie 51:62). (4) Đây sẽ là thời điểm phán xét không những cho Ba-by-lôn mà còn cho tất cả các nước nữa (Es 13:11-13; Gie 51:49). (5) Sự hủy diệt của nó sẽ được theo sau bởi sự nghỉ ngơi và hòa bình chung hết (Es14:7-8). (6) Sự hủy diệt của nó gắn trực tiếp với việc quăng Lucifer vào Địa ngục (Es 14:12-15). (7) Các hòn đá của Ba-by-lôn sẽ không bao giờ được sử dụng cho công tác xây dựng tương lai ở nơi khác, trong khi những đống đổ nát hiện nay của Ba-by-lôn thường bị cướp phá và tái sử dụng trong các công trình sau này (Gie 51:26). (Revelation [Wheaton, Il.: Tyndale, 1983], 348).

Bối cảnh Ba-by-lôn hiện nay nằm ở vị trí chiến lược tại ngã tư đường của châu Á, châu Âu và châu Phi và không xa Vịnh Ba Tư lắm. Nó cũng ở gần các mỏ dầu giàu nhất thế giới và có nguồn cung cấp nước gần như không giới hạn từ sông Ơ-phơ-rát. Những phần xem xét này đã khiến nhà sử học nổi tiếng Arnold Toynbee tuyên bố rằng Ba-by-lôn sẽ là một địa điểm lý tưởng cho một trung tâm chính trị và văn hóa quan trọng (Morris, Revelation Record, 349).

Trong các câu 8-14, vị thiên sứ cung ứng cho Giăng một phần mô tả thật dài về con thú. Ngài giải thích cho Giăng hiểu mối quan hệ giữa đại dâm phụ và con thú, những điều này khiến cho vị sứ đồ phải bối rối (các câu 6-7). Song vì Giăng nắm bắt được mối liên hệ đó, thiên sứ trước hết cần cung ứng cho ông thêm các chi tiết về con thú. Điều này càng mô tả bản chất của con thú và vương quốc của hắn, nâng cấp phần mô tả của ông trong chương 13.

Như đã lưu ý trước đây, con thú mà Giăng đã thấy là Anti-christ, nhân vật cai trị thuộc về Sa-tan của đế quốc sau cùng mạnh mẽ nhất trong lịch sử nhân loại, hắn sẽ phục vụ trong vai trò công cụ của Sa-tan để tấn công Israel, bắt bớ những người tin Chúa, chinh phục thế giới cho Sa-tan và chống lại Đấng Christ. Kinh thánh phác hoạ hắn là một thiên tài rất thông minh (Da 7:8); một nhà hùng biện xuất sắc (Da 7:20); một cấp lãnh đạo quân sự không ai bằng trong lịch sử nhân loại (Da 7:23); một nhà chính trị khôn ngoan, biết toan tính, thao túng (Da 8:25; 11:21); và là kẻ bịp bợm tôn giáo (IITe 2:4). Thiên sứ tóm tắt lại phần mô tả chi tiết Kinh thánh phác hoạ hắn là một thiên tài rất thông minh (Da 7:8); một nhà hùng biện xuất sắc (Da 7:20); một cấp lãnh đạo quân sự không ai bằng trong lịch sử nhân loại (Da 7:23); một nhà chính trị khôn ngoan, biết toan tính, thao túng (Da 8:25; 11:21); và là kẻ bịp bợm tôn giáo (IITe 2:4). về hắn đã được cung ứng cho ở 13:1-10.

