“Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất. Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó. Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác. Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ. Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn nầy sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực. Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than. Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi. Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơn, nhũ hương; rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì; bò, trừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa. Các thứ trái mà lòng người mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa; khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư? Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu! Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó. Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa. Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ khảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. Anh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. Ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian” (18:1-24)
Xuyên suốt lịch sử, các tiểu vương quốc và các đế quốc được xây dựng bởi những kẻ loạn nghịch kiêu căng, ngạo mạn, chối bỏ Đức Chúa Trời, họ đã đến rồi đi. Tinh thần chủ nghĩa nhân văn trước tiên được thể hiện ở Ba-bên đã xâm nhập lịch sử nhân loại kể từ đó. Chủ nghĩa lạc quan bất chấp những thế kỷ chiến tranh, giết chóc, bất công và tàn nhẫn, người ta vẫn tìm kiếm một điều không tưởng, do tiến bộ khoa học ngày càng cao của con người mang lại. Sau khi nắm lấy quyền điều khiển (họ tưởng vậy) về số phận của bản thân họ qua khoa học, hạng tội nhân chẳng màng gì đến Đức Chúa Trời và hùng hồn thay thế Ngài bằng các vị thần theo kiểu cách của bản ngã rồi hiến cho các thần ấy chủ quyền của chính họ.
Nhưng Đức Chúa Trời không dễ bị thay thế như vậy đâu, các chương trình của Ngài cũng không bị cản trở bởi các suy tưởng của con người tội lỗi (Es 43:13; 46:10). Thực vậy, trong một câu nói ngắn nhưng quan trọng trong Cong 14:16, Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời “để cho mọi dân theo đường riêng mình”. Trong Thi 2:2-4 tác giả Thi thiên ghi lại phản ứng của Đức Chúa Trời trước cơn giận không ra gì của con người nghịch cùng Ngài:
Các vua thế gian nổi dậy, các quan trưởng bàn nghị cùng nhau nghịch Đức Giê-hô-va, và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài, mà rằng: Chúng ta hãy bẻ lòi tói của hai Người, và quăng xa ta xiềng xích của họ. Đấng ngự trên trời sẽ cười, Chúa sẽ nhạo báng chúng nó.
Sánh với vẻ oai nghi vinh hiển khôn tả xiết của Đức Chúa Trời toàn năng, mọi đế quốc khoe khoang khoác lác của con người là một “giọt nước nhỏ trong thùng” (Es 40:15). Trong con mắt của Ngài, họ chỉ là “một mảy bụi rơi trên cân” (Es 40:15), vô nghĩa đến nỗi họ “trước mặt Đức Giê-hô-va thảy đều như không, Ngài xem như trống không và hư vô vậy” (Es 40:17). Thực tại không thể tránh được, ấy là Đức Chúa Trời, chớ không phải con người, sẽ có tiếng nói sau cùng trong lịch sử nhân loại, và lời ấy sẽ là lời của sự phán xét.
Từ đầu cho đến cuối, Kinh Thánh cảnh cáo về sự phán xét hầu đến giáng trên hạng tội nhân nào chối bỏ Đức Chúa Trời và phạm thượng đến danh thánh của Ngài. Gióp tuyên bố rằng “Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?” (Gióp 21:30). David để ý thấy rằng “Đức Giê-hô-va … Ngài đã dự bị ngôi mình để đoán xét. Ngài sẽ lấy công bình đoán xét thế gian” (Thi 9:7-8). Thi 96:13 cảnh cáo rằng Đức Chúa Trời “Ngài đến, Ngài đến đặng đoán xét thế gian; Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, dùng sự ngay thẳng mà đoán xét muôn dân”. Ê-sai chép: “Ngài báo trả cho người ta tùy việc họ làm: sự thạnh nộ cho kẻ đối địch Ngài, sự báo oán cho kẻ thù nghịch; Ngài sẽ báo trả các cù lao” (Es 59:18). Trong các thí dụ nói tới vương quốc của Ngài, Chúa Jêsus cũng mô tả thời điểm phán xét hầu đến:
“Còn người ta nhổ cỏ lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ như vậy; Con người sẽ sai các thiên sứ Ngài thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác khỏi nước Ngài, và quăng những người đó vào lò lửa, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai, hãy nghe! Nước thiên đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia tìm được thì giấu đi, vui mừng mà trở về, bán hết gia tài mình, mua đám ruộng đó. Nước thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó. Nước thiên đàng cũng giống như một tay lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá. Khi lưới được đầy rồi, thì người đánh cá kéo lên bờ; đoạn, ngồi mà chọn giống tốt để riêng ra, đem bỏ vào rổ, còn giống xấu thì ném đi. Đến ngày tận thế cũng như vầy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném những kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng” (Mat 13:40-50).
Sứ đồ Phao-lô tuyên bố với các triết gia Hy-lạp nhóm lại trên Đồi Mars ở thành A-then rằng Đức Chúa Trời “đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại” (Cong 17:31). Ông viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca:
Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài, tức là khi Ngài sẽ đến trong ngày đó, để được sáng danh trong các thánh đồ, được khen ngợi trong mọi kẻ tin; vì anh em đã tin lời chúng tôi làm chứng trước mặt anh em (IITe 1:7-10).
Trong IIPhi 2:9 Phi-e-rơ nói thêm: “thì Chúa biết cứu chữa những người tin kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét”.
Nhưng không có một chỗ nào trong Kinh thánh có phần mô tả chi tiết hơn về phán xét hầu đến cho bằng Khải huyền 6-18. Các chương này mô tả thời kỳ 7 năm trong tương lai mà ai cũng biết là Kỳ Đại Nạn. Khi tóm tắt lại những gì chúng tiết lộ về thời kỳ ấy, sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ mưa xối xả xuống đất trong hình thức các sự phán xét bằng cái ấn, tiếng loa và cái bát. Mặc dù các sự phán xét này sẽ có phạm vi trên toàn thế giới, chúng sẽ đặc biệt tập trung vào đế quốc cấp thế giới Ba-by-lôn của Anti-christ. Đế quốc đó sẽ bao gồm cả hai phương diện tôn giáo và thương mại. Ở ngay điểm giữa của Kỳ Đại Nạn, Anti-christ sẽ huỷ diệt hệ thống tôn giáo giả của người Ba-by-lôn, hệ thống này sẽ được hấp thụ vào nền thương mại của Ba-by-lôn (đối chiếu phần bàn bạc ở chương 12 của tập sách này). Tôn giáo sẽ không ngừng tồn tại, nhưng sẽ bị giới hạn trong việc thờ lạy Anti-christ. Ba-by-lôn, theo sự quan sát ở chương 18 là đế quốc thương mại cấp thế giới của Anti-christ, nó sẽ cai trị thế giới trong ba năm rưỡi sau của Kỳ Đại Nạn. Anti-christ đó sẽ xây dựng đế quốc thương mại lớn lao nhất mà thế giới từng nhìn biết giữa các sự phán xét tàn phá của Kỳ Đại Nạn tỏ ra sức mạnh đáng kinh ngạc của hắn.
