“Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA. Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê” (19:11-21)
Cách đây một thế kỷ, hầu hết mọi người đều tin rằng lịch sử đang không dứt tiến triển hướng tới điều không tưởng do con người lập ra. Cuộc Cách mạng Công nghiệp, cuộc diễu hành của khám phá khoa học, và tốc độ ngày càng tăng về cải cách xã hội dường như chẳng hề tiên đoán được gì trừ ra những ngày sáng sủa ở trước mặt. Tuy nhiên, ngày nay, hai cuộc chiến tranh cấp thế giới; vô số các cuộc chiến ở khu vực, dân sự và quốc gia; vô số hành vi khủng bố và bạo lực vô nghĩa; và sự sụp đổ gần như hoàn toàn của các giá trị đạo đức khiến cho chủ nghĩa lạc quan ra ngờ nghệch kỳ quặc.
Kinh Thánh dạy rằng mọi việc sẽ kỳ diệu ra tốt hơn, nhưng chỉ sau khi chúng trở nên tồi tệ không tưởng nổi. Chỉ có một giải pháp cho các nan đề của thế giới: sự tái lâm của Nhà Vua đích thực của nó, là Đức Chúa Jêsus Christ, để thiết lập chế độ quân chủ và quyền lực tuyệt đối đơn phương trong vương quốc trần thế của Ngài. Chỉ ở dưới quyền cai trị của Ngài, sẽ có hòa bình thay vì chiến tranh, công bằng thay vì bất công, và sự chánh trực thay vì gian ác. Nhưng biến cố vinh hiển này sẽ không xảy ra nếu không có sự chống đối dữ dội từ phía Sa-tan, các quỉ sứ hắn và thế giới của hạng tội nhân gian ác. Kỳ Đại Nạn, thời gian bảy năm ngay trước khi Đấng Christ tái lâm, sẽ nhìn thấy đế quốc lớn lao nhất trong các đế quốc cấp thế giới của con người, do một thiên tài gian ác được gọi là Anti-christ lãnh đạo. Địa cầu sẽ bị quỉ ám, là những kẻ đã ở đây lâu đời, những kẻ bị quăng xuống từ trời cùng với Sa-tan (12:9), và những kẻ đã được thả ra khỏi tù trong Kỳ Đại Nạn (9:1-10, 14-20). Kỳ Đại Nạn cũng sẽ là thời điểm leo thang sự gian ác của con người, bất chấp sự đổ ra không dứt cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời bằng những sự phán xét qua cái ấn, tiếng loa, và cái bát. Sự chai cứng ngoan cố tấm lòng của họ chống lại lẽ thật của Tin lành, khi ấy người ta thậm chí sẽ khăng khăng từ chối không chịu ăn năn (9:20-21; 16:9, 11). Ngay cả sự hủy diệt thành phố thủ phủ tráng lệ Ba-by-lôn của Anti-christ (các chương 17-18) sẽ gây ra những sự than thở lớn tiếng, nhưng chẳng có chút ăn năn nào hết.
Nhưng đang khi lộn xộn và rối loạn cai trị trên đất trong suốt Kỳ Đại Nạn, Hội thánh được cất lên sẽ được trình diện ở trên trời. Hội thánh, cô dâu của Chiên Con, sẽ háo hức chờ đợi tiệc cưới Chiên Con trên đất thuộc thời kỳ thiên hi niên (19:7). Nhưng trước khi lễ lạc tuyệt vời đó diễn ra, Nhà Vua trong vai trò chiến binh phải thắng cuộc chiến sau cùng. Các lực lượng của thiên đàng và địa ngục sẽ gặp nhau trong cuộc tàn sát đỉnh cao trong lịch sử của nhân loại, Chiến Trận Ạt-ma-ghê-đôn. Trong cuộc tàn sát sau cùng đó, thì thế của con người sẽ kết thúc, mọi kẻ thù của Đấng Christ sẽ bị đánh bại, và vương quốc của Ngài sẽ được thiết lập.
Dân sự của Đức Chúa Trời xuyên suốt lịch sử cứu chuộc đã háo hức lường trước sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ để đánh bại các kẻ thù của Ngài và dựng lên vương quốc của Ngài. Đó sẽ là thời điểm mà sự huỷ diệt Sa-tan được hoàn tất (Sa 3:15; Ro 16:20), khi Nhà Vua đích thực nhận được cây trượng cầm quyền cai trị (Sa 49:10), khi Đức Chúa Trời sẽ thiết lập ngai vàng cho Con cao trọng hơn của David (IISa 7:13, Es 9:7), khi Đức Chúa Con sẽ cai trị đất bằng một cây gậy sắt (Thi 2:6-9), khi các đội quân của Gót và Ma-gốc sẽ bị đánh tan (Exe 38-39), khi các nước sẽ bị phán xét (Gio 3:1-2, 12-14) sau khi họ bại trận trên chiến trường bởi Nhà Vua tái lâm (Xa 14:3-4), khi Giê-ru-sa-lem sẽ là trung tâm của vương quốc Đấng Mê-si (Xa 12:3-9), khi các thiên sứ gom kẻ ác lại để chịu phán xét (Mat 13:41-42; 25:41), và khi kẻ ác đối diện với cơn thạnh nộ và sự căm phẫn của Đức Chúa Trời (Ro 2:5-9), và khi Đức Chúa Jêsus Christ sẽ giáng xuống rõ ràng (Kh 1:7) từ trời trong ngọn lửa, mang theo sự báo trả cho những kẻ bức hại dân sự của Ngài (IITe 1:6-9; đối chiếu Kh 6:9 -11).
Sự đến lần thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ vì thế là đỉnh cao của lịch sử cứu chuộc. Những người tin Chúa trong mọi thời đại đã sốt sắng lường trước biến cố vinh hiển đó (đối chiếu Es 64:1-2). Thực vậy, sứ đồ Phao-lô xác định Cơ Đốc nhân là những người “yêu mến sự hiện ra của Ngài” (IITi 4:8). Tuy nhiên, những người tin Chúa đều bị mê hoặc bởi những việc của đời và không yêu mến sự hiện ra của Đấng Christ như họ đáng phải có. Chắc chắn những người tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn sẽ không có nan đề đó. Họ sẽ bị xã hội ruồng bỏ, bắt bớ, săn đuổi (đối chiếu 13:17), họ sống liên tục dưới án tử hình (13:15) trong một thế giới bị quỉ ám độc ác khôn xiết. Sự đến của Đấng Christ sẽ là điều mà họ khao khát và cầu khẫn.