Con thú được mô tả là kẻ vì nó trước có, nay không có nữa, mà sau sẽ hiện đến. Như đã lưu ý trong phần bàn bạc ở 13:3 và 12 trong các chương 4 và 5 của tập sách nầy, cụm từ đó đề cập đến sự chết và sự sống lại của Anti-christ. Tiên tri giả sẽ sử dụng phép lạ này để dối gạt cả thế gian vào trong sự thờ lạy Anti-christ (13:14). Cho tới điểm nầy, đế quốc chính trị và kinh tế của Anti-christ sẽ đồng tồn tại với hệ thống tôn giáo giả do tiên tri giả lãnh đạo. Nhưng sau khi có “sự sống lại” của hắn, Anti-christ, khi ấy bị ma quỉ đầy quyền lực nhập vào, nó từ dưới vực đi lên (chỗ mà ma quỉ bị tống giam; đối chiếu 9:11; 11:7; 20:1, 3; Lu 8:31; và phần bàn bạc ở Khải huyền 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1999], 257-58), sẽ xây sang hệ thống tôn giáo giả và tiêu diệt nó. Hắn sẽ dung chịu chỉ có một tôn giáo mà thôi — sự thờ lạy chính mình hắn.

Sự sống lại của Anti-christ và sự hắn huỷ diệt hệ thống tôn giáo giả sẽ diễn ra ngay nửa đường của thời kỳ Đại Nạn. Vào thời điểm đó, hắn sẽ lên làm vua của thế gian chẳng có ai tranh cãi, với quyền lực đơn phương. Hắn sẽ đạt đến đỉnh cao quyền lực của mình, và sẵn sàng ngăn cản sự đến của Đấng Christ và vương quốc của Ngài. Tuy nhiên, trong thực tế, Anti-christ sắp sửa bị nghiền nát và bị đưa đến chỗ huỷ diệt — rủa sã đời đời trong hồ lửa (19:20; 20:10). Đấy sẽ là sự trừng phạt thích đáng cho “con của sự hư mất “ (IITe 2:3), là kẻ trong sự kiêu ngạo tự hào của mình dám sao chép tội lỗi của Lucifer (đối chiếu Es 14:12 -14) và thách thức Vua các Vua và Chúa của các chúa.

Sự sống lại giả mạo của Anti-christ và sự hủy diệt nhanh chóng hệ thống tôn giáo giả sẽ gây sốc cho cả thế gian. Như đã có trong sách Khải huyền, cụm từ những dân sự trên đất mô tả những người không tin Chúa (đối chiếu câu 2; 3:10; 6:10; 8:13; 11:10; 13:8, 12, 14; 14:6). Họ là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống từ khi sáng thế, (xem phần bàn bạc về 13: 8 trong chương 4 của tập sách này), vì tên của những người được chọn đã được ghi trong sách sự sống (3:5; 20:15; 21:27; Phi 4:3). (3: 5, 20:15, 21:27, Phi 4:3). Ngạc nhiên và bị lừa gạt bởi Anti-christ (đối chiếu IITe 2:9-10), những người theo hắn sẽ lấy làm lạ khi họ thấy con thú, vì nó trước có, nay không có nữa, mà sau sẽ hiện đến. Nguyên nhân cụ thể cho sự ngạc nhiên của họ sẽ là sự trở lại với sự sống thật kỳ diệu của Anti-christ sau khi nhận lãnh một vít thương trí mạng (đối chiếu 13:3-4). Chỉ có người được chọn mới không rơi vào sự lừa dối của Anti-christ (Mat 24:24).

Lời tuyên bố của thiên sứ ở đây là sự nghỉ ngợi có khôn ngoan mời mọc Giăng và các độc giả chú ý đến những điều có sau đó. Biểu hiện bất thường này giới thiệu một phương diện khó khăn và phức tạp của sự mặc thị nầy. Cần phải có nhiều sự khôn ngoan và thông sáng thuộc linh mới hiểu được nó, và có lẽ chỉ có những người còn sống vào thời điểm ấy mới hiểu trọn được.