Sự hủy diệt của Đức Chúa Trời đối với Ba-by-lôn thương mại là lẽ đạo của chương 18. Vì thế, đây là một chương rất u ám; đó là một lễ cầu siêu, một bài truy điệu cho tang lễ của nhân loại. Với sự hủy diệt đế quốc nhân loại cuối cùng và lớn lao nhất của Sa-tan, sân khấu được lập ra cho sự tái lâm đắc thắng của Đức Chúa Jêsus Christ.
Mặc dù một số nhà giải kinh xem thành phố ấy là biểu tượng nói tới toàn bộ hệ thống vô thần của Anti-christ, Ba-by-lôn được mô tả trong chương 18 rất có thể là một thành phố đích thực. Nó được gọi là thành phố năm lần trong chương (các câu 10, 16, 18, 19, 21) và các đặc điểm khác trong phân đoạn hàm ý rằng đấy là một thành phố theo nghĩa đen. Vì phân đoạn mô tả rõ ràng Ba-by-lôn là một thành phố đích thực, và không có gì trong nội dung nói khác đi, cho nên xem đây là một thành phố đích thực là an toàn nhất. Những lời tiên tri đặc biệt trong Cựu Ước nói tới sự huỷ diệt của Ba-by-lôn và sự hoang vu mãi mãi (Es 13:19-22; 14:22-23; Gie 50:13, 39; 51:37), chưa được ứng nghiệm, cũng luận rằng chương 18 mô tả một thành phố đích thực (đối chiếu phần bàn bạc ở chương 12 của tập sách này). Nhưng trong khi Ba-by-lôn sẽ là một thành phố đích thực, ảnh hưởng của nó sẽ rộng khắp thế giới. Là thành phố thủ phủ của Anti-christ, nó sẽ là trung tâm của và tiêu biểu cho đế quốc thương mại của hắn. Vì vậy, sự phán xét và huỷ diệt Ba-by-lôn sẽ giết cái đầu, và phần còn lại của thân thể đế quốc cấp thế giới của Anti-christ sẽ theo sau trong cái chết.
Ba-by-lôn đã nhận được nhiều lời cảnh cáo về sự sụp đổ sắp xảy ra của nó bằng sự tỏ ra của các biến cố trong chương 18. 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái, hai người làm chứng, phần còn lại của người được chuộc, và một thiên sứ bay giữa trời sẽ công bố ra sứ điệp Tin lành. Sứ điệp đó bao gồm lẽ thật cho rằng Đức Chúa Trời sẽ xét đoán những ai từ chối không chịu ăn năn. Ngoài ra, trước đó trong Kỳ Đại Nạn một thiên sứ đặc biệt cảnh cáo về số phận sắp tới của Ba-by-lôn, kêu lên: “Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó“ (14:8). Thiên sứ nói tới sự sụp đổ trong tương lai của Ba-by-lôn giống như thể việc ấy đã xảy ra rồi vậy, nhấn mạnh tính chắc chắn số phận của nó.
Nhưng bất chấp những lời cảnh cáo cứ lặp đi lặp lại mãi kia, dân cư trong thế gian sẽ từ chối không chịu ăn năn (đối chiếu 9:20-21; 16:9, 11), và sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống trên Ba-by-lôn. Chương 18 ghi lại bảy phương diện của sự phán xét giáng trên đế quốc thương mại của Anti-christ: sự phán xét đã được công bố, sự phán xét bị lẫn tránh, sự phán xét được xác định, sự phán xét bị ta thán, sự phán xét được nếm trải, sự phán xét được hoàn tất, và sự phán xét được xưng công bình.
SỰ PHÁN XÉT ĐƯỢC CÔNG BỐ
“Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất. Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó” (18:1-3)
Phần công bố khai mạc long trọng này về sự phán xét cung ứng hai lý do cho sự huỷ diệt sắp xảy đến của Ba-by-lôn: hoạt động rộng khắp của ma quỉ và hoạt động tình dục tồi tệ. Như thường thấy ở sách Khải huyền (đối chiếu 4:1; 7:9; 15:5; 19:1), cụm từ “sau điều đó” đánh dấu phần khởi đầu của một mặc thị mới. Trong khi vẫn bàn bạc về lẽ đạo bao quát nói tới đế quốc cấp thế giới của Anti-christ, sau cùng bị huỷ diệt qua bảy lần phán xét bằng cái bát (chương 16), chương 18 chuyển từ các phương diện tôn giáo sang phương diện thương mại của đế quốc ấy. Khi sự mặc thị mới vừa mở ra, Giăng thấy một vị thiên sứ khác, khác biệt với thiên sứ trong 17:1. Có người xem thiên sứ này là Đấng Christ, nhưng việc sử dụng allos (khác mà cùng loại) thay vì heteros (khác không cùng loại) chỉ ra rằng đây là một thiên sứ cùng loại với thiên sứ ở 17:1. Ngài có thể là vị thiên sứ đã tiên đoán trước sự sụp đổ của Ba-by-lôn (14:8). Ba đặc điểm trong phân đoạn Kinh Thánh tỏ ra quyền phép khác thường và tầm quan trọng của Ngài.
Thứ nhất, Ngài ở trên trời xuống có quyền lớn. Ngài rời khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời với thẩm quyền được ủy thác để hành động vì ích của Đức Chúa Trời.
Thứ hai, khi Ngài đến, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất. Ngài sẽ khiến cho sự xuất hiện đầy kịch tính của mình trên một sân khấu tối tăm, vì cái bát thứ năm sẽ dìm thế giới vào trong bóng tối tăm (16:10). Biểu hiện rõ nét rực rỡ của một hữu thể thiên thượng vinh hiển nghịch lại với bóng tối tăm, vị thiên sứ sẽ là một cảnh tượng được cảm thúc đáng sợ cho cư dân trên đất, họ bị sốc và kinh khiếp.