Sự đến lần thứ hai của Đấng Christ quan trọng đến nỗi Kinh Thánh liệt kê một số lý do thuyết phục cho thấy tại sao Chúa Jêsus phải trở lại địa cầu. Thứ nhất, vô số lời hứa của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, tỉ như các lời hứa được nêu ra ở trên, đòi hỏi sự trở lại của Đấng Christ. Tương tự, các lời hứa của chính mình Chúa Jêsus cũng đòi hỏi sự tái lâm của Ngài (thí dụ, 3:11; 22:7, 12, 20; Mat 24:27, 30, 37-44; 25:31; 26:64). Sự bảo đảm của Đức Thánh Linh, là Thần Lẽ Thật (Gi 14:17; 15:26; 16:13), là một lý do khác để Chúa Jêsus phải trở lại, vì Ngài đã cảm thúc các trước giả Tân Ước viết về sự tái lâm của Đấng Christ (đối chiếu ICo 1:7; Phi 3:20; Co 3:4; ITe 4:16-17; He 9:28; Gia 5:7-8; IPhi 1:13; 5:4; IGi 3:2). Nếu Đấng Christ không trở lại, Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh sẽ phạm tội khi đưa ra các lời hứa giả dối — tất nhiên, là điều bất khả thi, vì Đức Chúa Trời không có khả năng nói dối (Dan 23:19; Tit 1:2; He 6:18). Chương trình của Đức Chúa Trời cho Hội thánh cũng đòi hỏi sự trở lại của Đấng Christ. Ngài phải cất Hội thánh lên trời để trình diện Hội thánh chuẩn bị cho tiệc cưới Chiên Con (19:7-10). Chúa Jêsus cũng phải trở lại vì cớ chương trình của Đức Chúa Trời cho các nước — sự phán xét của họ (14:14-20; Gio 3:1-2, 12-14; Mat 25:31-46), và cho Israel — sự cứu rỗi của số dân sót Do Thái tin Chúa (Exe 36:25-35; 37:1…; Ro 11:25-27). Sự nhục nhã của Đấng Christ trong lần đến đầu tiên của Ngài, khi Ngài bị khinh dể, thù ghét (Es 53:3; Mat 26:67; 27:27-31), đòi hỏi sự trở lại của Ngài để tỏ ra sự vinh hiển của Ngài (Mat 25:31). Sự Sa-tan được tôn cao là một lý do khác mà Chúa Jêsus phải trở lại với đất. “Chúa đời này” (IICo 4:4; đối chiếu Gi 12:31; 14:30; 16:11; IGi 5:19) sẽ không được phép giữ lấy ngai vàng bằng cách chiếm đoạt đời đời được (Lu 4:5-6). Đấng Kế Tự hợp pháp ngai vàng của đất phải trở lại, đánh bại kẻ chiếm đoạt rồi lấy lại những gì hợp pháp thuộc về Ngài (đối chiếu 20:1-3, 10). Sau cùng, niềm hy vọng và trông đợi của dân sự Chúa đòi hỏi sự trở lại đó của Đấng Christ (6:9-10; Tit 2:13; IGi 3:2-3).
Sự Đến Lần Thứ Hai phải được phân biệt đối với Sự Cất Lên của Hội thánh xảy ra trước Kỳ Đại Nạn bảy năm; các phần mô tả khác trong Kinh thánh về hai biến cố cho thấy rằng chúng khác biệt nhau. Ở Sự Cất Lên, Đấng Christ đến với các thánh đồ Ngài (Gi 14:3; ITe 4:16-17); ở Lần Đến Thứ Hai, Ngài đến cùng với họ (xem phần bàn bạc của câu 14 dưới đây). Hơn nữa, ở Sự Cất Lên, Đấng Christ gặp các thánh đồ của Ngài trên không trung (ITe 4:17) để đưa họ lên trời (Giăng 14:2-3); ở Lần Đến Thứ Hai, Ngài giáng xuống với họ từ trời xuống đất (Xa 14:4).
Có người nỗ lực kết hai sự phân biệt này lại bằng cách lập luận rằng những người tin Chúa gặp gỡ Đấng Christ trên không trung, rồi giáng xuống đất cùng với Ngài. Bằng cách làm như vậy, họ chủ yếu làm cho Sự Cất Lên và Sự Đến Lần Thứ Hai là cùng một biến cố. Nhưng quan điểm đó, được những người theo thuyết hậu-Đại Nạn bảo vệ, làm trầy trật hoặc đặt Sự Cất Lên ra ngoài lề và làm cho sự kiện ấy chẳng có mục đích gì hết, như Thomas R. Edgar lưu ý:
Đâu là mục đích cho việc giữ một số dân sót còn sống qua Kỳ Đại Nạn để một số Hội thánh tồn tại rồi sau đó đưa họ ra khỏi tình trạng của họ và khiến họ ra giống như những người không còn sống? Tại sao lại giữ họ cho việc này chứ? [Sự] giải thích cho rằng họ hình thành đội hộ tống cho Chúa Jêsus là không chắc chắn. Các thánh đồ còn sống được cất lên sẽ giống chính xác như các thánh đồ đã chết được sống lại. Tại sao những người tin Chúa đã chết có thể hoàn thành mục đích này? Tại sao giữ một số dân sót còn sống (qua Kỳ Đại Nạn), sau đó cất họ lên và hoàn thành không khác gì hơn là cứ để họ chết đi? Không có một ý đồ hay thành tựu nào trong một sự cất lên [như vậy].
Với hết thảy các thánh đồ trong mọi thời đại quá khứ và các đạo quân [thiên sứ] ở trên trời sẵn có làm đội hộ tống và sự thực cho thấy rằng các thánh đồ [được cất lên] chẳng hộ tống gì được nếu họ đã bị giết, tại sao lại cho phép Hội thánh phải chịu khổ sở, hầu hết những người tin Chúa [phải] chịu giết, rồi buông tha một ít cho sự cất lên mà không có mục đích nào rõ ràng, ngay trước khi [Kỳ Đại Nạn] kết thúc? . . . Có phải đây là một lời hứa không? Ngươi sẽ bị khổ sở, bị giết, song ta sẽ giữ một vài người còn sống, rồi đưa họ ra ngay trước thời điểm tốt lành đến. Tất nhiên, lập luận như vậy đòi hỏi một số giải thích về sự thiếu mục đích rõ ràng cho một sự cất lên hậu-Đại Nạn cho dù là loại nào.
Chúng ta có thể lưu ý như sau đây:
- Một biến cố bất thường, có tính ảnh hưởng, một lần đủ cả như sự cất lên phải có mục đích cụ thể. Đức Chúa Trời có các mục đích cho mọi hành động của Ngài. Mục đích này phải là một mục đích có thể đạt được chỉ bởi một biến cố bất thường như một sự cất lên của các thánh đồ đang còn sống.
- Mục đích này phải nhất trí với các nguyên tắc vận hành chung của Đức Chúa Trời.
- Có ít hoặc không có lý do hiển nhiên nào để cất những người tin Chúa lên khi Chúa tái lâm và ngay trước khi dựng nên vương quốc đã được trông đợi lâu nay với mọi triển vọng vui vẻ của nó.
- Có lý do chính đáng để giải cứu hết thảy những ai là người tin Chúa rồi từ Kỳ Đại Nạn, họ sẽ là các mục tiêu bắt bớ đặc biệt trong đó.
- Để giải cứu ra khỏi một thời kỳ thử thách bao quát và sự huỷ diệt thuộc thể như Kỳ Đại Nạn đòi hỏi loại bỏ khỏi đất bằng sự chết hay sự cất lên. Sự chết không còn là thích hợp như lời hứa trong Khải huyền 3:10.