Phương diện thứ nhứt của sự mặc thị cần phải được hiểu, ấy là bảy đầu của con thú (câu 3) là bảy hòn núi hoặc đồi mà người đàn bà đang ngồi lên. Một số nhà giải kinh gắn bảy hòn núi với Rome, nổi tiếng vì được xây dựng trên bảy ngọn đồi, và xác định người đàn bà là Giáo hội Công giáo La Mã. Nhưng cách giải thích như thế là quá thu hẹp; một cái gì đó còn hơn là Rome trong nhận định, bởi vì đế quốc của Anti-christ trải khắp thế giới. Người đàn bà cũng không thể là Giáo hội Công giáo La-mã, vì như đã lưu ý ở trên, câu 18 xác định ả là thành phố Ba-by-lôn. Ngoài ra “khi người đàn bà ngồi trên ‘các dòng nước lớn kia’ (câu 1), điều này phải được lấy như một ẩn dụ khi nó được giải thích ở câu 15; khi người đàn bà ngồi trên ‘một con thú sắc đỏ sặm’ này một lần nữa là hình bóng; do đó khi ả ngồi trên ‘bảy hòn núi’ thì điều này cũng phải là hình bóng thôi” (James Allen, What the Bible Teaches: Revelation [Kilmarnock, Scotland: John Ritchie Ltd., 1997], 424). Cuối cùng, lời kêu gọi của thiên sứ về sự phân biện thuộc linh sẽ là vô nghĩa nếu bảy ngọn núi là một tham khảo về địa lý rõ ràng đến Rome.

Tất cả các suy đoán như vậy là không cần thiết, bởi vì văn bản rõ ràng xác định các hòn núi là bảy vị vua. Núi đồi đôi khi được sử dụng làm hình bóng trong Cựu Ước để tiêu biểu cho luật lệ, hoặc quyền lực (thí dụ, Thi 30:7; Es 2:2; Gie 51:25; Da 2:35). Ở đây, chúng tiêu biểu cho bảy đế quốc cấp thế giới thể hiện nơi các vua của chúng. Thiên sứ nói cho Giăng biết rằng năm vì trước đã đổ, một vì hiện có, còn một vì nữa chưa đến. Năm đế quốc dân Ngoại cấp thế giới đã đổ vào thời điểm sự mặc thị của Giăng là Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Mê-đi Ba-tư và Hy-lạp. Vì đang tồn tại vào lúc đó rõ ràng là Rome. Một vì khác chưa đến là đế quốc cấp thế giới sau cùng của Anti-christ. Khi bình luận về ý nghĩa của sáu đế quốc đầu tiên, Henry Morris viết:

Mặc dù không một đế quốc nào trong số nầy thực sự cai trị toàn thế giới, mỗi đế quốc đều là vương quốc lớn lao nhất trong thời của nó, đặc biệt là khi nhắc đến đất và dân Israel và sự chống đối của các vương quốc nầy đối với sự rao giảng Lời của Đức Chúa Trời và sự hoàn thành các mục đích của Ngài trong thế gian…

Tất nhiên, các đế quốc này không phải là những vương quốc duy nhất thù hằn với Đức Chúa Trời và các mục đích của Ngài. Trong phạm trù này cũng có thể đặt ra các vương quốc như Sy-ri, Ê-đôm, Mô-áp, Ma-đi-an, và nhiều nước khác nữa, song không ai trong số này là loại đế quốc có tầm cở và ảnh hưởng lớn lao. Mặt khác, có những đế quốc lớn lao và hùng mạnh khác trong thế giới cổ đại thí dụ như Trung Quốc, Ấn Độ và Incas, — nhưng các nước này có những tiếp xúc ngoại vi với Lời của Đức Chúa Trời và tuyển dân. Chỉ có sáu vương quốc thoả mãn được cả hai tiêu chuẩn cho đến thời của Đấng Christ và các sứ đồ. Hơn nữa, tất cả sáu vương quốc này không những là những kẻ kế tự hợp pháp của Ba-bên về mặt chính trị, mà còn thuộc về Ba-bên về mặt chính trị nữa. Ba-by-lôn, Ai-cập, A-si-ri, Ba-tư, Hy-lạp, và Rome là những tiền đồn của tôn giáo cấp thế giới về tiến hóa phiếm thần và chủ nghĩa đa thần giả dối. Vì vậy, chúng được tiêu biểu thích ứng là sáu cái đầu con thú lớn hỗ trợ cho đại dâm phụ. (Morris, Revelation Record, 337. Chữ in nghiêng theo bản gốc).