Thứ ba, vị thiên sứ kêu lớn tiếng. Không ai có thể dám bất chấp Ngài; ai nấy sẽ nghe rõ cũng như sẽ nhìn thấy Ngài. Sứ điệp của Ngài sẽ thêm vào sự kịch tính và kinh khiếp gây ra bởi sự xuất hiện của Ngài. Đây sẽ là một lời khốn nạn, xấu xa cho Anti-christ và cho những kẻ theo hắn: “Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi”. Sự phán xét đã được nói trước ở 14:8 giờ đây sẽ được bày ra. Đây sẽ là sự phán xét lớn lao hơn sự phán xét đã được loan báo bằng những lời lẽ chính xác giáng trên thành Ba-by-lôn xưa kia (Es 21:9). Một sự so sánh phân đoạn này với 16:17-19 cho thấy rằng sự phán xét này đang diễn ra khi cái bát thứ bảy đã được đổ ra:
Vị thiên sứ thứ bảy trút bát mình trong không khí, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến mà phán rằng: Xong rồi! Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy. Thành phố lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống, và Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài.
Nguyên nhân đầu tiên cho sự huỷ diệt Ba-by-lôn, vì thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần (một từ đồng nghĩa với ma quỉ, đối chiếu 16:13-14). Chính trong vùng lân cận của Ba-by-lôn mà 200 triệu ma quỉ bị trói buộc trước đây đã được thả ra lúc có tiếng loa thứ sáu (9:13-16). Chúng, cùng với bầy quỉ được thả ra từ vực sâu lúc có tiếng loa thứ năm (9:1-11), những kẻ bị quăng ra khỏi trời với Sa-tan (12:4, 9), và những kẻ trước đây ở trên đất, sẽ bị giam ở Ba-by-lôn. Đức Chúa Trời sẽ, phải nói như vậy, thu thập hết các quả trứng thối vào trong một cái giỏ trước khi xử lý chúng.
Ba-by-lôn cũng sẽ là hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc. Cụm từ này tượng trưng cho sự tàn phá tổng thể thành phố (đối chiếu Es 34:11). Giống như các loài chim ăn thịt kỳ dị, ma quỉ sẽ di chuyển qua thành phố xấu xa này, chờ sự sụp đổ của nó. Phần mô tả ma quỉ như dơ dáy và gớm ghiếc phản ánh nhận định của thiên đàng đối với chúng.
Sự phá hủy của Ba-by-lôn cũng sẽ đến “vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó”. Đế quốc tôn giáo và thương mại gian ác của Anti-christ sẽ truyền bá ảnh hưởng địa ngục của nó đến mọi dân tộc trên thế gian. Sau khi uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó (đối chiếu 14:8; 17:2), dân cư trên thế gian sẽ rơi vào trạng thái ngớ ngẩn cả tôn giáo và vật chất. Các thuật ngữ bao gồm mọi dân tộc, các vua thế gian, và các nhà buôn trên đất tỏ ra rằng Ba-by-lôn sẽ quyến rũ cả thế giới. Hạng người không được tái sanh trên thế giới sẽ say sưa với Ba-by-lôn, ưa muốn làm ra những hành động phi đạo đức với bả ấy. Tương tự vậy, các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. Ngay từ đầu, thế giới sẽ nắm lấy sự thịnh vượng về mặt tài chánh của Ba-by-lôn.
Sau khi quăng bỏ bất kỳ thứ chi giống như tiết độ hay tự kềm chế, hạng tội nhân sẽ lấy làm thoả thích trong sự trác táng say sưa hoang dại về mặt vật chất. Giống như những kẻ sống trong Ba-by-lôn đời xưa, họ sẽ tiệc tùng khi thành phố của họ bị hủy diệt (đối chiếu Da 5:1-30). Sự xét đoán của Gia-cơ về sự giàu có của kẻ giàu không biết đến thương xót cũng có thể áp dụng cho họ:
“Hỡi anh em là kẻ giàu có! Hãy khóc lóc, kêu la, vì cớ hoạn nạn sẽ đổ trên anh em. Của cải anh em bị mục nát, áo xống bị mối mọt ăn rồi. Vàng bạc anh em bị ten rét, ten rét đó sẽ làm chứng nghịch cùng anh em, nó cũng như lửa vậy, sẽ ăn thịt anh em. Anh em đã thâu trử tiền của trong những ngày sau rốt! Kìa, tiền công con gặt gặt ruộng anh em, mà anh em đã ăn gian, nó kêu oan, và tiếng kêu của con gặt đã thấu đến tai Chúa các cơ binh. Anh em đã sống trên thế gian ăn uống vui sướng và xa xỉ, anh em đã làm cho lòng mình no nê trong ngày chém giết” (Gia 5:1-5)
SỰ PHÁN XÉT BỊ TRÁNH NÉ
“Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó” (18:4-5)
Sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên xã hội thịnh vượng về mặt thương mại nhưng lại phá sản về mặt đạo đức này có thể tránh được, như một tiếng khác từ trên trời đến nói rất rõ ràng. Việc sử dụng allos (khác cùng loại) cho thấy người nói là một thiên sứ giống như thiên sứ trong câu 1. Sứ điệp Ngài công bố: “Hỡi dân ta, hãy ra khỏi”, là lời kêu gọi dành cho dân sự của Đức Chúa Trời phải tự mình giải phóng ra khỏi hệ thống thế gian. Đây cũng có thể là lời kêu gọi của Tin lành cho những người được Đức Chúa Trời lựa chọn đến với đức tin nơi Đấng Christ và ra khỏi vương quốc của Sa-tan (đối chiếu Co 1:13). Trong cả hai trường hợp, sứ điệp là phải từ bỏ hệ thống đó.
Trong suốt những lần phán xét kinh khiếp của Kỳ Đại Nạn, Đức Chúa Trời sẽ cứu mọi người. Kết quả của việc rao giảng Tin lành của 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái, hai người làm chứng, và một thiên sứ bay giữa trời sẽ là vụ gặt lớn nhất các linh hồn mà thế gian từng nhìn biết (đối chiếu 7:9). Phần nhiều trong số những người tin Chúa này sẽ phải tuận đạo vì cớ đức tin của họ đặt nơi Đấng Christ khi họ từ chối không chịu con dấu của con thú (13:15-16). Những kẻ sống sót sẽ phải đối mặt với những thử thách mạnh mẽ để tham gia vào trong hệ thống. Gia đình và bạn hữu chắc chắn sẽ áp lực họ phải tự cứu lấy mình bằng cách chấp nhận con dấu của con thú. Nhu cần nhận lãnh các nhu cầu cơ bản của cuộc sống cũng sẽ áp lực họ phải tuân thủ theo hệ thống (đối chiếu 13:17).
Lời khuyên phải trốn ra khỏi Ba-by-lôn tìm thấy một sự tương ứng trong Cựu Ước nơi các lời cảnh cáo của những tiên tri phải trốn ra khỏi Ba-by-lôn xưa kia. Ê-sai kêu lên: “Hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy tránh xa người Canh-đê!” (Es 48:20). Giê-rê-mi vang dội lời cảnh cáo của Ê-sai: “Hãy trốn ra ngoài Ba-by-lôn, ra khỏi đất người Canh-đê . . . Hãy trốn khỏi giữa Ba-by-lôn, ai nấy khá thoát mạng mình; chớ vì tội nó mà bị chết mất. Vì ấy là kỳ trả thù của Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo cho nó … Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!” (Gie 50:8; 51:6, 45).
Người tin Chúa trong thời hiện tại cũng phải tránh né sự cám dỗ buộc phải tham gia vào trong hệ thống. Phao-lô truyền cho các tín hữu ở Rô-ma: “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Ro 12:2). Ông viết cho người Cô-rinh-tô:
“Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta. Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi” (IICo 6:14-17).
Gia-cơ viết rằng: “Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia 1:27), và quở trách nặng nề những kẻ dính dáng vào hệ thống thế gian: “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy” (Gia 4:4). Trong thư tín thứ nhứt, sứ đồ Giăng khuyên những người tin Chúa: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy” (IGi 2:15).
Lẽ thật của Kinh Thánh cho rằng người tin Chúa không nên dính dáng vào hệ thống thế gian sẽ khoác lấy tính khẩn cấp mới khi Ba-by-lôn đối mặt với sự hủy diệt sắp xảy ra. Sứ điệp của thiên sứ cho người tin Chúa vẫn còn sống trong thành phố đó cũng là sứ điệp mà các thiên sứ đem đến cho Lót (Sa 19:12-13): Hãy ra khỏi trước khi bạn bị kẹt trong sự phán xét của Đức Chúa Trời về địa điểm gian ác đó.
Người tin Chúa cần phải trốn khỏi Ba-by-lôn hầu cho họ không dự phần vào tội lỗi của nó. Thành phố Ba-by-lôn tiêu cực về vật chất, vui vẻ, điên rồ sẽ gây ảnh hưởng gần như không thể cưỡng lại đối với các tín hữu dự phần vào tội lỗi của nó. Giống như Giô-sép (Sa 39:7-12; đối chiếu ICo 10:14; ITi 6:11; IITi 2:22) họ buộc phải chạy trốn để tránh bị chết vì “sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời” (IGi 2:16).
Dân sự của Đức Chúa Trời cũng phải trốn khỏi Ba-by-lôn để họ không chịu các tai hoạ của nó. Có người xem các tai hoạ như một tham khảo đến các sự phán xét bằng cái bát, cũng được gọi là các tai hoạ (15:1, 6, 8; 16:9). Tuy nhiên, những sự phán xét bằng cái bát có phạm vi trên toàn thế giới; do đó, sẽ không có một chỗ nào để tránh thoát (đối chiếu 18:9-10). Vì lẽ đó, xem các tai nạn này như là những sự phán xét đặc biệt giáng trên Ba-by-lôn, có lẽ, như đã nói ở trên, trong sự kết hợp với việc đổ ra cái bát thứ bảy (đối chiếu 16:17-19).
Sau cùng, người tin Chúa phải trốn khỏi Ba-by-lôn vì tội lỗi nó chất cao tày trời (đối chiếu Giê-rê-mi 51:9). Chất cao ra từ kolla¯o, sát nghĩa nói tới “cùng nhau dính dáng” hay “hiệp với”. Tội lỗi của Ba-by-lôn sẽ chồng chất lên giống như một Tháp Ba-bên mới vậy (Sa 11:3-4), nhưng không giống như cái tháp xưa, tội lỗi của nó sẽ chất cao tày trời. Khi ấy, vị thiên sứ mới nói thêm rằng Đức Chúa Trời đã nhớ đến sự gian ác nó (đối chiếu 16:19). Ngài sẽ ghi chép chúng giống như Ngài đã làm khi trước đối với sự loạn nghịch tội lỗi, đầy ngạo mạn, kiêu căng của con người tại tháp Ba-bên. Lẽ thật phước hạnh, ấy là Đức Chúa Trời phán về những người tin Chúa: “ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa . . . Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa” (Es 43:25; Gie 31:34). Nhưng về Ba-by-lôn cứng cổ, không chịu ăn năn sẽ chẳng có sự tha thứ nào hết, chỉ có sự phán xét mà thôi.
SỰ PHÁN XÉT ĐƯỢC XÁC ĐỊNH
“Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác. Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ. Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn nầy sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực” (18:6-8)
Sự phán xét Ba-by-lôn được xác định khi vị thiên sứ giờ đây không nói cùng Giăng, mà cùng Đức Chúa Trời. Sự kêu gọi báo thù của Ngài giáng trên Ba-by-lôn, điều nó đã làm cho kẻ khác, tương ứng với những lời cầu nguyện của các thánh đồ tuận đạo được ghi lại ở 6:9-10: “Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?” Lời cầu nguyện của thiên sứ về sự công bình dựa trên nguyên tắc của Cựu Ước lex talionis, luật ăn miếng trả miếng, nguyên tắc “mắt đền mắt, răng đền răng” (Mat 5:38; đối chiếu Xu 21:23-24; Le 24:19-20; Phu 19:21). Ba-by-lôn đã được kéo dài đủ ân điển và đã nghe đủ các lời cảnh cáo. Đã đến thì giờ cho sự báo thù. Đã đến lúc cho sự huỷ diệt của nó.
Lời nài xin của thiên sứ là sự gợi nhớ đến lời cầu khẩn của các thánh đồ Cựu Ước về sự báo thù giáng trên Ba-by-lôn xưa kia. Trong Thi 137:8 tác giả Thi thiên viết: “Ớ con gái Ba-by-lôn, là kẻ phải bị diệt, phước cho người báo trả ngươi tùy theo điều ác ngươi đã làm cho chúng ta!” Giê-rê-mi cũng nài xin sự báo thù giáng trên Ba-by-lôn:
“Hỡi các ngươi là kẻ hay giương cung! hãy dàn trận nghịch cùng Ba-by-lôn chung quanh; hãy bắn nó, đừng tiếc tên: vì nó đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va. Khá kêu la nghịch cùng nó khắp tư bề. Nó đã hàng đầu, lũy nó sập xuống, tường thành nó nghiêng đổ: ấy là sự báo thù của Đức Giê-hô-va! Hãy trả thù nó: làm cho nó như nó đã làm” (Gie 50:14-15).
“Hãy gọi hết thảy những kẻ cầm cung, mọi người giương cung đến đánh Ba-by-lôn; đóng trại chung quanh nó; đừng để cho ai thoát khỏi! Hãy theo công việc nó mà báo trả, làm cho nó trọn như nó đã làm; vì nó lên mình kiêu ngạo nghịch cùng Đức Giê-hô-va, nghịch cùng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên” (Gie 50:29).
“Nhưng trước mắt các ngươi, ta sẽ báo cho Ba-by-lôn và mọi dân cư Canh-đê phàm điều ác chi mà chúng nó đã làm tại Si-ôn, Đức Giê-hô-va phán vậy” (Gie 51:24).
“Thật, kẻ tàn hại đã áo đến trên Ba-by-lôn. Những kẻ mạnh mẽ của nó bị bắt, cung chúng nó bị gãy; vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hay báo trả, Ngài chắc sẽ báo trả cho” (Gie 51:56).
Thật là quan trọng khi lưu ý đến sự báo trả đó thuộc về một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Kinh Thánh nghiêm cấm Cơ Đốc nhân nắm lấy chính sự báo thù của họ. Những người tin Chúa phải: “Chớ nói: Ta sẽ trả ác”; thay vì thế “hãy chờ đợi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ cứu rỗi [họ]” (Ch 20:22). Họ cần phải: “chúc phước cho kẻ bắt bớ [họ]” (Ro 12:14), “chớ lấy ác trả ác cho ai” (Ro 12:17). Họ phải “chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người”. Thay vì thế họ “đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Ro 12:19-21). Cơ Đốc nhân cần phải “giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ” (ITe 5:15), “đừng lấy ác trả ác, cũng đừng lấy rủa sả trả rủa sả; trái lại phải chúc phước” (IPhi 3:9). Nhưng các mạng lịnh đó không loại bỏ các sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời thánh giáng trên hạng tội nhân.
Lời thiên sứ nài xin Đức Chúa Trời báo lại Ba-by-lôn gấp hai công việc nó (sát nghĩa trong tiếng Hy-lạp “nhân đôi những việc gấp hai”) là lời nài xin cho thấy sự trừng phạt Ba-by-lôn thích đáng với các tội ác của nó. Gấp đôi là tội lỗi của nó; gấp đôi phải là án phạt của nó. Tội lỗi của Ba-by-lôn đã ngập tràn, chất đống cao tày trời, và thiên sứ kêu gọi sự phán xét của Đức Chúa Trời phải đầy ắp giáng trên nó với số lượng tương đương.
Gấp đôi có ý nghĩa đầy dẫy hay trọn vẹn. Trong luật pháp Môi-se, những kẻ làm sai trái thường bị buộc phải làm sự bồi thường gấp bằng hai thay cho tội phạm của họ:
“Nếu vật mà kẻ trộm đã lấy, hoặc bò, lừa hay chiên, hãy còn thấy sống trong tay, thì kẻ trộm phải bồi thường gấp hai …
Khi ai giao tiền bạc hay đồ vật cho kẻ lân cận mình giữ, rủi bị trộm cắp tại nhà kẻ lân cận đó, nếu tên trộm đã bị bắt được, thì nó phải thường gấp hai … Trong mọi việc gian lận nào, hoặc về một con bò, một con lừa, một con chiên, áo xống hay là một vật chi bị mất, mà có người nói rằng: “quả thật là đồ đó”, thì phải đem duyên cớ hai đàng đến trước mặt Đức Chúa Trời; kẻ nào bị Ngài xử phạt phải thường bồi cho kẻ lân cận mình gấp hai” (Xu 22:4, 7, 9).
Các tiên tri lưu ý rằng Israel đã nhận lãnh gấp bằng hai tội lỗi của họ (Es 40:1-2; Gie 16:18). Giê-rê-mi nài xin Đức Chúa Trời rằng “Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!” (Gie 17:18).
Khi thốt ra lời nài xin Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt trọn vẹn Ba-by-lôn, vị thiên sứ yêu cầu rằng cái chén mà nó đã pha, Đức Chúa Trời sẽ pha gấp hai cái chén ấy. Thật là thích đáng, với chính cái chén mà Ba-by-lôn thường dối gạt các dân tộc (câu 3; 14:8; 17:2, 4; Gie 51:7) nó sẽ nhận lãnh phần bằng hai cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Hình ảnh cái chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời cũng xuất hiện ở 14:10 và 16:19.
Khi ấy, vị thiên sứ nài xin Đức Chúa Trời lần thứ ba chính xác sự báo thù trọn vẹn giáng trên: “Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ”. “Bao nhiêu … bấy nhiêu” là một sự kêu nài ví sánh án phạt với tội phạm, một nguyên tắc theo Kinh Thánh (Es 3:16…; Ch 29:23; Lu 1:51; 14:11). Ba tội lỗi kêu nài sự phán xét dành cho Ba-by-lôn. Thứ nhứt, nó kiêu ngạo; nó khoe mình. Đức Chúa Trời, là Đấng có phán: “Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác” (Ê-sai 42:8), vốn thù ghét sự kiêu ngạo (Ch 6:16-17; Gia 4:6). Thứ hai, nó theo đuổi sự thoả mãn; nó chìm đắm trong sự xa hoa. Kinh Thánh công bố kẻ nào là đã chết đang khi họ còn sống (ITi 5:6). Thứ ba, nó phạm tội tự tín, về việc đánh giá quá cao quyền lực của mình; trong lòng nó tự nghĩ rằng: “Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà goá, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ”. Sự khoe khoang kiêu ngạo ấy vang dội trong cả Ba-by-lôn xưa, nó nói: “Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ta sẽ chẳng góa bụa, chẳng biết mất con cái là gì” (Es 47:7-8; đối chiếu Exe 27:3; 28:2; So 2:15). Tuy nhiên, sự đáp trả tàn phá của Đức Chúa Trời ấy là: “Cùng trong một giây phút trong một ngày, hai nạn ấy, là sự mất con cái và sự góa bụa, sẽ xảy đến cho ngươi. Hai nạn ấy sẽ đến đầy đủ trên ngươi, khi ngươi làm tà thuật rất nhiều, và có lắm quyền của phù chú!” (Es 47:9).
Đối với ba tội ấy, Ba-by-lôn sẽ nhận lãnh đau đớn và khốn khó. Basanismos (đau đớn) sát nghĩa có nghĩa là hành hại (đối chiếu các câu 10, 15; 9:5; 14:11). Khốn khó đề cập đến nỗi buồn đau mà sự hành hại kia gây ra. Địa ngục sẽ là địa điểm của cả hai sự hành hại không thể tưởng được đó (20:10; Lu 16:23-24, 28) cùng nỗi buồn rầu đay nghiến kia (Mat 8:12; 13:42, 50; 22:13; 24:51; 25:30).
Khi đó, thiên sứ lưu ý rằng vậy cho nên, các thứ tội lỗi được liệt kê ra ở trên, nên đồng trong một ngày, những tai nạn nầy sẽ giáng trên nó. Sự hủy diệt Ba-by-lôn sẽ không phải là luỹ tiến đâu. Thành phố gian ác sẽ bị hủy diệt ngay lập tức (đối chiếu các câu 10, 17, 19). Đa-ni-ên 5 ghi chép lại số phận tương tự giáng trên Ba-by-lôn xưa kia; thành phố rơi vào chính cái đêm mà Đức Chúa Trời đã ghi ra số phận của nó trên bức tường cung điện của nhà vua (đối chiếu Đaniên 5:30). Như đã nói ở trên, các tai nạn sẽ hủy diệt Ba-by-lôn là những lần phán xét đặc biệt giáng trên thành phố đó, trong sự kết nối khả thi với cái bát thứ bảy. Ba tai nạn sẽ kết quả trong sự tàn phá hoàn toàn của Ba-by-lôn: dịch lệ, than khóc và đói kém — câu trả lời thích đáng của thiên đàng đối với sự khoe khoang kiêu ngạo của nó trong câu 7. Sau khi ba tai nạn đó làm trọn công việc của chúng, Ba-by-lôn sẽ bị thiêu với lửa.
Số phận của Ba-by-lôn là chắc chắn và không thể tránh được “vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực”. Không một ai có thể ngăn trở các chương trình của Đức Chúa Trời, hay giữ Ngài không làm thành những gì Ngài quyết định thực hiện. Gióp đã nói với Đức Chúa Trời: “Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm” (Giop 42:2). Bất chấp “trong lòng loài người có nhiều mưu kế; Song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được” (Ch 19:21). Ê-sai tuyên bố: “Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã toan định, thì ai bãi đi được? Tay Ngài đã giang ra, thì ai day lại được?” (Es 14:27). Nê-bu-cát-nết-sa sau khi bị sửa phạt đã hạ mình xuống khẳng định rằng: Đức Chúa Trời “làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?” (Da 4:35). Chính mình Đức Chúa Trời tuyên bố rằng “chẳng ai có thể giải cứu khỏi tay ta. Ta làm ra, ai ngăn cấm ta được? . . . Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý” (Es 43:13; 46:10). Mọi thế lực của hạng người gian ác và ma quỉ sẽ không đủ để giải cứu Ba-by-lôn khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời.
SỰ PHÁN XÉT BỊ TA THÁN
“Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than. Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi. Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơn, nhũ hương; rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì; bò, trừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa. Các thứ trái mà lòng người mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa; khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư? Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu!” (18:9-19)
Không có gì tỏ ra rõ ràng sự cứng lòng của hạng tội nhân cho bằng họ chẳng có buồn rầu về tội lỗi của họ. Qua nhiều năm tháng những sự phán xét gây tàn phá, hạng tội nhân của Kỳ Đại Nạn sẽ từ chối không than khóc về tội lỗi của họ. Nhưng mặc dù họ sẽ không ta thán về tội lỗi của họ, họ sẽ kêu khóc đối với sự tàn phá của Ba-by-lôn. Khi trung tâm vinh quang, hàng đầu đế quốc của Anti-christ, bị xét đoán và hủy diệt, sẽ có sự hốt hoảng và tang thương trên toàn thế giới.
Những người than khóc đầu tiên được giới thiệu là các nhà lãnh đạo, các vua thế gian. Nhóm này bao gồm 10 vị vua, họ cai trị vương quốc của Anti-christ dưới quyền của hắn (17:12), cũng như các lãnh đạo khác của thế giới ở dưới quyền của họ. Họ sẽ chào đón tin tức về sự huỷ diệt Ba-by-lôn với cú sốc và mất tinh thần. Sự hủy diệt ngai quyền lực chính trị và kinh tế của Anti-christ sẽ đưa ra một cú đấm chết người cho đế quốc của hắn. Sự sụp đổ của Ba-by-lôn sẽ là một biểu tượng cho sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống gian ác cấp thế giới này.
Những nhà lãnh đạo này chính là những người đã phạm tội tà dâm, và nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó (câu 3). Một lần nữa, Baby-lôn được phác hoạ là một ả điếm (đối chiếu 17:1, 15-16), cái chết của nó khiến những người yêu nó khóc lóc rầu rĩ về nó. Một số người trong họ đã băng qua sông Ơ-phơ-rát trên đường tới Ạt-ma-ghê-đôn (16:12) thực sự nhìn thấy khói của sự cháy thành (đối chiếu Sa 19:28; Gios 8:20-21; Esi 34:10). Những người còn lại sẽ quan sát sự huỷ diệt của Ba-by-lôn thông qua các phương tiện truyền thông thế giới. Mọi người sẽ cẩn thận đứng cách xa đối với thành phố đang bị vùi dập. Họ thấy mình vô quyền không thể giúp đỡ chi được và e phải chia khổ cùng nó. Bối cảnh đáng sợ này ủng hộ ý tưởng cho rằng Ba-by-lôn là một thành phố đích thực, không phải là một biểu tượng cho toàn bộ hệ thống thế giới. Rõ ràng, toàn bộ thế giới không bị hủy diệt vào thời điểm này, một khi những người đứng quan sát Ba-by-lôn bị đốt cháy lại an toàn vào thời điểm đó. Tuy nhiên, sự huỷ diệt Ba-by-lôn là một tiền thân cho số phận không bao lâu nữa sẽ giáng xuống cả thế gian.
Khi họ nhìn thấy thành ấy bị đốt cháy, các nhà lãnh đạo sẽ kêu khóc trong buồn rầu: “Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi“. Là viên ngọc quý của đế quốc Anti-christ, Ba-by-lôn sẽ là một thành lớn. Và khi nó còn sống sót qua những lần phán xét gây tàn phá của Kỳ Đại Nạn cho tới thời điểm đó, các nhà lãnh đạo vẫn còn tin nó là một thành cường thạnh. Vì thế, sự hủy diệt nhanh chóng của Ba-by-lôn sẽ gây sốc và khiến cho họ phải kinh ngạc, và họ sẽ than vãn với nó trong sự thất vọng: “Trong một giờ mà phán xét ngươi đã đến”. Sự phán xét giáng trên Ba-by-lôn sẽ xảy ra nhanh chóng, cũng như câu 8 đã tiên đoán.
Những người than khóc xuất hiện trên bối cảnh là các nhà buôn trên đất. Những doanh nhân này sẽ khóc lóc rầu rĩ Ba-by-lôn vì không còn ai mua hàng hóa của họ nữa. Sự hủy diệt thủ phủ của Anti-christ sẽ kết thúc bất kỳ vẻ bình thường nào trên hành tinh đã bị tàn phá. Bất cứ hoạt động kinh tế nào đã diễn ra trên đất sẽ quay trở lại dưới sự khó khăn leo thang mang lại bởi những lần phán xét thiêng liêng thảm khốc sau đó sẽ tạm dừng lại.
Rồi theo sau là một danh mục gồm hai mươi tám mặt hàng hoặc chủng loại hàng hoá thương mại bao gồm hàng hoá của các nhà buôn: vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơn, nhũ hương; rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì; bò, trừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa (nghĩa là “thân thể và linh hồn của con người”). Các mặt hàng này là những mặt hàng phổ thông trong thế giới cổ đại (phần nhiều trong số chúng nằm trong danh sách ở Exe 27:12-24) và là nguồn thu nhập tài chính to lớn. Chúng chỉ là tiêu biểu cho sự giàu có của đế quốc thương mại trong tương lai của Anti-christ. John Phillips viết:
Đúng là danh mục của cửa hàng sang trọng! Đúng là bức tranh sinh động nói tới một thành phố thương mại lớn lao, buôn bán từng thứ xa hoa mà tấm lòng rất mong muốn. Đây là Vụ Việc Hư Không lớn nhất thế giới. Nó cung cấp các bài viết nói tới đồ trang sức và sự phô bày, các thứ xinh đẹp để làm nổi bật các toà lâu đài của những nhà tỉ phú thế giới. Nó sử dụng các loại hương liệu và nước hoa kỳ lạ, nhiều món ăn ngon dọn trên bàn, các thứ cung cấp cho bàn tiệc, về nô lệ và về linh hồn của con người. Và Ba-by-lôn đã nhập khẩu tất cả các thứ này. . . . Nhu cầu của Ba-by-lôn đối với hàng hoá của thế giới này là vô hạn; nó từng đòi hỏi ngày ngày càng nhiều! (Exploring Revelation, rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N. J.: Loizeaux, 1991], 225)
Họ tiếp tục ta thán, các nhà buôn bây giờ chỉ chú ý trực tiếp đến Ba-by-lôn: Các thứ trái mà lòng người mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. Mọi sự rực rỡ sang trọng của thành phố (tiếng Hy-lạp lampros, một từ đề cập đến trang phục) của cải đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. Họ sẽ mất mát mãi mãi khi Đức Chúa Trời khiến cho hệ thống phải phá sản. Cụm từ không hề tìm thấy nữa dịch theo kiểu tiêu cực gấp đôi nhân hai trong phiên bản Hy-lạp, đây là hình thức phủ định mạnh mẽ nhất trong tiếng Hy-lạp. Điều đó cho thấy các khoản này sẽ không bao giờ được tìm thấy nữa.
Hiệp với các nhà lãnh đạo, các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu nói rằng: “Khốn thay! Khốn thay! thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết!” Họ khóc lóc và ta thán, không phải từ một sự cảm thông cho thành phố bị tàn phá, nhưng vì với sự sụp đổ của nó, họ đã bị tước bỏ các nguồn tài chánh chính trong tài nguyên của họ về tiền bạc. Các nhà buôn than thở vì những niềm đam mê vật chất của họ không còn có thể phu phỉ được nữa. Sự khóc lóc bắt đầu khi ấy sẽ kéo dài mãi mãi trong địa ngục (Mat 8:12; 13:42, 50; 22:13; 24:51; 25:30). Các nhà buôn tham lam này là minh hoạ cổ điển của hết thảy những ai suốt đời lo kiếm lời lãi trong cả thế gian, nhưng lại đánh mất linh hồn của mình (Mac 8:36).
Sau đó, một nhóm thứ ba và là nhóm sau cùng trong mặc thị này tham gia vào bài ca tang tóc của Ba-by-lôn: Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển. Ngoài tầm quan trọng chính trị và kinh tế, Ba-by-lôn cũng sẽ là một trung tâm phân phối quan trọng. Với sự huỷ diệt của nó, sẽ không còn có nhiều hàng hoá được vận chuyển bởi những người buôn bán trên mặt biển. Giống như các nhà cầm quyền và các con buôn, những thủy thủ cẩn thận đứng cách xa thành phố với một khoảng cách an toàn. Khi họ nhìn chăm vào thành phố đổ nát, họ bật khóc khi họ thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư?” Sự ta thán của họ là sự gợi nhớ về sự khoe khoang kiêu căng của những kẻ chạy theo Anti-christ ở 13:4: “Ai sánh được với con thú, ai giao chiến cùng nó được?“ Nhưng thành phố dường như không thể hủy diệt được đã bị phá hủy rồi trước mắt họ, và nhân vật cầm quyền dường như bất khả chiến bại của nó sẽ sớm gặp gỡ sự cuối cùng của hắn (19:20).
Sau đó, trong một biểu hiện đau buồn điển hình thời xưa, các thủy thủ lấy bụi rắc lên đầu mình, (đối chiếu Gios 7:6; ISa 4:12; IISa 1:2; 15:32; Giop 2:12; Ca 2:10; Exe 27:30). Giống như các vị vua (các câu 9-10) và các nhà buôn (các câu 15-16), họ cũng gào lên: “Khốn thay! Khốn thay! thành lớn nầy”. Đó là biểu hiện của đau đớn, khổ sở và buồn rầu, nhưng không phải là biểu hiện của sự ăn năn. Các thủy thủ không than khóc cho tội lỗi của họ, hay tội lỗi của Ba-by-lôn, mà vì cớ công việc làm ăn của họ không còn nữa, hết thảy đều giàu, có tàu trên biển, làm giàu nhờ sự giàu có của Ba-by-lôn. Giống như các vị vua (câu 10) và các nhà buôn (câu 17), những thủy thủ cũng tỏ ra ngạc nhiên trước sự tuột dốc sụp đổ của Ba-by-lôn, họ thốt lên: “trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu!” Trong khoảng thời gian ngắn đáng kinh ngạc, thành phố từng là nguồn của sự giàu có của họ đã bị hủy diệt.
SỰ PHÁN XÉT ĐƯỢC NẾM TRẢI
“Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó” (18:20)
Thiên đàng sẽ có một nhận định hoàn toàn khác hơn chiếu theo sự phán xét Ba-by-lôn, nhận định ấy nhắm vào những kẻ chạy theo Anti-christ từ trước đó. Vị thiên sứ bắt đầu nói ở câu 4 khi ấy nói tới người được chuộc ở trên trời: các thánh đồ (một thuật ngữ chung cho hết thảy những người tin Chúa), các sứ đồ và các tiên tri (giai cấp thánh đồ đặc biệt được ban cho Hội thánh, như đã được chỉ ra trong Eph 2:20; 4:11). Ngài kêu gọi họ hãy mừng rỡ đi vì sự sụp đổ của Ba-by-lôn, vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó. Khoảnh khắc được chờ đợi từ lâu của sự báo trả, trả thù và báo thù, mà vì đó những người tin Chúa tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn đã cầu nguyện (6:9-10) và vì đó hết thảy những người được chuộc đã hy vọng, thì giờ ấy sẽ xảy đến. Thiên đàng vui mừng, không phải vì sự rủa sã của hạng tội nhân, mà vì sự đắc thắng của sự công bình, sự tôn vinh của Đức Chúa Jêsus Christ, sự tiêu diệt các kẻ thù của Ngài, và sự đến của Vương quốc Ngài trên đất.
SỰ PHÁN XÉT ĐƯỢC HOÀN TẤT
Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa. Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ khảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới (18:21-23a)
Một vị thiên sứ rất mạnh khác (đối chiếu 5:2; 10:1) giờ đây xuất hiện trong sự mặc thị. Trong một hành động rất hay phác hoạ sự huỷ diệt Ba-by-lôn, Ngài lấy lấy một hòn đá như cối xay lớn (giống như thứ người ta dùng giã gạo, chúng có đường kính từ 4 đến 5 feet, một chân dày và rất nặng) rồi quăng xuống biển. Vị thiên sứ giải thích: “Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa“. Trong một phút thôi, giống như cái cối đá kia biến mất dưới biển, Ba-by-lôn sẽ bị hủy diệt. Một sự tỏ ra tương tự đã tiên đoán số phận của Ba-by-lôn đời xưa:
“Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia rằng: Khi ngươi đã đến Ba-by-lôn, khá lo đọc hết những lời nầy. Rồi ngươi khá nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng sẽ hủy diệt thành nầy, và nơi nầy sẽ không ai ở nữa, từ loài người cho chí loài vật cũng không, song sẽ nên một nơi hoang vu đời đời. Khi ngươi đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát, và khá nói rằng: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chổi dậy nữa vì tai nạn mà ta sẽ giáng trên nó, chúng nó sẽ mỏi mệt. Lời của Giê-rê-mi đến đây” (Gie 51:61-64)
Như vậy, sự huỷ diệt Ba-by-lôn sẽ được hoàn toàn mà không có hoạt động nào trong cuộc sống con người sẽ diễn ra. Sẽ không có một người nào làm nhạc; tiếng kẻ khảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Sẽ không có một người nào làm việc; không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng. Sẽ không có ai chuẩn bị thức ăn; tiếng cối xay cũng không nghe nữa. Thành phố sẽ bị bỏ rơi hoàn toàn đến mức ngay cả ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa. Sẽ chẳng còn có yêu đương gì nữa cả; người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới. Ba-by-lôn sẽ bị hủy diệt triệt để đến nỗi nó sẽ không bao giờ dấy lên được nữa, y như các tiên tri Cựu Ước đã dự đoán (Es 13:19-22; 14:22-23; Gie 50:13, 39; 51:37).
SỰ PHÁN XÉT ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH
“bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. Ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian” (18:23b-24)
Ba lý do sau cùng được đưa ra cho sự phán xét Ba-by-lôn. Thứ nhất, các nhà buôn của nó đều là kẻ tôn trọng trên đất, sử dụng sự giàu có của họ để thăng tiến lên các địa vị quyền lực, nổi bật và ảnh hưởng. Gia-cơ (Gia 2:6) đã hỏi: “Mà anh em lại khinh dể kẻ nghèo! Há chẳng phải kẻ giàu đã hà hiếp anh em, kéo anh em đến trước tòa án sao?“. Sau đó trong thư tín của ông, Gia-cơ tiếp tục lên án kẻ giàu vì họ ngược đãi người nghèo:
Kìa, tiền công con gặt gặt ruộng anh em, mà anh em đã ăn gian, nó kêu oan, và tiếng kêu của con gặt đã thấu đến tai Chúa các cơ binh. Anh em đã sống trên thế gian ăn uống vui sướng và xa xỉ, anh em đã làm cho lòng mình no nê trong ngày chém giết; anh em đã luận tội và đã giết người công bình, mà người chẳng cự lại. (Gia-cơ 5:4-6)
Ê-sai (Es 3:14-15; 5:8) và A-mốt (Am 4:1; 5:11; 8:4-6) cũng lên án người giàu vì sự họ sắp xếp và ngược đãi kẻ nghèo.
Lý do thứ hai khiến Ba-by-lôn bị xét đoán, ấy là vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. Tà thuật ra từ chữ pharmakeia, từ gốc trong Anh ngữ là “pharmacy” và “dược phẩm”. Từ này được sử dụng trong Tân Ước đề cập đến những cách thực hành phép thuật và sự thờ lạy hình tượng (9:21; Ga 5:20). Ba-by-lôn nắm chặt lấy thế giới không hoàn toàn do quyền lực quân sự và kinh tế của nó đâu, mà còn bởi ảnh hưởng thờ lạy hình tượng của nó nữa. Lý do cuối cùng cung ứng sự phán xét Ba-by-lôn là sự tàn sát dân sự của Đức Chúa Trời; ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian” (đối chiếu 6:10; 11:7; 13:7, 15; 16:6; 17:6). Sự vui mừng trên thiên đàng về sự sụp đổ của Ba-by-lôn cũng nhắc tới sự việc này: “Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra“ (19:1-2).
Lời lẽ của Chúa Jêsus trong Lu 12:16-21 hình thành kết luận xứng đáng cho sứ điệp nói tới sự phán xét giáng trên Ba-by-lôn thương mại:
Ngài lại phán cùng chúng lời ví dụ nầy: Ruộng của một người giàu kia sinh lợi nhiều lắm, người bèn tự nghĩ rằng: Ta phải làm thể nào? Vì không có đủ chỗ chứa hết sản vật. Lại nói: Nầy, việc ta sẽ làm: ta phá cả kho tàng và cất cái khác lớn hơn, thâu trữ sản vật và gia tài vào đó; rồi sẽ nói với linh hồn ta rằng: Linh hồn ơi, mầy đã được nhiều của để dành dùng lâu năm; thôi, hãy nghỉ, ăn uống, và vui vẻ. Song Đức Chúa Trời phán cùng người rằng: Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai? Hễ ai thâu trữ của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy”.