- Sự giải cứu ra khỏi kỳ đại nạn trước khi nó khởi sự hiệp với những cách xử lý trước đây của Đức Chúa Trời với Nô-ê và Lót và được trình bày trực tiếp như một nguyên tắc hành động của Đức Chúa Trời đối với những người tin Chúa trong II Phi-e-rơ 2:9. (“Robert H. Gundry and Revelation 3:10,” Grace Theological Journal 3 [Spring 1982]: 43-44).
Richard L. Mayhue cung ứng lý do khác cho thấy sự cất lên hậu-Đại Nạn (là điều xảy ra lúc có Sự Đến Lần Thứ Hai) là vô mục đích: “Nếu sự cất lên diễn ra trong sự nối kết với sự đến [thứ hai] vào thời điểm hậu-Đại Nạn của Chúa chúng ta, sự phân tách sau đó giữa chiên và dê (xem Mat 25:31 và phần sau đây) sẽ là thừa thải. Sự phân chia sẽ diễn ra trong chính hành động của [sự cất lên]” (Snatched Before the Storm! A Case for Pretribulationism [Winona Lake, Ind.: BMH,1980],9).
Thậm chí không có một gợi ý nào về sự phán xét trong các phân đoạn mô tả Sự Cất Lên (Gi 14:1-3; ITe 4:13-18), nhưng sự phán xét đóng một vai trò nổi bật trong Lần Đến Thứ Hai (đối chiếu 19:11, 15, 17-21).
Những dấu hiệu kịch tính đi kèm với Lần Đến Thứ Hai, sự tối đen của mặt trời và mặt trăng và sự rúng động của “các thế lực trên trời” (Mat 24:29-30), không được nhắc tới trong các phân đoạn mô tả Sự Cất Lên.
Trong phần mô tả về Lần Đến Thứ Hai, Khải huyền 19 không nhắc tới một là sự dời chuyển (cất lên) của những người tin Chúa còn sống (ICo 15:51-52), hay sự sống lại của những người tin Chúa đã chết (đối chiếu ITe 4:16).
Phân đoạn Kinh Thánh đỉnh cao này có thể được chia thành bốn phần: sự trở lại của Đấng Chinh Phục, chế độ của Đấng Chinh Phục, sự cai trị của Đấng Chinh Phục, và chiến thắng của Đấng Chinh Phục.
SỰ TRỞ LẠI CỦA ĐẤNG CHINH PHỤC
Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời (19:11-13)
Như đã nói ở 4:1, trời mở ra trước ánh mắt lạ lùng của Giăng. Nhưng không giống như 4:1, trời mở ra lần nầy không phải để cho Giăng vào, mà để cho Chúa Jêsus bước ra. Thời điểm đã đến vào lúc sau cùng cho sự mặc thị trọn vẹn, vinh hiển của Chúa Chí Cao. Đây là thời điểm mà mọi sự trong mặc thị (cũng như hết thảy lịch sử cứu chuộc) đã chỉ ra, thời điểm mà chính mình Chúa Jêsus đã phán trong Mat 24:27-31:
“Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy. Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó. Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia”.
Khi bối cảnh đầy kịch tính ấy mở ra, Giăng đang đứng sửng sờ, sự chú ý của ông đang nhắm vào Đấng Cỡi Ngựa oai nghi, là Vua toàn năng. Chúa Jêsus, Ngài là Đấng đã thăng thiên về trời (Cong 1:9-11) Ngài ngự bên hữu của Đức Chúa Cha tại đó (Cong 5:31; 7:55-56; Ro 8:34; Eph 1:20; Co 3:1; He 1:3, 13; 8:1;10:12; 12:2; IPhi 3:22), sắp sửa tiếp nhận vương quốc mà Đức Chúa Cha đã hứa với Ngài. Trong sự mặc thị trước đó, Giăng đã nhìn thấy Chúa Jêsus nhận lãnh tước hiệu xứng đáng với mọi việc làm trên đất:
Rồi tôi thấy trong tay hữu Đấng ngồi trên ngôi một quyển sách viết cả trong lẫn ngoài, có đóng bảy cái ấn. Tôi cũng thấy một vị thiên sứ mạnh mẽ cất tiếng lớn kêu rằng: Ai đáng mở quyển sách nầy và tháo những ấn nầy? Dầu trên trời, dưới đất, bên dưới đất, không ai có thể mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa. Vì không có ai đáng mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa, nên tôi khóc dầm dề. Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng, thì có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra. Tôi lại thấy chính giữa ngôi và bốn con sanh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết; Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, là bảy vì thần của Đức Chúa Trời sai xuống khắp thế gian. Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi. (5:1-7)
Chiên Con trong sự mặc thị đó đã trở thành Nhà Vua chinh phục.
Chúa Jêsus không còn được phác hoạ giống như Ngài đã ở trong sự sĩ nhục nữa: “nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái” (Xa 9:9). Thay vì thế, Ngài cỡi con ngựa bạch truyền thống của những tướng lãnh La-mã chiến thắng trong các đám rước của họ qua đường phố Rome. Bạch cũng tượng trưng cho tính cách không vít, không tì, tuyệt đối thánh khiết của Đấng Cỡi Ngựa. Con ngựa, giống như các thứ mão triều thiên (câu 12), thanh gươm bén (câu 15), cây gậy sắt (câu 15) và bàn ép rượu là biểu tượng; sự đến của Đấng Christ là một thực tại. Lối nói bóng bẩy tiêu biểu cho nhiều khía cạnh khác nhau của thực tại đó — chiến thắng của Đấng Christ đối với các kẻ thù của Ngài, quyền tối thượng của Ngài, và sự phán xét của Ngài đối với hạng tội nhân.
Tiếp tục phần mô tả của ông về bối cảnh đáng ngạc nhiên ở trước mặt, Giăng ghi nhận rằng Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật. Không có một danh xưng nào thích hợp dành cho Đức Chúa Jêsus Christ, trước đây trong sự mặc thị Ngài được gọi là “Đấng làm chứng thành tín chân thật” (3:14). Ngài thành tín với các lời hứa của Ngài (đối chiếu IICo 1:20) và những gì Ngài phán luôn luôn là lẽ thật (Gi 8:45-46; Tit 1:2). Mặc dù có người muốn chọn và lựa những sự dạy của Chúa Jêsus mà họ muốn chấp nhận, Ngài vẫn thành tín với các lời hứa của Ngài về cơn thạnh nộ và sự phán xét như Ngài đã hứa, là các lời hứa của Ngài về ân điển và ơn cứu rỗi. Phần mô tả của Chúa Jêsus là trung tín và chân thật được đánh dấu trái ngược với sự bất trung và dối trá của Sa-tan (12:9), đế quốc gian ác của Anti-christ (18:23) và hạng người gian ác (IITi 3:13). Chính sự thực cho rằng Ngài đang trở lại y như Ngài đã hứa khẳng định rằng Chúa Jêsus là Thành Tín Chân Thật.