Thiên sứ giải thích thêm rằng khi Anti-christ đến, cũng chẳng còn được bao lâu (đối chiếu 12:12). Đế quốc của hắn sẽ tồn tại ngắn ngủi; hắn sẽ được “quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng” (13:5, phân nửa thứ nhì của Kỳ Đại Nạn). Khi ấy, thiên sứ đưa ra lời bình bí ẩn rằng Chính con thú trước đã có nay không có nữa, là vì vua thứ tám; nó cũng ở trong số bảy, và nó sẽ đi đến chỗ hư mất. Làm sao con thú (Anti-christ) có thể là vị vua thứ tám và cũng là một trong bảy vị vua là làm sao chứ? Câu trả lời nằm trong cụm từ con thú trước đã có nay không có nữa. Anti-christ sẽ là một trong bảy vị vua trước cái chết và sự sống lại của hắn và một vị vua thứ tám sau đó trong chặng thứ hai sự cai trị của hắn. Như đã lưu ý trước trong câu 8, Anti-christ sẽ đi đến chỗ hư mất — rủa sã đời đời trong hồ lửa (19:20; 20:10). Không giống như sáu đế quốc đầu tiên, đế quốc của hắn sẽ bị hủy diệt bởi một hành động trực tiếp của Đức Chúa Trời.

Thiên sứ giải thích thêm rằng mười cái sừng mà Giăng đã thấy là mười vị vua. Họ không thể được biết đến trong bất kỳ thế hệ nào trước đó bởi vì họ chưa nhận được nước mình, vì họ là một phần của đế quốc tương lai của Anti-christ. Họ nhận quyền vua với con thú trong một giờ. Có lẽ đế quốc của Anti-christ sẽ được chia ra thành mười khu vực quản lý, các khu vực đó mười vị vua này sẽ cai trị dưới quyền của hắn. Phần tham khảo đến một giờ là cách nói nhấn mạnh sự ngắn gọn quyền cai trị của họ; sự trị vì của họ sẽ tồn tại ngắn ngủi vì đế quốc của chủ họ sẽ không tồn tại được lâu. Trong đời trị vì của họ, họ sẽ một lòng cống hiến cho Anti-christ; chúng cũng một lòng một ý trao thế lực quyền phép mình cho con thú. Họ sẽ làm theo ý muốn của hắn, và chỉ một mình ý muốn của hắn mà thôi.

Hoạt động của mười vị vua, giống như hoạt động của Sa-tan và Anti-christ, sẽ là cuộc chiến chống lại Chiên Con tại chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn. Ba thứ ma quỉ lừa đảo và năng động này sẽ là những nhân tố gom chúng lại cho trận chiến đó:

Tôi thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra, giống như ếch nhái. Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng … Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. (16:13-14, 16)

Giăng sẽ mô tả chi tiết trận chiến xấu số này trong chương 19, vì vậy ở đây ông chỉ đơn thuần lưu ý rằng Chiên Con sẽ thắng hơn chúng. Trận chiến trong thực tế sẽ là một cuộc tàn sát; Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tiêu diệt toàn bộ các lực lượng tập trung lại chống nghịch Ngài nơi sự tái lâm của Ngài. Lý do mọi thế lực của địa ngục không thể đánh bại Chiên Con là vì Ngài là Chúa của các chúa, Vua của các vua; (đối chiếu 19:14; Phu 10:17; ITi 6:15). Ở với Đấng Christ khi Ngài tái lâm sẽ là những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín — một tham khảo chỉ có thể áp dụng cho những người tin Chúa (đối chiếu 19:14; Mat 22:14). Các thuật ngữ này phong phú về sự xác định những người tin Chúa là người được chọn cho đến đời đời, được chọn trong Đức Chúa Con trước khi sáng thế (Eph 1:4); kẻ được kêu gọi, được triệu tập đúng thời điểm bởi Đức Chúa Cha để ăn năn và có đức tin để được cứu (Gi 6:44); và kẻ trung tín, chứng tỏ đức tin thực sự được cứu, sự sống đời đời chân chính hằng có bởi quyền phép của Đức Thánh Linh (Ro 8:9). Đức Chúa Jêsus Christ sẽ dễ dàng chà nát lực lượng vũ trang vĩ đại nhất từng tập hợp lại khi Ngài tái lâm với những người được chọn và các thiên sứ thánh (Mat 24:30-31; IITe 1:7).