Bởi vì Chúa Jêsus là thành tín với lời của Ngài và bản chất công bình, thì theo đó Ngài lấy sự công bình mà xét đoán. Bổn tánh thánh khiết của Ngài đòi hỏi một phản ứng công bình, thánh khiết đối với tội lỗi. Và bởi vì Ngài luôn luôn làm theo những gì Ngài phán, Ngài phải xét đoán kẻ ác (Mat 16:27; 25:31-46; Gi 5:22, 27; đối chiếu Cong 10:42; 17:31; Ro 2:16; IITe 1:7-9; IITi 4:1). Chúa Jêsus đã đến lần thứ nhứt làm Cứu Chúa; Ngài sẽ trở lại làm Quan Án. Khi Ngài đến lần thứ nhứt, hạng người gian ác, bao gồm Phi-lát, Hê-rốt, An-ne và Cai-phe xét xử Ngài; khi Ngài tái lâm, Ngài sẽ xét đoán hết thảy hạng người gian ác (Cong 17:31). Và không những Ngài là Quan Án của họ, mà Ngài còn là đao phủ nữa (các câu 15, 21). Các thiên sứ có thể gom kẻ ác lại để chờ xét đoán (Mat 13:41), nhưng Chúa Jêsus sẽ ra phán quyết trên họ.
Không còn là Đầy Tớ Chịu Khổ trong sự hoá thân thành nhục thể của Ngài nữa, Đức Chúa Jêsus Christ được nhìn thấy trong mặc thị này là Nhà Vua Chiến Binh, Ngài chiến đấu chống lại những kẻ thù của Ngài. Ngài là đao phủ của hạng tội nhân bất kỉnh, vô tín. Phần tham khảo duy nhất khác trong Kinh Thánh nói tới Chúa Jêsus là chiến binh có ở 2:16, khi Ngài cảnh cáo hội thánh theo thế gian tại Bẹt-găm: “Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó”. Tuy nhiên, điều này không phù hợp với bổn tánh của Đức Chúa Trời. Sau sự giải cứu của họ khỏi các lực lượng Ai-cập ở Biển Đỏ, Israel đã hát: “Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ” (Xu 15:3; đối chiếu Thi 24:8; 45:3-5). John Phillips viết:
Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ! Đó là một tước hiệu tuyệt vời dành cho Con của Đức Chúa Trời. Alexander White nói, khi bình luận về quyển Thánh Chiến của Bunyan,
Thánh Kinh có nhiều cuộc chiến và tin đồn về chiến tranh; cuộc chiến của Đức Giê-hô-va; cuộc chiến của Giô-suê và Các Quan Xét; cuộc chiến của David với nhiều bài ca ra trận huy hoàng khác; cho đến cuộc chiến nổi tiếng nhất của Đức Chúa Trời Israel trong Cựu Ước là Chúa của các đạo binh; và rồi trong Tân Ước chúng ta có Đức Chúa Jêsus Christ được mô tả là Quan Tướng sự cứu rỗi của chúng ta … Và sau đó toàn bộ Kinh thánh được tôn tặng là một quyển sách đầy âm vang chiến trận . . . cho đến khi nó kết thúc với thành phố hòa bình, ở đó họ treo kèn trong đại sảnh và không học đòi chiến tranh nữa.
Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ! Ngài lấy sự công bình mà xét đoán và chiến đấu. Sự xét đoán đang diễn ra suốt việc tháo ra mấy cái ấn, tiếng loa trổi lên, và việc đổ ra mấy cái bát. Bây giờ Ngài lâm trận. Ngài, là Đấng trong nhiều thế kỷ đã nhịn nhục chịu đựng những sự chế nhạo, các sĩ nhục, những cách cư xử đê tiện của con người; trong nhiều thế kỷ Ngài đã suy gẫm đồi Gô-gô-tha và mọi sự nó tỏ ra về lòng thù hận và khinh miệt của con người; và Ngài, qua hàng thiên niên kỷ đã thực hiện sự làm hòa qua huyết của thập giá đó, giờ đây lâm trận qua huyết ấy. (Exploring Revelation, Rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N. J.: Loizeaux, 1991], 232).
Những kẻ thù nghịch của Chúa Jêsus lần này sẽ là hạng tội nhân cứng lòng, họ bất chấp những sự phán xét của Ngài và xem khinh sứ điệp Tin lành trong suốt Kỳ Đại Nạn. Bất chấp mọi sự phán xét gây tàn phá họ đã kinh nghiệm, và việc rao giảng Tin lành quyền năng họ đã nghe, họ cứ cứng cổ chối bỏ không chịu ăn năn (9:20-21; 16:9, 11). Một khi sự phán xét lẫn việc giảng đạo cũng không cảm động họ ăn năn, Chúa Jêsus sẽ tái lâm để huỷ diệt họ và quăng họ vào địa ngục.
Không giống như những nhà chinh phục khác mà thế gian đã nhìn thấy, sự tham lam, tham vọng, kiêu ngạo, hoặc quyền lực sẽ không tác động được Nhà Chinh Phục này. Ngài sẽ đến trong sự công bình hoàn toàn, trong sự thánh khiết trọn vẹn và trong sự phù hợp đúng mức với từng chi tiết thánh khiết. Thiên đàng không thể sống bình an với tội lỗi, vì “mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược“ (Ha 1:13). Có một giới hạn trong sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời. Sự công bình không luôn luôn dung chịu sự bất công; lẽ thật không thể dung túng những lời dối trá cho đến đời đời; loạn nghịch không thể chấp nhận cứ tiếp diễn mãi cho đến đời đời. Hạng tội nhân không thể chữa được, không phương chạy chữa, cứng lòng sẽ đối diện với sự huỷ diệt; sự thương xót bị lạm dụng và ân điển bị chối bỏ sẽ dẫn đến sự phán xét tối hậu.
Khi mô tả sự xuất hiện cá nhân của Đấng Cỡi ngựa oai nghi, đáng kinh sợ, Giăng viết rằng mắt Ngài như ngọn lửa (xem phần bàn bạc 1:14 trong Khải huyền 1-11, chú giải Tân Ước MacArthur [Chicago: Moody, 1999]). Không có gì thoát khỏi cái nhìn xuyên thấu của Ngài. Ngài có thể nhìn vào những chỗ sâu thẳm nhất của tấm lòng con người, bởi vì “thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” (He 4:13). Ánh mắt đó đã phản ánh sự dịu dàng và niềm vui mừng khi Ngài nhóm con cái nhỏ bé lại với chính mình Ngài. Chúng phản ánh sự thương xót khi Ngài nhìn thấy những con người đau khổ và bất mãn, lang thang vô mục đích qua cuộc đời như chiên không có người chăn. Và chúng đã phản ánh sự tha thứ khi Ngài phục hồi Phi-e-rơ, là người đã bị tội lỗi chà nát vì sự chối bỏ gây sốc của ông đối với Thầy của mình. Đôi mắt đó đã bật khóc về số phận của Jerusalem không chịu ăn năn và về sự buồn rầu, đau khổ và chết chóc trong thế giới bị rủa sã vì cớ tội lỗi này, Giăng nhìn thấy loé lên với ngọn lửa phán xét.
Trên đầu Ngài Giăng để ý thấy Đấng Christ đã đội nhiều mão triều thiên, một chuyễn ngữ tiếng Hy-lạp diad¯ema, từ này đề cập đến vương miện của nhà vua (đối chiếu 12:3; 13:1). Trong trường hợp này, Chúa Jêsus đã đội chúng để biểu hiện đẳng cấp vương giả của Ngài và uy quyền của bậc vua chúa. Nhiều chỉ ra sự thâu thập của Ngài về mão miện của các vua, cho thấy rằng một mình Ngài là vua tễ trị trên đất. Thâu thập vương miện của nhà vua chiến thắng là thông lệ trong thế giới đời xưa. Sau khi đánh bại dân Am-môn, David “lột cái mão triều thiên của vua dân Am-môn đội trên đầu … Đa-vít đặt nó ở trên đầu mình” (IISa 12:30). Một mình Đấng Christ sẽ trị vì, kể từ khi một mình Ngài là “Vua các vua, Chúa các chúa” (câu 16), và “nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời” (11:15). Đấng Christ đội nhiều mão triều thiên quả thật là một sự đánh đổi công bằng về một chiếc mão gai (đối chiếu Phi 2:8-11).
Hơn nữa, Giăng để ý thấy Chúa Jêsus có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. Mọi suy tưởng đến ý nghĩa của danh đó rõ ràng là vô mục đích, một khi phân đoạn Kinh Thánh nói rõ ràng là ngoài Ngài ra không ai biết được. Thậm chí vị sứ đồ đã được cảm thúc như Giăng cũng không thể hiểu được danh ấy. Có thể ai cũng biết đến danh ấy sau sự tái lâm của Ngài.
Việc mô tả yếu tố sau cùng bề ngoài của Đấng Christ, Giăng viết rằng Ngài mặc áo nhúng trong huyết. Huyết ở đây không tiêu biểu cho huyết Ngài đã đổ ra trên thập tự giá; đây là hình ảnh nói tới sự phán xét, chớ không phải sự cứu chuộc. Huyết là máu của các kẻ nghịch thù của Ngài đã bị giết. Hình ảnh của phân đoạn này tương tự với hình ảnh ở Es 63:1-6:
Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? Ấy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi! Áo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao? Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đang khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết. Vì ta đã định ngày báo thù trong lòng ta, và năm cứu chuộc của ta đã đến. Ta đã xem, chẳng có ai đến giúp ta; ta lấy làm lạ vì chẳng có ai nâng đỡ ta! Cánh tay ta bèn cứu ta, sự thạnh nộ ta bèn nâng đỡ ta. Ta đã giày đạp các dân trong cơn giận; đã khiến chúng nó say vì sự thạnh nộ ta, và đã đổ máu tươi chúng nó ra trên đất”.
Thắc mắc phát sinh, như lý do tại sao áo xống Ngài được nhúng trong huyết trước khi trận chiến bắt đầu. Nhưng đây không phải là trận đánh đầu tiên của Ngài; đây là trận đánh sau cùng. Ngài đã chiến đấu cho dân sự Ngài xuyên suốt lịch sử cứu chuộc, và bộ quân phục mang đầy những vết máu của nhiều cuộc tàn sát trước đó. Vào ngày ấy, chúng sẽ bị nhuốm lem luốt như chưa hề có trước đó khi Ngài “giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng” (câu 15).
Danh của Đấng cỡi ngựa xưng là Lời của Đức Chúa Trời xác định Ngài không lầm lẫn là Đức Chúa Jêsus Christ (Gi 1:1, 14; IGi 1:1). Thân Vị thứ hai của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Con của Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể được xưng là Lời của Đức Chúa Trời vì Ngài là sự mặc thị của Đức Chúa Trời. Ngài là sự tỏ ra trọn vẹn tâm trí, ý chí, và mục đích của Đức Chúa Trời: “Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài” (He 1:3).
CHẾ ĐỘ CỦA ĐẤNG CHINH PHỤC
Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài (19:14)
Đức Chúa Jêsus Christ sẽ không trở lại một mình đâu, nhưng sẽ được đi kèm bởi các đạo binh trên trời (đối chiếu 17:14). Bốn bộ phận hình thành các đạo binh vinh hiển này. Trước đó trong chương 19, cô dâu của Chiên Con (Hội thánh) được phác hoạ đang mặc vải gai mịn, trắng và sạch (các câu 7-8). Những người tin Chúa đã được tôn vinh hiển sẽ đi cùng với Đấng Christ. Cũng một thể ấy là những người tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn, họ cũng được phác hoạ đang ở trên trời mặc áo choàng trắng (7:9). Nhóm thứ ba là các thánh đồ của Cựu Ước, họ được phục sinh vào cuối Kỳ Đại Nạn (Da 12:1-2). Sau cùng, các thiên sứ thánh cũng sẽ đi cùng với Đấng Christ (Mat 25:31). Những con ngựa bạch được các đạo binh trên trời cỡi đó không phải là ngựa theo nghĩa đen đâu, chẳng khác gì hơn những con ngựa được cỡi bởi đạo binh của địa ngục ở 9:7 và 16. Không giống như Đức Chúa Jêsus Christ, đạo binh trên trời không có vũ trang; một mình Ngài sẽ tiêu diệt các kẻ thù nghịch Ngài. Các thánh đồ sẽ đến không phải để chiến đấu cùng với Chúa Jêsus, song để đồng trị với Ngài (20: 4-6; ICo 6:2).
SỰ CAI TRỊ CỦA ĐẤNG CHINH PHỤC
“Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa” (19:15-16)
Sự cai trị của nhà vua được mô tả bằng hình ảnh sinh động, mạnh mẽ. Giăng để ý thấy trước tiên rằng có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra. Vị sứ đồ đã nhìn thấy lưỡi gươm trong một sự mặc thị trước đây (1:16), ở đó nó được dùng để bảo vệ Hội thánh chống lại sự tấn công của các lực lượng Sa-tan. Còn ở đây, đó là lưỡi gươm của sự phán xét, lưỡi gươm hừng hực gây chết chóc cho các kẻ thù nghịch Nhà Vua. Lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra tượng trưng cho quyền phép gây chết chóc trong Lời của Đấng Christ. Ngài từng thốt ra lời lẽ của sự yên ủi, nhưng bây giờ Ngài thốt ra lời lẽ của sự chết. Như đã lưu ý trước đây, các đạo binh cùng đi kèm với Đấng Christ khi Ngài tái lâm không có mang vũ khí chi hết. Chỉ một mình Ngài cầm lưỡi gươm mà với nó Ngài sẽ giết kẻ ác.
Và Đấng Christ sẽ dùng lưỡi gươm đó với tác dụng gây chết chóc khi Ngài đánh các dân. Kẻ được chọn của Ngài, cả hai từ các dân Ngoại và từ Israel, sẽ được bảo tồn; kẻ ác Ngài sẽ giết ngay tức thì. Kẻ chết sẽ bao gồm hết thảy những người nhóm lại để tham dự trận đánh tại Ạt-ma-ghê-đôn; không một ai sẽ tránh thoát. Phần còn lại những người chưa được chuộc của thế gian sẽ bị phán xét và bị hành hình theo sự phán xét chiên và dê (Mat 25:31-46) theo sau sự tái lâm của Đấng Christ. Đây là đòn sau cùng của sự chết trong Ngày của Đức Giê-hô-va (đối chiếu Es 66:15-16; Exe 39:1-4, 17-20; Gio 3:12-21; Mat 25:31-46; IITe 1:6-9; 2:8).
Sự phán xét nghiêm ngặt, nhanh chóng đánh dấu sự khởi đầu vương quốc của Đấng Christ sẽ là khuôn mẫu sự cai trị của Ngài xuyên suốt thời kỳ Thiên Hi niên. Trong suốt sự trị vì ngàn năm của Ngài, Ngài sẽ cai trị các dân bằng cây gậy sắt (đối chiếu 12:5; Thi 2:8-9); Ngài sẽ nhanh chóng xét đoán mọi tội lỗi và ngay lập tức đánh hạ bất kỳ một sự loạn nghịch nào. Mọi người buộc phải tuân theo luật pháp của Ngài hoặc phải đối mặt với sự phán xét ngay lập tức. Khi sử dụng cùng một hình ảnh nói tới sự cai trị bằng cây gậy sắt, Chúa Jêsus hứa rằng những người tin Chúa sẽ cai trị dưới quyền của Ngài trong vương quốc: “Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước: kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta”. (2:26-27).
Trở lại với sự phán xét nơi phần khởi đầu sự cai trị của Đấng Christ, Giăng viết rằng Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. Biểu tượng sinh động đó nói tới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đến từ cách thực hành xưa kia dậm mạnh chân lên các trái nho là một phần của việc làm ra rượu. Tiếng bì bõm của nước nho phác hoạ việc đổ máu của kẻ thù Đức Chúa Trời (đối chiếu 14:18-20). Hình ảnh cái bàn ép cũng phác hoạ sự phán xét trong Cựu Ước. Es 63:1-3 mô tả sự huỷ diệt của Đấng Mê-si đối với kẻ thù không đội trời chung của Israel là Ê-đôm, tiêu biểu cho thế giới thù ghét Đức Chúa Trời:
Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? Ấy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi! Áo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao? Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đang khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết.
Gio 3:12-14 cũng sử dụng hình ảnh bàn ép nho để mô tả sự phán xét của Đấng Mê-si giáng trên các kẻ thù Ngài:
Các nước khá dấy lên, khá lên trong trũng Giô-sa-phát, vì ở đó là nơi ta sẽ ngồi đặng phán xét hết thảy các dân tộc xung quanh. Hãy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã chín. Hãy đến, hãy đạp, vì bàn ép đã đầy; các thùng đã tràn, vì tội ác chúng nó là lớn. Đoàn đông dường nào, đoàn đông dường nào tại trong trũng đoán định! Vì trong trũng đoán định, ngày Đức Giê-hô-va đã gần.
Ở cái nhìn sau cùng nơi Nhà Vua tái lâm, Giăng nhìn thấy trong sự mặc thị của ông, rằng Đấng Christ đã đeo một lá cờ quanh áo tơi và trên đùi Ngài (ngang ngực phủ xuống phần đùi Ngài khi đang cỡi ngựa), trên đó có đề một danh là VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA (đối chiếu 17:14; Phu 10:17; ITi 6:15). Đây là danh xưng thứ ba được trao cho Đức Chúa Jêsus Christ trong phân đoạn Kinh Thánh này. Danh xưng khó hiểu của câu 12 có thể tỏ ra sự kín nhiệm về thần tánh quan trọng của Ngài. Câu 13 gọi Ngài là Lời của Đức Chúa Trời, nói tới sự hoá thân thành nhục thể của Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Danh xưng “VUA CỦA CÁC VUA VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA” nói tới sự đắc thắng tối thượng của Ngài trên mọi kẻ thù và quyền cai trị tuyệt đối của Ngài trong vương quốc chẳng bao lâu nữa sẽ được thiết lập.
CHIẾN THẮNG CỦA NHÀ CHINH PHỤC
Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa khoảng không của trời, mà rằng: Hãy đến, bây hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dõng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. (19:17-21)
Một lần nữa, một vị thiên sứ đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh của kỳ tận thế được mô tả trong sách Khải huyền. Giăng nhìn thấy thiên sứ này đứng trong mặt trời; nghĩa là, ở gần mặt trời, có thể ở phía trước mặt trời, làm lu mờ một phần mặt trời. Ngài đứng ở một vị trí nổi bật để đưa ra lời công bố quan trọng này. Rõ ràng bóng tối tăm trên toàn cầu được gán với cái bát thứ năm (16:10) đã được dỡ bỏ, kể từ lúc mặt trời có thể nhìn thấy được rõ ràng. Việc dỡ bỏ bóng tối tăm trước đó cũng sẽ giải thích các trụ khói từ sự phá hủy Ba-by-lôn đã được nhìn thấy ở một khoảng xa (18:9-19). Tuy nhiên, bóng tối tăm sẽ sớm phủ chăn lại cho cả đất, nhấn mạnh sự vinh hiển sáng láng, rực rỡ của Đức Chúa Trời khi tái lâm (Mat 24:29).
Như các thiên sứ thường xuyên làm trong sách Khải huyền (7:2; 10:1-3; 14:15; 18:1-2), vị thiên sứ cất tiếng lớn kêu. Ngài kêu các chim chóc bay giữa khoảng không của trời (đối chiếu 8:13; 14:6), mời chúng đến ăn trên những kết quả của cuộc tàn sát chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra. Vị thiên sứ nhơn đó công bố chiến thắng của Đấng Christ trước khi trận đánh mở ra. Lời mời gọi của Ngài với chim chóc gợi lại lời lẽ của Chúa Jêsus trong Mat 24:27-28: “Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy. Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó” (đối chiếu Lu 17:37).
Thiên sứ truyền cho chim chóc nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời. Đây không phải là lần đầu tiên chim chóc dự tiệc trên xác thối của con người trong Kinh Thánh đâu. Es 18:6 mô tả các kết quả của sự phán xét giáng trên Cút (Ê-thi-ô-pi ngày nay), như sau: “Chúng nó sẽ cùng nhau bị bỏ lại cho chim ăn thịt trong núi, và cho cả thú vật trên đất; những chim ăn thịt đó sẽ dùng mà qua mùa hạ”. Giê-rê-mi nói rằng, sau khi người Ba-by-lôn huỷ diệt thành Jerusalem: “Những thây của dân nầy sẽ làm đồ ăn cho chim trời và thú vật dưới đất, chẳng ai xua đuổi” (Gie7:33). Trong phần tương ứng với phân đoạn Kinh Thánh hiện tại, Ê-xê-chi-ên đã viết:
“Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nói cùng cả loài chim và hết thảy các loài thú đồng rằng: Hãy nhóm lại, hãy từ bốn phương đến vì một của lễ mà ta dọn cho bay, tức là một của lễ lớn trên các núi Y-sơ-ra-ên, để bay được ăn thịt và uống huyết. Bay sẽ ăn thịt của người mạnh bạo, uống huyết của các quan trưởng trong thiên hạ, những chiên đực, chiên con, dê đực, bò đực mập của Ba-san. Bay sẽ ăn mỡ cho no, uống huyết cho say, trong hi sinh mà ta giết cho bay. Nơi bàn ta, bay sẽ ăn no những ngựa và xe trân, những người mạnh bạo, và mọi lính chiến, Chúa Giê-hô-va phán vậy” (Exe 39:17-20)
Ngày của Đức Giê-hô-va tuy ngắn ngủi nhưng rất thảm khốc sẽ kết quả trong một cuộc tàn sát chưa từng thấy, với hàng triệu xác chết không đếm được trải suốt chiều dài hai trăm dặm (14:20). Ngay cả sau khi chim chóc đã ngốn, nhồi nhét các xác chết ấy, sẽ phải tốn mất bảy tháng để chôn những xác chết còn lại (Exe 39:12).
Đúng là một sự thực rất quan trọng khi xem xét rằng mỗi năm hàng triệu con chim của nhiều loài di cư về phương Nam từ châu Âu sang châu Phi. Chúng bay qua vùng đất Israel trên hành trình của chúng. Số lượng các loài chim này và mô hình di cư của chúng là nghiên cứu đặc biệt của chính phủ Do-thái vì cớ mối đe dọa mà chúng gây ra cho máy bay. Điều này chắc chắn có thể trả lời câu hỏi về địa điểm mà số lượng đông đảo các loài chim sẽ đến. Môi trường địa lý của Israel, nằm giữa biển Địa Trung Hải về phía Tây và vùng sa mạc khô cằn bao la ở phía đông, hình thành hành lang tự nhiên cho các loài chim di trú này.
Trong bữa tiệc cả thể kia, chim chóc sẽ ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dõng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. Lời lẽ bao gồm tỏ ra phạm vi toàn thế giới của cuộc tàn sát. Để thi thể của một người không được đem chôn bị để lại làm thức ăn cho chim chóc là sự chế nhạo nặng nề, đặc biệt đối với các vua kiêu ngạo và các binh tướng hùng mạnh. Cũng chính số phận đó đang chờ đón hết thảy những kẻ loạn nghịch kiêu ngạo, thù ghét Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi trên thế giới, cả người tự chủ và nô lệ, nhỏ và lớn (đối chiếu 11:18; 13:16). Nhà giải kinh Joseph Seiss viết về bối cảnh khủng khiếp này:
Điều này thuật lại rồi một câu chuyện kinh khiếp. Câu chuyện ấy nói về hạng người cao trọng nhất trong loài người bị làm đồ ăn cho bầy kên kên — thịt các vua, và các cấp lãnh đạo, mạnh sức và tự tin, bị nuốt chửng trên đồng ruộng, mà chẳng có ai chôn cất họ; — thịt của những người tưởng chinh phục Nhà Vua được xức dầu của Thiên Đàng bị xem là vô dụng ngay cả chống lại bầy chim nhút nhát, — những tà thần thiên nhiên khoác lác đã biến thành các thứ cặn bã bị bỏ rơi và đáng sĩ hổ nhất. Và những gì đã được gợi ý sớm trở thành hiện thực. Nhà Chinh Phục Vĩ Đại ngự xuống từ trên trời. Ngài cỡi trên cánh chê-ru-bin và bay trên cánh của gió. Khói ra từ hai lỗ mũi Ngài, và lửa ra từ miệng Ngài. Ngài di chuyển giữa những giông bão và bóng tối, từ đó sấm sét buông ra những tia chớp của chúng, và mưa đá kết hợp với lửa. Ngài gầm rống lên từ Si-ôn, và cất tiếng lên từ Giê-ru-sa-lem, cho đến chừng các từng trời và đất rúng động. Ngài xông tới trong cơn thạnh nộ giữa đám mây, lửa, và trụ khói. Mặt trời nhăn mặt. Ban ngày không sáng cũng chẳng tối. Các ngọn núi tan chảy và vụn nát ra trước mặt Ngài. Các ngọn đồi nảy lên khỏi chỗ của chúng rồi lủi mất như bầy chiên. Các dòng sông rời khỏi dòng chảy của chúng. Biển cuốn lại sau với sự náo động gào thét. Bầu trời nứt ra rồi gấp lại như túp lều bị sập. Đây là ngày hành hình cho một thế giới có vũ trang — một thế giới ở trong giao ước với địa ngục mong lật đổ uy quyền và ngai vàng của Đức Chúa Trời — và muôn vật trong Thiên nhiên đều kinh hãi dự phần vào sự báo thù xứng đáng. (Apocalypse [in lại, Grand Rapids: Kregel, 1987], 441)
Sô-phô-ni cũng nói tiên tri về bối cảnh ghê khiếp này:
Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần, đã gần rồi; nó đến rất kíp. Ngày của Đức Giê-hô-va có tiếng động; bấy giờ người mạnh dạn sẽ kêu khóc đắng cay. Ngày ấy là ngày thạnh nộ, ngày hoạn nạn và buồn rầu, ngày hủy phá và hoang vu, ngày tối tăm và mờ mịt, ngày mây và sương mù, ngày mà tiếng kèn và tiếng báo giặc nghịch cùng các thành bền vững và các tháp cao góc thành. Ta sẽ đem sự hoạn nạn trên loài người, chúng nó sẽ đi như kẻ mù, vì đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va; máu chúng nó sẽ đổ ra như bụi, và thịt như phân. Hoặc bạc hoặc vàng của chúng nó, đều không có thể giải cứu chúng nó trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va; nhưng cả đất nầy sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt; vì Ngài sẽ diệt hết dân cư đất nầy cách thình lình. (So 1:14-18)
Khi chặng kế tiếp trong sự mặc thị lạ thường của ông mở ra, Giăng nhìn thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. Con thú là Anti-christ (11:7; 13:1-8), nhân vật lãnh đạo đế quốc sau cùng và lớn lao nhất trong lịch sử loài người. Các vua thế gian là mười vị vua, họ cai trị mười lãnh vực được phân chia trong đế quốc trên toàn thế giới của Anti-christ (17:12-14). Những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa (câu 11) và với đạo binh của Ngài (câu 14, Xa 14:5). Sức mạnh vũ trang khủng khiếp và dường như bất khả chiến bại của con thú, với hết thảy hoả lực của nó, đang chờ sự đến của Đấng Cỡi Ngựa.
Nhưng trước khi có bất kỳ trận đánh nào, mọi sự chuẩn bị là như thế. Trong giây lát, con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó (13:11-17). Hai nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo có quyền phép của ma quỉ trên thế gian bị một cú đánh kinh hoàng; cả hai đều đương sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Đây là lần nhắc tới đầu tiên trong Kinh Thánh về hồ lửa, địa ngục sau cùng, là đích đến cuối cùng của Sa-tan, các sứ của hắn, và những kẻ không được chuộc (Mat 25:41). Ê-sai mô tả đó là một chỗ mà “sâu chúng nó chẳng hề chết, lửa chúng nó chẳng hề tắt” (Es 66:24), một phần mô tả vang dội bởi Đức Chúa Jêsus Christ trong Mac 9:48. Trong Mat 13:42 Chúa Jêsus nói thêm rằng đấy “là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng”. Kh 14:11 chép về những kẻ đang chịu khổ ở đó: “Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ”. Rõ ràng, hai nhân vật này không chết, nhưng được biến đổi một cách kỳ diệu thành dạng đời đời để bị thiêu đốt trong địa ngục. Họ là những kẻ đầu tiên trong hàng triệu con người (20:15) và các thiên sứ (Mat 25:41) đến trong hồ lửa.
Địa ngục luôn tồn tại, nhưng đây là hình thức sau cùng của nó. Không giống như Âm phủ, hồ lửa không phải là nơi giam giữ tạm thời (đối chiếu Lu 16:23) mà là nơi thường trực giam giữ và trừng phạt. Diêm thường được kết hợp với lửa phán xét (đối chiếu 9:17; 14:10; 20:10; Lu 17:29). Con thú và tiên tri giả vẫn ở trong hồ lửa một ngàn năm sau khi Sa-tan bị quăng vào đó (20:10) là một sự bác bỏ đáng tin về tà giáo tiêu diệt. Khi hai nhân vật gian ác, xấu xa, phạm thượng nhất đã từng sống, thì rất là thích đáng khi hai nhân vật này đầu tiên đi đến địa điểm kinh khủng đó. Tân Ước nói rõ về hình phạt đời đời (đối chiếu 14:10-11; Mat 13:40-42; 25:41; Mac 9:43-48; Lu 3:17; 12:47-48).
Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. Các cấp chỉ huy của họ đã bị bắt, những lực lượng không ai lãnh đạo của Anti-christ sẽ bị hủy diệt, khi những kẻ khác trong số những người đánh trận chống lại Đấng Christ đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa. Như đã đề cập trước đó trong phần bàn luận về câu 15, phần còn lại của người chưa được chuộc trên khắp thế giới sẽ bị phán xét theo sự xét đoán của chiên và dê, là điều diễn ra tại thời điểm này. Sau đó, giống như vị thiên sứ đã báo trước, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. Khi mô tả vụ tàn sát gần như không thể tưởng tượng được, John Phillips viết:
Thế rồi thình lình sự việc thảy đều qua đi. Thực vậy, sẽ không còn có chiến tranh nữa, theo ý nghĩa chúng ta nghĩ về chiến tranh. Sẽ có một lời nói thốt ra từ Đấng ngồi trên lưng con ngựa bạch to lớn kia. Ngài từng phán một lời với cây vả, và nó bèn héo úa đi. Một khi Ngài phán một lời với gió đang thổi và sóng vỗ liên hồi, và các đám mây bão biến đi và các lượn sóng bèn im đi. Ngài từng nói chuyện với một đạo binh ma quỉ muốn tung hoành với mưu đồ về linh hồn của một con người khốn khổ, và ngay lập tức chúng liền chạy trốn. Bấy giờ Ngài phán ra một lời, thì cuộc chiến bèn dứt đi. Con Thú phạm thượng, miệng mồm lớn tiếng bị đánh đập ở chỗ nó đang đứng. Tiên tri giả, những kẻ ba hoa rỗng tuếch làm ra phép lạ từ vực sâu đã bị hớ và im tiếng. Từng cặp chúng bị cột lại và bị quăng thẳng vào trong ngọn lửa vĩnh cửu. Một lời khác, các đạo binh đang hoảng loạn cứ lượn lờ, lảo đảo và ngã xuống chết. Các đơn vị trưởng và các tướng lãnh, các đô đốc và các chỉ huy không quân, lính bộ và lính thuỷ, so hàng rồi đứng theo hàng một, một lần đủ cả — chúng sụp đổ. Rồi bầy kên kên lao xuống và trùm phủ hết bối cảnh (Exploring Revelation, 236).
Tiên tri Xa-cha-ri điền thêm các chi tiết nói tới bối cảnh kinh hoàng đó:
Nầy, ngày của Đức Giê-hô-va đến, những của cướp ngươi sẽ bị chia giữa ngươi. Vậy ta sẽ nhóm mọi nước lại tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem, và thành sẽ bị lấy, nhà sẽ bị cướp, đờn bà sẽ bị hãm, phân nửa thành sẽ đi làm phu tù; nhưng dân còn lại sẽ không bị trừ bỏ khỏi thành. Bấy giờ Đức Giê-hô-va sẽ ra đánh cùng các nước đó, như Ngài đã đánh trong ngày chiến trận. Trong ngày đó, chơn Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve, là núi đối ngang Giê-ru-sa-lem về phía đông; và núi ô-li-ve sẽ bị xé ra chính giữa về phía đông và phía tây, đến nỗi thành ra một trũng rất lớn; phân nửa núi dời qua phương bắc, phân nửa dời qua phương nam. Các ngươi sẽ trốn trong trũng núi, vì trũng núi ấy sẽ chạy dài đến At-san; và các ngươi sẽ đi trốn như là trốn khỏi cơn động đất đang ngày Ô-xia, vua Giu-đa. Bấy giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta sẽ đến, hết thảy các thánh sẽ ở cùng ngươi. Trong ngày đó sẽ không có sự sáng nữa, những vì sáng sẽ thâu mình lại. Ấy sẽ là một ngày mà Đức Giê-hô-va biết; chẳng phải ngày, chẳng phải đêm, song xảy ra đến buổi chiều sẽ có sự sáng. Xảy ra trong ngày đó, nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem, phân nửa chảy về biển đông, phân nửa chảy về biển tây, trong mùa hạ và mùa đông đều có. Đức Giê-hô-va sẽ làm vua khắp đất; trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ là có một, và danh Ngài cũng sẽ là có một. Cả đất sẽ làm nên đồng bằng, từ Ghê-ba cho đến Rim-môn, về phía nam Giê-ru-sa-lem, thành nầy sẽ được nhắc lên và ở trong chỗ mình, từ cửa Bên-gia-min cho đến chỗ cửa thứ nhứt, và đến cửa góc, lại từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến những nơi ép rượu của vua. Người ta sẽ ở đó, nó chẳng bị rủa sả nữa, nhưng Giê-ru-sa-lem sẽ được ở yên ổn. Vả, nầy sẽ là tai vạ mà Đức Giê-hô-va dùng để phạt mọi dân tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem: Ngài sẽ lam cho ai nấy khi chơn đương đứng thì thịt mục nát ra, mắt mục trong vành nó, lưỡi mục trong miệng nó. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ gieo sự rối loạn lớn trong chúng nó; vì ai nấy sẽ nắm tay kẻ lân cận mình, và tay người nầy sẽ giá lên nghịch cùng tay người kia. (Xa 14:1-13)
Các lẽ thật điềm đạm này đóng vai trò như một lời cảnh báo cho những người chưa tin Chúa phải ăn năn (IIPhi 3:9), và cũng là lời khuyên dỗ phải sống đời sống tin kính (IIPhi 3:11). “Đêm đã khuya, ngày gần đến; vậy chúng ta hãy lột bỏ những việc tối tăm mà mặc lấy áo giáp sáng láng. Hãy bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét; nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Ro 13:12-14).