Câu 15 đã được bàn luận trước đây gắn kết với câu 1, theo như đã giải thích.

SỰ HUỶ DIỆT ĐẠI DÂM PHỤ

Mười cái sừng ngươi đã thấy, và chính mình con thú sẽ ghét dâm phụ, sẽ bóc lột cho nó lõa lồ, ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa. Bởi Đức Chúa Trời đã để cho chúng có lòng vâng làm theo ý muốn Ngài cùng khiến chúng có chung một ý, và ban nước mình cho con thú, đến khi những lời Đức Chúa Trời phán được ứng nghiệm. (17:16-17)

Sự liên minh của Anti-christ với hệ thống tôn giáo giả sẽ không kéo dài. Cuối cùng, mười cái sừng (mười vị vua cai trị dưới quyền Anti-christ) và con thú (chính Anti-christ) sẽ đạt tới chỗ ghét dâm phụ. Sau khi sử dụng hệ thống tôn giáo giả để giúp hắn giành quyền kiểm soát thế giới, Anti-christ sẽ loại bỏ nó. Trong trò chơi thích làm lớn của mình, hắn sẽ muốn thế giới thờ lạy chỉ một mình hắn. Chắc chắn hắn cũng sẽ thèm muốn sự giàu có lớn lao của hệ thống tôn giáo giả. Vì vậy, hắn sẽ xây qua dâm phụ và sẽ bóc lột cho nó lõa lồ, ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa. Lối nói ví von về bạo lực cực kỳ được sử dụng để nói rõ rằng Anti-christ và tay sai của hắn sẽ hoàn toàn và hoàn toàn xóa bỏ tất cả các di tích của hệ thống tôn giáo giả.

Tuy nhiên, các hành động tự phục vụ được Sa-tan cảm thúc chính xác nằm trong phạm vi kế hoạch tễ trị của Đức Chúa Trời. Thực vậy, chính Đức Chúa Trời đã để cho chúng có lòng có lòng vâng làm theo ý muốn Ngài cùng khiến chúng có chung một ý, và ban nước mình cho con thú. Quyền lực của Đức Chúa Trời ở đằng sau sự hủy diệt và hợp nhất đế quốc ma quỉ; như Sa-tan luôn luôn là công cụ của các mục đích Đức Chúa Trời. Chính phủ thống nhất một thế giới mà nhân loại tìm kiếm lâu nay sau cùng đã đến, chỉ để bị hủy diệt trong một hành động tuyệt vời của sự phán xét thiêng liêng. Những lời của Đức Chúa Trời — từng lời tiên tri nói tới sự tái lâm của Đấng Christ và việc dựng lên vương quốc của Ngài — sẽ được ứng nghiệm cách trọn vẹn.

Đức Chúa Trời ghét mọi hình thức tôn giáo giả và sẽ không dung tha cho những ai tìm cách cướp khỏi Ngài sự vinh hiển của Ngài (Ê-sai 42:8). Đế quốc tôn giáo của Anti-christ sẽ bị xét đoán và tiêu diệt. Cũng vậy, như chương 18 của Khải huyền cho thấy, sẽ là những phương diện chính trị và kinh tế của đế quốc gian ác cấp thế giới đó.

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme