Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

16 – Vương Quốc Trầ Gian Hầu Đến Của Đức Chúa Giê-xu Christ (Kh 20:1-10)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm. Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu. Tôi lại thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán. Kế đó, tôi thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Các người ấy được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm. Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Ấy là sự sống lại thứ nhất. Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm. Khi hạn ngàn năm mãn rồi, quỉ Sa-tan sẽ được thả, và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển. Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó. Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. (20:1-10)

Hãy tưởng tượng một thế giới được thống trị bởi sự công bình và sự nhân từ, một thế giới mà ở đó không có sự bất công, ở đó chẳng có một toà án nào từng đưa ra một phán quyết bất công, và ở đó mọi người đều được đối xử cách công bằng. Hãy tưởng tượng một thế giới mà ở đó cái gì cũng là chân thật, đúng đắn và cao thượng đánh dấu từng phương diện của cuộc sống, bao gồm quan hệ giữa các cá nhân với nhau, thương mại, giáo dục và nhà cầm quyền. Hãy tưởng tượng một thế giới mà ở đó có sự hoà bình vĩnh viễn trọn vẹn, hoàn toàn, được tôn trọng, ở đó sự vui vẻ ở khắp mọi nơi và sự lành mạnh chiếm ưu thế rất nhiều đến nỗi ai nấy đều sống thọ hằng mấy trăm năm. Hãy tưởng tượng một thế giới mà ở đó sự rủa sã đã bị cất bỏ, ở đó môi trường được khôi phục đến sự tinh khiết nguyên sơ của Vườn Ê-đen, ở đó sự bình an trị vì thậm chí trong vương quốc của động vật, đến nỗi “muông sói sẽ ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi” (Es 11:6). Hãy tưởng tượng một thế giới được cai trị bởi một Nhà Vua trọn vẹn, vinh hiển, là Đấng xử lý với tội lỗi ngay lập tức và chắc chắn.

Nói theo con người, phần mô tả đó dường như quá xa vời, một ảo ảnh không tưởng khó có thể trở nên hiện thực được. Tuy nhiên, nó mô tả chính xác các điều kiện thuộc vương quốc trần gian trong tương lai của Đức Chúa Jêsus Christ. Đất được phục hồi và tái tạo hoàn toàn cho vương quốc thiên hi niên sẽ tạo ra địa đàng mới giành lại được. Sự trị vì ngàn năm của Đấng Cứu Thế trên đất được sắp đặt theo cách thiêng liêng và là đỉnh cao đã được hứa cho trong mọi lịch sử cứu chuộc và sự nhận biết về sự trông cậy của các thánh đồ thuộc mọi thời đại.

Vương quốc thiên hi niên được gọi bằng nhiều danh xưng trong Kinh Thánh. Trong Mat 19:28 Chúa Jêsus gọi vương quốc ấy là “kỳ”. Cong 3:20 mô tả vương quốc là “kỳ thơ thái” trong khi câu 21 của chương ấy gọi vương quốc là “kỳ muôn vật đổi mới”. Sứ đồ Phao-lô đề cập đến vương quốc trong Eph 1:10 là “sự định trước đó trong khi kỳ mãn”.

Sự dạy của Kinh Thánh về vương quốc không bị hạn chế trong Tân Ước. Vương quốc là một lẽ đạo quan trọng xuyên suốt cả Kinh thánh; đó là mục tiêu mà mọi tiến trình của lịch sử cứu chuộc đều hướng tới. Theo lời lẽ của John Bright: “Kinh Thánh là một quyển sách. Nếu như chúng ta ghi cho sách ấy một cái tên, chúng ta phải công bình gọi sách ấy là: ‘Quyển Sách Nói Tới Vương Quốc Hầu Đến của Đức Chúa Trời’” (The Kingdom of God [Nashville: Abingdon, 1953], 197; italics in original). Giữa vòng nhiều phân đoạn Cựu Ước nói tới vương quốc trần gian là Phu 30:1-5; IISa 7:12-16; Thi 2:6-12; Es 2:2-4; 11:1-10; 12:1-6; 24:23; 32:15-20; 35:1-2; 60:10-18; 65:20-22; Gie 3:14-18; 23:5-6; 30:3; 31:35-40; 33:14-18; Exe 34:23-24; 36:16-38; 37:15-28; Da 2:44-45; Os 3:4-5; Gio 3:18-21; Am 9:11-15; Mi 4:1-8; So 3:14-20; và Xa 14:9-11.

Vương quốc của Đức Chúa Trời có thể được xác định rộng rãi y theo phạm vi mà Ngài đang tễ trị. Theo ý nghĩa bao quát, đời đời, vương quốc của Đức Chúa Trời bao gồm mọi thứ đang tồn tại, bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng tễ trị tối cao trên mọi tạo vật của Ngài. Vua Đa-vít tuyên bố ra lẽ thật ấy ở Thi 103:19: “Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật”. Về mặt lịch sử, Đức Chúa Trời đã gián tiếp sự trị vì của Ngài qua dân sự Ngài, trước tiên qua A-đam và Ê-va, kế đến là A-bên, Sết, Hê-nóc, Nô-ê, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môi-se, Giôsuê, Các Quan Xét của Israel (kể cả Sa-mu-ên), và các vua của Israel và Giu-đa. Trong kỷ nguyên hiện tại, Đức Chúa Trời gián tiếp sự cai trị của Ngài về mặt chính trị qua các nhà cầm quyền của con người (Ro 13:1-7) và về mặt thuộc linh qua Hội thánh (Cong 20:25; Ro 14:17; Co 1:13). Trong Vương quốc Thiên Hi Niên, các yếu tố chính trị và tôn giáo trong sự cai trị tạm thời trên đất của Đức Chúa Trời sẽ được tái hiệp trong Thân Vị của Đức Chúa Jêsus Christ.

Lấy phân đoạn Khải huyền 20 (và nhiều đoạn văn Kinh thánh khác nói về vương quốc trần gian) với giá trị theo danh nghĩa dẫn đến một nhận định tổng quát về thuyết mạt thế. Nghĩa là, Đấng Christ sẽ tái lâm, rồi sau đó thiết lập một vương quốc cụ thể trên đất, sẽ kéo dài trong một ngàn năm. Có hai nhận định chủ yếu khác về Thiên Hi Niên cộng với lý thuyết tiền-Thiên hi niên: lý thuyết hậu-Thiên hi niên và kỷ nguyên ngàn năm hạnh phước trong tương lai.

Lý thuyết hậu-Thiên hi niên không cứ cách nào đó nó ngược lại với lý thuyết của tiền-Thiên hi niên. Lý thuyết tiền-Thiên hi niên dạy rằng Đấng Christ sẽ tái lâm trước thời kỳ ngàn năm; lý thuyết hậu-Thiên niên dạy rằng Ngài sẽ tái lâm vào cuối thời kỳ ngàn năm. Lý thuyết tiền-Thiên hi niên dạy rằng giai đoạn ngay trước khi Đấng Christ tái lâm sẽ là điều tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại; Lý thuyết hậu-Thiên hi niên dạy rằng trước khi Ngài tái lâm sẽ là thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử, hầu cho Đấng Christ sẽ tái lâm vào cuối kỷ nguyên hoàng kim lâu dài của hòa bình và hòa hợp. (Phần lớn những người ủng hộ lý thuyết hậu-Thiên hi niên không công nhận thời kỳ ngàn năm sẽ kéo dài trong một ngàn năm cụ thể, họ tự ý xem con số đó là biểu tượng của một khoảng thời gian rất dài). “Thời kỳ ngàn năm trong đó những người theo lý thuyết hậu-Thiên hi niên mong đợi là kỷ nguyên hoàng kim của sự thịnh vượng cách sắp đặt hiện tại, nghĩa là, trong kỷ nguyên Hội thánh” (Loraine Boettner, “Postmillennialism,” in The Meaning of the Millennium: Four Views Robert G. Clouse, ed. [Downers Grove, Ill: InterVarsity, 1977], 117). Thời kỳ hoàng kim, theo lý thuyết hậu-Thiên hi niên, sẽ kết quả từ sự lan rộng của Tin lành trên khắp thế giới và sự trở lại của đại đa số dòng giống con người sang Cơ Đốc giáo. Như vậy “Đấng Christ sẽ tái lâm cho một thế giới thực sự đã được Cơ Đốc hoá” (Boettner, “Postmillennialism”, 118). Vương quốc ngàn năm, theo những người ủng hộ lý thuyết hậu-Thiên hi niên, sẽ được dựng nên bởi Hội thánh, chớ không phải bởi sự can thiệp cá nhân của Đức Chúa Jêsus Christ. Đấng Christ cũng không trị vì theo cách cá nhân trên đất trong suốt thời kỳ ngàn năm đó, mà thay vì thế, qua Hội thánh của Ngài.

Phù hợp với nhận định lạc quan về các kỷ nguyên ấy, lý thuyết hậu-Thiên hi niên đã phát triển mạnh trong thế kỷ thứ 18 và 19. Tác động của thời kỳ Khai sáng, Cách mạng Công nghiệp, tốc độ phát triển khoa học nhanh chóng và thuyết tiến hóa của Darwin thuyết phục nhiều người tin rằng xã hội đang tiến triển chắc chắn hướng đến một điều không tưởng. Nhận định lạc quan này thích hiệp với lý thuyết hậu-Thiên hi niên, điều này cũng dạy rằng thế giới sẽ ngày càng trở nên tốt đẹp hơn (dù bằng nhiều phương tiện khác nhau). Nhưng sự kinh hoàng của Đệ I Thế Chiến, sự suy đồi đạo đức của những năm hai mươi, thời kỳ khó khăn của Đại khủng hoảng, sự điên cuồng của Đức quốc xã trong sự tàn sát người Do-thái, và thảm hoạ thế giới của Đệ II Thế Chiến đem lại dấu chấm hết cho thái độ lạc quan ngây thơ đã thịnh hành trước Đệ I Thế Chiến. Lý thuyết hậu-Thiên hi niên cũng suy sụp dần không còn được nhiều người ủng hộ nữa. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có một sự hồi sinh của lý thuyết hậu-Thiên hi niên trong các phong trào như Thần học Tự do, Thần học về Vương quốc và Thần học chuyên đề.

Danh xưng “lý thuyết ngàn năm” có phần gây hiểu nhầm, vì nó ngụ ý rằng những người ủng hộ lý thuyết nầy không tin vào thời kỳ ngàn năm. Trong khi sự thực cho thấy rằng họ từ chối khái niệm thời kỳ ngàn năm trên đất, và đặc biệt một thiên niên kỷ thực sự là thời kỳ ngàn năm (thời gian một ngàn năm), những người ủng hộ lý thuyết ngàn năm tin vào một vương quốc. Họ tin những lời tiên tri của Cựu Ước nói về vương quốc của Đấng Mết-si sẽ được ứng nghiệm ngay bây giờ, một là do các thánh đồ đồng trị vì với Đấng Christ ở trên trời, hoặc (về mặt thuộc linh, không phải theo nghĩa đen) bởi Hội thánh trên đất. (Những người ủng hộ lý thuyết ngàn năm cũng áp dụng một số lời tiên tri của Cựu Ước vào tình trạng đời đời). Không chịu tin vào thời kỳ Thiên hi niên, những người ủng hộ lý thuyết ngàn năm tin rằng chúng ta đang ở trong thời kỳ đó ngay bây giờ: “Khải huyền 20 nói tới cả ngàn năm, chúng ta đang ở trong thời kỳ thiên hi niên trong lúc bây giờ” (Anthony A. Hoekema, “Amillennialism,” in The Meaning of the Millennium: FourViews,ed. Clouse,181).

Chẳng có một lý do nào để giải thích hay làm nguồn gốc cho phần kết luận này và không có một sự bảo đảm nào cho việc từ bỏ diễn giải theo lịch sử, theo ngữ pháp khi giải thích lời tiên tri. Đó là một hành động tuỳ tiện nơi phần của người diễn giải, dựa trên những giả định của họ. Hơn nữa, không có lý do gì để phủ nhận một ngàn năm sát nghĩa là khoảng thời gian của vương quốc Đấng Christ trên đất. Robert L. Thomas viết:

Nếu trước giả muốn có một con số làm biểu tượng lớn, tại sao ông không sử dụng 144.000 (7:1…, 14:1…), 200.000.000 (9:16), “hàng muôn hàng ngàn” (5:11), hoặc một con số lớn không tính được (7:9)? Sự thực cho thấy rằng không một con số nào trong sách Khải huyền được xác minh là con số theo biểu tượng. Mặt khác, cách sử dụng con số không mang biểu tượng là qui tắc. Nó đòi hỏi toán nhân với 12.000 bằng một số 12 mới có được 144.000 trong 7:4-8. Các Hội thánh, những cái ấn, những cây kèn, và cái bát đều có con số 7. Ba tà linh ô uế ở 16:13 thực sự là con số 3. Ba thiên sứ kết nối với ba sự khốn nạn cuối cùng (8:13) đều có tổng số là 3. Bảy tai nạn sau cùng chính xác là con số 7. Tương đương 1.260 ngày và ba năm rưỡi đòi hỏi một sự hiểu biết không theo biểu tượng về cả hai con số. Mười hai sứ đồ và mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên đúng là số 12 (21:12-14). Bảy Hội thánh ở bảy thành phố theo nghĩa đen. Tuy nhiên, sự khẳng định một con số nào đó trong sách Khải huyền có tính biểu tượng là điều bất khả thi. (Revelation 8-22: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1995], 408-9)

Có nghi ngờ cho rằng bất kỳ con số nào có tính biểu tượng sẽ được lặp đi lặp lại sáu lần trong một phân đoạn, như một ngàn năm ở đây.

Trong thế kỷ rưỡi thứ nhứt sau khi kết thúc kỷ nguyên Tân Ước, Hội thánh phần lớn đã ở trong thời kỳ tiền-Thiên hi niên. Giữa vòng các giáo phụ trong thời kỳ đó, họ tin cụ thể nơi Thời kỳ Thiên Hi Niên một ngàn năm trên trần gian là Papias (một môn đồ của sứ đồ Giăng), Irenaeus, Justin Martyr, Tertullian, và tác giả của Thư tín Barnabas. Sự đồng thuận tiền-Thiên hi niên đó đã bị thách thức bởi các thành viên của trường phái Alexandria (nổi bật nhất là Origen), ông này ủng hộ cách tiếp cận gợi cảm cho việc chú giải Kinh Thánh. Sử gia nổi tiếng của Hội thánh Eusebius cũng từ chối thời kỳ Thiên Hi Niên trần gian, cũng như học giả Thánh Kinh nổi tiếng là Jerome. Nhưng đó là ảnh hưởng của Augustine, nhà thần học lỗi lạc nhất của Hội thánh đầu tiên, bảo đảm rằng lý thuyết ngàn năm sẽ thống trị Hội thánh trong nhiều thế kỷ. Lý thuyết ngàn năm là nhận định của những nhà cải chánh, và ngày nay hầu hết các học giả trong truyền thống Cải chánh đều là những người chuộng theo lý thuyết ngàn năm.

Tâm điểm của cuộc tranh luận về nhận định ngàn năm là vấn đề của việc diễn giải. Mọi góc cạnh trong cuộc tranh luận đều nhất trí rằng việc giải thích lời tiên tri trong Cựu Ước thực sự tự nhiên dẫn đến lý thuyết tiền-Thiên hi niên. Người ủng hộ lý thuyết ngàn năm Floyd E. Hamilton thẳng thắn thừa nhận sự thật: “Bây giờ chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng một sự giải thích sát nghĩa những lời tiên tri trong Cựu Ước cung ứng cho chúng ta hình ảnh về sự trị vì trên trần gian của Đấng Mê-si là hình ảnh của lý thuyết tiền-Thiên niên kỷ” (The Basis of Millennial Faith [ Grand Rapids: Eerdmans, 1942], 38). Người theo lý thuyết hậu-Thiên niên kỷ là Loren Boettner đồng ý với đánh giá của Hamilton: “Thông thường người ta đồng ý rằng nếu những lời tiên tri được xem xét theo nghĩa đen, họ đang báo trước việc khôi phục lại quốc gia Israel trong vùng đất Palestine với người Do-thái có một vị trí nổi bật trong vương quốc đó và đang cai trị trên các nước khác” (“A Postmillennial Response [to Dispensational Premillennialism],” in The Meaning of the Millennium: FourViews, ed. Clouse,95).

Trong ánh sáng của nhận định trên đây, thắc mắc tự nhiên phát sinh là: “Tại sao không xem những lời tiên tri trong Cựu Ước theo nghĩa đen về thời kỳ ngàn năm chứ?”

Những ai từ chối một sự giải nghĩa theo nghĩa đen cho rằng Tân Ước dường như giải thích một số lời tiên tri của Cựu Ước không theo nghĩa đen. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, Tân Ước không giải thích những lời tiên tri, mà chỉ áp dụng các nguyên tắc được tìm thấy trong đó. Thực vậy, nhiều lời tiên tri của Cựu Ước liên quan đến lần đến đầu tiên của Đấng Christ đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen.

Có một vài lý do thuyết phục cho việc chú giải các tiên tri Cựu Ước theo nghĩa đen.

Thứ nhất, nếu nghĩa đen của phân đoạn bị từ chối, ai là người quyết định điều gì không theo nghĩa đen hay đâu là ý nghĩa thuộc linh, vì các quy tắc thông thường của sự chú giải không được áp dụng? Walter C. Kaiser, Jr., đưa ra tình trạng chẳng đặng đừng như sau:

Ai hoặc điều gì sẽ phân xử giữa các ý nghĩa khác nhau [không theo nghĩa đen] được đề xuất và quyết định đâu là điều sẽ được chấp nhận là có thẩm quyền và đâu là giả mạo? Nói ngắn gọn, ý tưởng của mỗi người là phép tắc riêng của họ, dường như không phải có bất kỳ tòa án kháng cáo cuối cùng nào hết… Đơn giản chỉ vì không có tiêu chuẩn nào chính đáng để thiết lập ranh giới khi người chú giải bắt đầu từ việc sử dụng ngôn ngữ bình thường. (Back Toward the Future [Grand Rapids: Baker, 1989], 129-30)

Thứ hai, sử dụng nhận định không theo nghĩa đen về các tiên tri của Cựu Ước làm dấy lên một số thắc mắc khá phiền toái: Những lời tiên tri đó muốn nói gì với những người mà các lời ấy muốn nói với họ? Nếu những lời tiên tri dường như nhắm tới Israel thực sự đem áp dụng cho Hội thánh (chưa tồn tại lúc bấy giờ), có phải Đức Chúa Trời ban ra khải tượng mà không thể lậu ra chăng? Và nếu những lời tiên tri đó đem áp dụng theo cách tượng trưng cho Hội thánh, thì tại sao chúng lại chỉ nói với Israel? Những lời tiên tri như thế có ý nghĩa gì trong bối cảnh lịch sử của họ? Mỉa mai thay, nhiều người thuộc linh hoá các lời tiên tri Cựu Ước đang chối bỏ sự chú giải sách Khải huyền bởi vì nó đã bị tước đi ý nghĩa của quyển sách đối với những người mà sách ấy được viết ra cho họ. Tuy nhiên, họ cũng làm chính việc ấy với những lời tiên tri Cựu Ước nói tới Nước Trời.

Thứ ba, việc thuộc linh hóa những lời tiên tri dẫn đến một số mâu thuẫn rõ rệt. Không nhất quán khi cho rằng những lời rủa sã mà chúng công bố ra áp dụng theo nghĩa đen cho Y-sơ-ra-ên, trong khi những ơn phước mà chúng hứa cho lại đem áp dụng theo cách biểu tượng và thuộc linh cho Hội thánh. Một ví dụ về sự không nhất quán trong phương pháp chú giải thuộc linh hoá lời tiên tri đến từ lời lẽ của thiên sứ Gáp-ri-ên nói với Mary trong Lu 1:31-33: “Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng”. Nếu, như các học giả bảo thủ đồng ý, Chúa Jêsus đã được cưu mang trong lòng của Ma-ri, theo nghĩa đen là “Jêsus”, sát nghĩa là trở nên vĩ đại, sát nghĩa là “Con của Đấng Rất Cao”, sát nghĩa Ngài cũng không phải trị vì ngôi Đa-vít trên Israel sao? Có thể nào cùng một phân đoạn đó có thể được chú giải theo nghĩa đen và không theo nghĩa đen? Hơn nữa, cả hai: lý thuyết ngàn năm và lý thuyết hậu-thiên hi niên giải thích một số sự kiện tiên tri theo nghĩa đen, chẳng hạn như lần đến thứ hai của Đấng Christ, Ngai Trắng Phán Xét, và trời mới và đất mới. Tại sao không giải thích vương quốc ngàn năm theo nghĩa đen? Cuối cùng, những người ủng hộ lý thuyết ngàn năm và những người theo lý thuyết hậu-thiên hi niên giải thích các phân đoạn Kinh Thánh không thuộc diện tiên tri theo phương pháp sát nghĩa, theo lịch sử, theo ngữ pháp, và theo văn mạch; tại sao phải áp dụng một phương pháp khác cho việc giải thích lời tiên tri? Một cách sử dụng như thế hoàn toàn là tùy tiện.

Mặc dù không phải là phần mô tả vắn tắt về vương quốc trần gian, phân đoạn Kinh Thánh này đã xóa bỏ tất cả các khải tượng trong Kinh thánh về thời kỳ Thiên hi niên bằng cách tiết lộ bốn lẽ thật quan trọng về thời kỳ đó: việc loại bỏ Sa-tan, sự trị vì của các thánh đồ, sự trở lại của Sa-tan và cuộc nổi loạn của xã hội.

SỰ LOẠI BỎ SATAN

Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm. Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu (20:1–3)

Vấn đề đầu tiên cần cho sự chú ý của Nhà Vua khi Ngài thiết lập vương quốc của Ngài là sự giam giữ của kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn. Việc cất bỏ “chúa đời này” (IICo 4:4), “vua cầm quyền chốn không trung … thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch” (Eph 2:2), sẽ làm thay đổi thế giới rất đáng kể. Bởi thời điểm này, Đức Chúa Trời đã tiêu diệt tất cả cuộc nổi loạn của con người. Người nào sống sót sau những sự phán xét của Kỳ Đại Nạn đã bị hành quyết tại Ạt-ma-ghê-đôn (19:11-21) hoặc sự phán xét về dê (Mat 25:41-46). Những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn trên toàn thế giới, con thú (Anti-christ) và tiên tri giả, sẽ bị quăng vào trong hồ lửa (19:20). Bước cuối cùng trong sự chuẩn bị cho vương quốc sẽ là việc loại bỏ Sa-tan cùng các đạo binh quỉ sứ của hắn, hầu cho Đấng Christ tễ trị mà không có một sự chống đối nào của các kẻ thù siêu nhiên.

Như thường lệ trong sách Khải huyền (đối chiếu các câu 4, 11; 6:1, 2, 5, 8, 12; 7:2; 8:2, 13; 9:1; 10:1; 13:1, 11; 14:1, 6, 14; 15:1; 16:13; 17:3; 19:11, 17, 19; 21:1), cụm từ kai eidon (Đoạn, tôi thấy) cho biết tiến trình theo thời gian. Vị trí của phân đoạn Kinh Thánh này theo dòng chảy thời gian của sách Khải huyền là phù hợp với quan điểm tiền-Thiên hi niên về vương quốc. Sau Kỳ Đại Nạn (các chương 6-19), Đấng Christ sẽ tái lâm (19:11-21) rồi thiết lập vương quốc của Ngài (20:1-10), nối theo sau việc này là trời mới và đất mới (21:1). Như vậy, vương quốc ngàn năm đến sau lần đến thứ hai của Đấng Christ, nhưng trước sự thiết lập trời mới và đất mới. Người ủng hộ lý thuyết ngàn năm là Anthony Hoekema phải công nhận rằng, tính theo giá trị bề ngoài, phần thời gian của sách Khải huyền ủng hộ lý thuyết tiền-Thiên hi niên. Ông viết:

Thí dụ, chúng ta hãy giả định rằng sách Khải huyền cần phải được diễn giải theo một ý nghĩa thuộc về cuộc tương lai … Chúng ta tiếp tục giả định rằng những gì được trình bày trong Khải huyền 20, theo thứ tự thời gian, nối theo sau là những gì đã được mô tả trong chương 19. Khi ấy, chúng ta buộc phải tin rằng sự trị vì ngàn năm đã được mô tả trong 20:4 phải đến sau sự tái lâm của Đấng Christ được mô tả trong 19:11. (“Amillennialism,” in The Meaning of the Millennium: Four Views, ed. Clouse, 156)

Phân đoạn Kinh Thánh này dạy rõ ràng rằng sự tái lâm của Đấng Christ đi trước vương quốc thiên hi niên — một bối cảnh không tương thích với lý thuyết hậu-Thiên hi niên và lý thuyết ngàn năm, nhưng chính xác là những gì lý thuyết tiền-Thiên hi niên đưa ra. Để khắc phục những khó khăn mà trình tự thời gian của sách Khải huyền đặt ra cho quan điểm của họ, những người ủng hộ lý thuyết hậu-Thiên hi niên và lý thuyết ngàn năm phải bác bỏ chương 20 theo sau chương 19. Nhưng một sự chối bỏ như vậy bất chấp tầm quan trọng của thời gian trong cụm từ kai eidon, như đã nói ở trên. Nó cũng bất chấp sự liên tục của bối cảnh: Sau khi xử lý với Anti-christ và tiên tri giả trong chương 19, Đấng Christ xử lý với chúa quỉ là Sa-tan, trong chương 20. Tại sao phải chối bỏ một trình tự thời gian rõ ràng như vậy chứ? Rõ ràng là trình tự đó được lập ra không vì lý do nào khác ngoài việc tiêu trừ lý thuyết tiền-Thiên hi niên, không phải vì có bất kỳ một biện minh nào trong Kinh Thánh.

Phần xác định thiên sứ mà Giăng nhìn thấy trên trời xuống để xiềng Sa-tan không được tiết lộ, nhưng Ngài có thể là thiên sứ Mi-ca-ên, kẻ thù của Sa-tan (12:7; đối chiếu Da 10:13, 21; 12:1; Giu 1:9). Dù thiên sứ là ai đi nữa, Ngài có quyền phép rất lớn. Ngài được sai xuống đất với một chương trình cụ thể: bắt lấy Sa-tan trong thời kỳ ngàn năm của vương quốc, xiềng hắn lại, quăng hắn vào vực sâu rồi niêm phong lại, và thả hắn ra vào cuối thời gian ngàn năm đó.

Abusss (vực sâu) xuất hiện bảy lần trong sách Khải huyền (đối chiếu 9:1, 2, 11; 11:7; 17:8), luôn luôn đề cập đến nơi tạm giam của một số ma quỉ nhất định. Vực sâu không phải là nơi hình phạt sau cùng; hồ lửa mới là nơi sau cùng đó (Mat 25:41). Tuy nhiên, đó là nơi hành hại mà ma quỉ rất sợ bị đưa vào đó (Lu 8:31). Các tù phạm trong vực sâu đang ở giữa vòng những kẻ gian ác và độc ác nhất của hết thảy ma quỉ và gồm cả “các linh hồn bị tù, tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục chờ đợi” (IPhi 3:19-20). Thứ ma quỉ đó, những kẻ đã nỗ lực gây đồi bại dòng giống con người khi ăn ở chung đụng với nữ giới trong con người (Sa 6:1-4), sẽ không bao giờ được thả ra (Giu 1:6). Chúng sẽ được chuyển trực tiếp từ chỗ tạm giam trong vực sâu đến chốn trừng phạt đời đời của chúng, là hồ lửa (đối chiếu Es 24:21-22). Còn các ma quỉ khác bị kết án trong vực sâu sẽ được thả ra khi có tiếng loa thứ năm phán xét để hành hại hạng tội nhân (9:1-12). (For further information on the abyss, see Revelation 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody,1999],257-58).

Chìa khóa mà Đức Chúa Trời giao cho thiên sứ biểu hiện quyền uỷ nhiệm của Ngài (đối chiếu 9:1); Ngài có quyền mở vực sâu ra, rồi đóng nó lại sau khi quăng Sa-tan vào trong đó. Hình bóng xiềng ma quỉ lại với cái xiềng cũng xuất hiện trong Giu-đe 6. Cái xiềng này là một cái xiềng lớn, bởi vì sự lớn lao và quyền phép của Sa-tan trong vai trò hữu thể cao nhất được dựng nên (đối chiếu Exe 28:14). Thiên sứ bắt lấy Sa-tan, hắn được xác định rõ ràng bằng bốn danh hiệu tương tự gán cho hắn ở 12:9. Thứ nhất, hắn được gọi là con rồng, một tước hiệu gán cho hắn mười hai lần trong sách Khải huyền (đối chiếu 12:3, 4, 7, 9, 13, 16, 17; 13:1, 2, 4; 16:13). Tước hiệu này nhấn mạnh đến bản chất thú vật, hung dữ và áp bức tàn bạo. Tước hiệu con rắn đời xưa lần ngược trở lại với Vườn Ê-đen và sự cám dỗ của Sa-tan đối với Ê-va (Sa 3:1-6; IICo 11:3). Diabolos (ma quỉ) ý nói “kẻ vu khống”, hoặc “phao vu” (ITi 3:11; IITi 3:3; Tít 2:3) — một tước hiệu thích đáng cho “kẻ kiện cáo anh em chúng ta” (12:10). Sa-tan là kẻ nói dối độc địa; thực vậy, hắn là “cha của sự nói dối” (Gi 8:44). Satanas (Sa-tan) và gốc rễ Hy-bá-lai satan được sử dụng năm mươi ba lần trong Kinh Thánh. Cả hai từ này đều có nghĩa là “kẻ thù nghịch”, vì Sa-tan chống đối Đức Chúa Trời, Đấng Christ và hết thảy những người tin Chúa.

Khoảng thời gian mà Sa-tan sẽ bị xiềng lại được xác định là một ngàn năm, lần đầu tiên trong sáu lần tham khảo chính xác và quan trọng đến thời gian ngàn năm (đối chiếu các câu 3, 4, 5, 6, 7). Việc xiềng Sa-tan lại đặt ra một khó khăn nghiêm trọng đối với cả những người ủng hộ lý thuyết hậu-Thiên hi niên và thời gian ngàn năm. Những người theo lý thuyết ngàn năm cho rằng Sa-tan đã bị xiềng rồi, bởi vì, như đã nói ở trên, họ tin rằng chúng ta đang ở trong thời kỳ Thiên hi niên lúc bây giờ (mặc dù họ không xem thời kỳ ấy là một ngàn năm tính theo chiều dài). Nhiều người ủng hộ lý thuyết hậu-Thiên hi niên cũng tin rằng Sa-tan hiện đang bị xiềng bởi vì nếu không thì thật khó để thấy được làm thế nào Hội thánh có thể được đưa tới thời kỳ Thiên hi niên. Tuy nhiên, phần mô tả của Kinh thánh về hoạt động của Sa-tan trong kỷ nguyên hiện tại cho thấy khó mà tin được rằng hắn đã bị xiềng rồi. Sa-tan hoạch định nói dối những kẻ giả hình trong Hội thánh (Cong 5:3), các kế hoạch chống lại những người tin Chúa (IICo 2:11; Eph 6:11), tự mình đội lốt như thiên sứ sáng láng để dối gạt người ta (IICo 11:14), tấn công những người tin Chúa (IICo 12:7; Eph 4:27) và phải bị kháng cự (Gia 4:7), ngăn trở những người đang ở trong chức vụ (ITe 2:18), và lãnh đạo những tín đồ sai lạc (ITi 5:15). Những người ủng hộ lý thuyết ngàn năm và hậu-Thiên hi niên nói chung cho rằng Sa-tan đã bị xiềng vào Thập tự giá, và xiềng như thế có nghĩa là hắn không còn dối gạt các nước nữa và giữ cho họ không học đòi lẽ thật của Đức Chúa Trời nữa (thí dụ, Anthony A. Hoekema, The Bible and the Future [Grand Rapids: Eerdmans, 1979], 228]. Nhưng Sa-tan không giữ được các dân ngoại khỏi sự hiểu biết về lẽ thật trước khi hắn bị xiềng tại thập tự giá. Người Ai-cập nghe nói về Đức Chúa Trời chân thật từ Giô-sép, và từ dân Do-thái trong suốt bốn trăm năm họ sống tại Ai-cập. Người A-si-ri ở thành Ni-ni-ve không những nghe đến lẽ thật từ Giô-na, mà họ còn ăn năn nữa (Mat 12:41). Nữ hoàng Sê-ba nghe nói đến Đức Chúa Trời chơn thật từ Vua Solomon (IVua 10:1-9), người Ba-by-lôn nghe nói từ Đa-ni-ên, và ba bạn Do-thái của ông; người Ba-tư nghe từ Ê-xơ-tê, Mạc-đô-chê, và Nê-hê-mi. Thêm nữa, trong ý nghĩa Sa-tan bị ngăn cấm không còn lừa gạt các nước trong kỷ nguyên hiện tại, vì nó làm cho lý trí của người chưa tin Chúa phải mù mờ (IICo 4:4), “là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch” (Eph 2:2), và cầm tù những người chưa tin Chúa (IITi 2:26) trong vương quốc của hắn (Co 1:13)?

Sự làm chứng của Kinh Thánh, ấy là Sa-tan chẳng làm gì khác hơn là bị xiềng trong kỷ nguyên hiện tại này, nhưng sẽ bị xiềng trong vương quốc trần gian của Đức Chúa Jêsus Christ. Chỉn khi đó hắn sẽ bị giam trong vực sâu, và sẽ bị đóng lại. . . và niêm phong. . . hầu cho hắn không còn lừa dối các dân được nữa. Hoạt động của hắn trên thế gian sẽ không chỉ đơn thuần là bị cấm đoán hoặc hạn chế, nhưng hoàn toàn bị che phủ; hắn sẽ không được phép gây ảnh hưởng thế gian bằng bất cứ cách nào. Như sẽ được giải thích sau đây, nói như thế không có nghĩa là những người sống trong thời kỳ Thiên hi niên sẽ không có khả năng phạm tội. Thật đáng ngạc nhiên, một phần lớn dân cư, sinh ra từ những người tin Chúa đã một mình bước vào vương quốc, sẽ trong môi trường hoàn hảo đó yêu mến tội lỗi của họ và từ chối Nhà Vua. Họ sẽ bị xử đoán bằng cây gậy sắt (2:27; 12:5; Thi 2:9), và những ai dính dáng đến cuộc nổi loạn công khai dưới quyền lãnh đạo của Sa-tan khi ngàn năm đã mãn và Sa-tan sẽ được thả ra trong ít lâu mới bị tiêu diệt hoàn toàn (xem phần bàn bạc của các câu 8-10) dưới đây.

SỰ TRỊ VÌ CỦA CÁC THÁNH ĐỒ

Tôi lại thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán. Kế đó, tôi thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Các người ấy được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm. Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Ấy là sự sống lại thứ nhất. Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm. (20:4-6)

Với Satan, các quỉ sứ hắn, và hết thảy hạng tội nhân chối bỏ Đức Chúa Trời đã bị dời ra khỏi chỗ của chúng, vương quốc ngàn năm bình an và công bình sẽ được thiết lập. Nhà vua tối cao trong vương quốc đó, tất nhiên phải là Đức Chúa Jêsus Christ. Chỉ một mình Ngài là “Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa” (19:16), và “Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài” (Lu 1:32). Tuy nhiên, Ngài đã giàu ơn hứa rằng các thánh đồ của Ngài sẽ đồng trị với Ngài. Họ sẽ phụ cai trị từng phương diện đời sống trong vương quốc, và được tôn vinh hiển và trọn lành, họ sẽ hoàn thành trọn vẹn theo ý chỉ của Ngài.

Trong mặc thị này, Giăng nhìn thấy toàn cảnh dân sự của Đức Chúa Trời được sống lại, được ban thưởng, và đồng trị với Đấng Christ. Ông thấy những ngai, biểu tượng cho thẩm quyền xét xử và oai quyền, và dân sự của Đức Chúa Trời ngồi trên ngai, được quyền xét đoán. Các thánh đồ đã được tôn vinh hiển sẽ thực hành cả hai: thi hành ý chỉ của Đức Chúa Trời và phân xử các tranh chấp.

Một số gợi ý đã được đưa ra liên quan đến việc xác định các thánh đồ ngồi trên ngai, nhưng họ có thể được nhận dạng tốt nhất do quyết định Đức Chúa Trời hứa với ai sẽ cai trị. Da 7:27 hứa rằng các thánh đồ của Cựu Ước sẽ trị vì trong vương quốc thiên hi niên: “Bấy giờ nước, quyền thế, và sự tôn đại của muôn nước ở dưới cả trời, sẽ được ban cho dân các thánh của Đấng Rất Cao. Nước Ngài là nước đời đời, và hết thảy các quyền thế đều hầu việc và vâng lời Ngài””. Chúa Jêsus hứa với các môn đồ rằng: “các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên” (Mat 19:28). Những người tin Chúa trong Cựu Ước cũng được hứa cho họ sẽ đồng cai trị với Đấng Christ. Trong ICo 6:2 Phao-lô viết: “Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao?“ Trong khi IITi 2:12 tuyên bố: “lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị“. Trong Kh 2:26 Chúa Jêsus hứa rằng: “Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước“ và trong Kh 3:21 Ngài thêm: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài“. Kh 5:10 nói rõ rằng các thánh đồ sẽ cai trị trên đất, không phải theo ý nghĩa thuộc linh hay trong không khi thiên thượng: “và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất“.

Phân đoạn Kinh Thánh hiện tại giới thiệu nhóm sau cùng các thánh đồ, họ sẽ đồng trị với Đấng Christ trong vương quốc của Ngài. Giăng thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Đây là những người tin Chúa đã tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn (6:9; 7:9-17; 12:11). Pelekiz¯o (bị chặt đầu) sát nghĩa là “chặt bằng một cái rìu”, và là một hình ảnh bằng lời có ý nói tới việc “tử hình” hoặc “hành hình”. Đế quốc Anti-christ đã tiêu diệt các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus (đối chiếu 1:9; 12:17; 19:10), vì họ trung tín rao giảng Lời của Đức Chúa Trời (đối chiếu 1:2; 6:9), và vì họ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay (đối chiếu 13:16-17; 14:9-11; 16:2; 19:20).

Bởi vì các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn đều trung tín cho đến chết, làm chứng cho ơn cứu rỗi chân thật của họ (đối chiếu Mat 24:13; Co 1:21-23; He 3:14), họ cũng được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm. Ez¯esan (họ lại sống) không thể đề cập đến sự sống lại thuộc linh (sự tái sinh hay đời mới), vì những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn đã sống theo cách thuộc linh rồi. Khi được sử dụng trong mối liên hệ với sự chết theo phần xác, hình thức gốc của Ez¯esan (za¯o được sử dụng xuyên suốt Tân Ước để mô tả sự sống lại về phần xác, thân thể (đối chiếu 1:18; 2:8; 13:14; 20:5; Mat 9:18; 27:63; Mac 5:23; Lu 24:23; Gi 11:25; Cong 1:3; 9:41; Ro 14:9; IICo 13:4).

Khi ấy, Giăng thêm phần trong dấu ngoặc đơn rằng còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Đây là những người không tin Chúa chết trong mọi thời đại, sự sống lại của họ để chịu phán xét và sự rủa sã của họ đã được mô tả trong các câu 11-15. Giăng gọi sự sống lại của các thánh đồ từ mọi thời đại là sự sống lại thứ nhất. Sự sống lại đó cũng được gọi trong Kinh thánh là “sự sống lại của người công bình” (Lu 14:14; Cong 24:15), “sống lại để được sống” (Gi 5:29), sự sống lại của “những kẻ thuộc về Ngài” (ICo 15:23), và “sự sống lại tốt hơn” (He 11:35). Việc sử dụng anastasis (sự sống lại) cung ứng thêm bằng chứng cho thấy sự sống lại được mô tả trong câu 4 là sự sống lại về phần xác. Từ ngữ này được sử dụng bốn mươi hai lần trong Tân Ước, luôn luôn có sự sống lại về phần xác (ngoại trừ trong Lu 2:34, phần văn mạch ở đó rõ ràng đòi hỏi một ý nghĩa khác).

Cụm từ Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất giới thiệu phước lành thứ năm trong bảy phước lành trong sách Khải huyền (đối chiếu 1:3; 14:13; 16:15; 19:9; 22:7, 14). Người nào có phần về sự sống lại thứ nhất được chúc phước trước hết vì sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy. Sự chết thứ nhì, được định nghĩa trong câu 14 là “hồ lửa”, là địa ngục đời đời. Phao-lô viết: “chúng ta nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào!“ (Ro 5:9). Ông nói thêm với người Tê-sa-lô-ni-ca: “Đức Chúa Jêsus mà Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại, tức là Đấng giải cứu chúng ta khỏi cơn thạnh nộ ngày sau … Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta“ (ITe 1:10; 5:9).

Người nào dự phần vào sự sống lại thứ nhất cũng được chúc phước cho bởi vì họ sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ (đối chiếu 1:6; 5:10). Những người tin Chúa đã là “thầy tế lễ nhà vua” rồi, được kêu gọi để “rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngàii” (IPhi 2:9). Những người tin Chúa giờ đây phục vụ trong vai trò thầy tế lễ bằng cách thờ phượng Đức Chúa Trời và lãnh đạo nhiều người khác đến sự thông biết Ngài, và cũng sẽ phục vụ trong khả năng đó suốt thời kỳ vương quốc thiên hi niên.

Ơn phước sau cuối cho những người dự phần trong sự sống lại thứ nhất, ấy là họ sẽ trị vì với Đức Chúa Jêsus Christ trong một ngàn năm, cùng với những người tin Chúa sống sót qua Kỳ Đại Nạn. Về mặt chính trị và xã hội, sự trị vì của Đấng Christ và các thánh đồ Ngài sẽ bao quát hết (Thi 2:6-8; Da 2:35), tuyệt đối (Thi 2:9; Es 11:4), và công bình (Es 11:3-5). Về mặt thuộc linh, sự cai trị của họ sẽ là một thời kỳ mà số dân sót Y-sơ-ra-ên quay trở lại đạo (Gie 30:5-8; Ro 11:26) và dân tộc được phục hồi trong đất mà Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham (Sa 13:14-15; 15:18). Đây sẽ là thời kỳ khi các dân Ngoại cũng sẽ thờ lạy Nhà Vua (Es 11:9; Mi 4:2; Xa 14:16). Sự trị vì ngàn năm của Đấng Christ và các thánh đồ cũng sẽ được đánh dấu bởi sự hiện diện của sự công bình và bình an (Es 32:17) và sự vui mừng (Es 12:3-4; 61:3, 7). Về phần thuộc thể, đấy sẽ là thời điểm khi sự rủa sã được dỡ bỏ (Es 11:7-9; 30:23-24; 35:1-2,7), khi thực phẩm sẽ dư dật (Gio 2:21- 27), và khi ấy sẽ có sự mạnh khoẻ về thể chất (Es 33:24; 35: 5-6), dẫn đến sự sống lâu dài (Es 65:20).

SỰ TRỞ LẠI CỦA SA TAN

Khi hạn ngàn năm mãn rồi, quỉ Sa-tan sẽ được thả, (20:7)

Như đã lưu ý trước đây, Sa-tan cùng các quỉ sứ hắn sẽ bị giam giữ ở vực sâu trong suốt thời gian ngàn năm, trong thời gian đó Đức Chúa Jêsus Christ sẽ trị vì chẳng có một ai ngăn trở. Chúng sẽ không được phép can dự vào mọi vụ việc của vương quốc dưới bất kỳ hình thức nào. Sự xiềng xích Sa-tan sẽ kết thúc, tuy nhiên, khi hạn ngàn năm mãn rồi và hắn sẽ được thả ra để lãnh đạo cuộc nổi loạn sau cùng của hạng tội nhân.

Để ôn lại ngắn gọn, Kinh thánh dạy rằng không có một người nào chưa được cứu sẽ bước vào vương quốc. Chỉ người được chuộc từ giữa vòng người Do-thái (12:6, 13-17; Es 60:21; Ro 11:26) và những người sống sót dân Ngoại (7:9-17) trong Kỳ Đại Nạn sẽ bước vào trong Vương quốc bằng loại thân thể bình thường, vật lý của họ. Các điều kiện về môi trường và xã hội trọn vẹn của thời kỳ Thiên hi niên, cùng với khoảng thời gian sống được kéo dài thêm của những người còn sống về mặt thuộc thể (Es 65:20), sẽ làm cho số con cái họ tăng thêm nhiều.

Mặc dù số cư dân đầu tiên của vương quốc ngàn năm thảy đều đã được chuộc, họ vẫn sẽ có bản chất tội lỗi của con người. Và như các bậc phụ huynh đã làm kể từ khi có Sự Sa Ngã, họ sẽ chuyển bản chất tội lỗi đó vào dòng dõi của họ. Mỗi thế hệ kế tiếp trong suốt ngàn năm sẽ tạo thành hạng tội nhân luôn có cần ơn cứu rỗi. Nhiều người sẽ đạt tới đức tin cứu rỗi nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng kinh ngạc thay, bất chấp sự cai trị cá nhân của Đấng Christ trên đất, bất chấp xã hội đạo đức nhất mà thế giới từng nhìn biết, nhiều người khác sẽ ưa thích tội lỗi của họ và chối bỏ Ngài (đối chiếu Ro 8:7). Ngay cả những điều kiện không tưởng của thời kỳ ngàn năm sẽ không làm thay đổi thực tại đáng buồn sự băng hoại của con người. Giống như họ đã có trong suốt sự hiện diện hoá thân thành nhục thể của Ngài trên đất, hạng tội nhân sẽ từ chối ân điển và chối bỏ địa vị Chúa Tễ của Nhà Vua trên toàn trái đất. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì ngay cả những điều kiện hoàn hảo của Vườn Ê-đen chưa phải là đủ để giữ cho A-đam và Ê-va vô tội đã loạn nghịch của Đức Chúa Trời. Vấn đề liên quan đến ơn cứu rỗi không bao giờ là thiếu thông tin (đối chiếu Rô-ma 1:18-20); đó là lòng yêu mến tội lỗi (Gi 3:19). Người nào công khai loạn nghịch sẽ đối diện với sự phán xét nhanh chóng (2:27; 12:5; 19:15; Thi 2:9), kể cả việc cầm mưa lại không giáng xuống đất đai của họ nữa (Xa 14:16-19). Nhưng hạng tội nhân không chịu ăn năn sẽ sống đến phần cuối ngàn năm đó chờ Sa-tan lãnh đạo một sự loạn nghịch trên khắp thế giới.

Khi Satan được thả ra, hắn sẽ cung ứng quyền lãnh đạo gắn kết có cần để bày ra bề mặt mọi tội lỗi tiềm ẩn và sự loạn nghịch còn lại trong vũ trụ. Hắn sẽ gom mọi kẻ loạn nghịch lại, tỏ ra bản chất và dự tính thật của hạng tội nhân chối bỏ Đấng Christ đó và cho thấy rõ ràng rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên họ là công bằng. Sự gian ác tuyệt vọng của Sa-tan và hận thù bạo lực đối với Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã chẳng có thay đổi qua ngàn năm xiềng xích trong vực sâu của hắn. Khi được thả ra, ngay lập tức hắn bắt tay vào hành động loạn nghịch sau cùng của hắn.

SỰ LOẠN NGHỊCH CỦA XÃ HỘI

và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển. Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó. Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. (20:8-10)

Vào lúc cuối ngàn năm tù của mình, Sa-tan ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất (đối chiếu các câu 3, 10; 12:9). Như đã lưu ý ở trên, sự xiềng xích Sa-tan không thể làm thay đổi bản chất của hắn cứ thù hận Đức Chúa Trời. Thực vậy, hắn sẽ thù ghét Đấng Christ nhiều hơn trước đây bao giờ. Và cũng như đã nói ở trên, Sa-tan sẽ tìm thấy vùng đất màu mỡ để gieo ra các hột giống loạn nghịch của hắn. Nhiều dòng dõi chưa được cứu của những người đã bước vào vương quốc ngàn năm bằng thể xác vật lý của họ (hết thảy những người đã được chuộc) sẽ yêu mến tội lỗi của họ và chối bỏ Đấng Christ. Họ sẽ không chút rung động bởi sự bình an, sự vui mừng và sự công bình của thời kỳ ngàn năm như hạng tội nhân đã có do những sự phán xét gây tàn phá của Kỳ Đại Nạn (đối chiếu 9:20-21; 16:9, 11, 21).

Chiến lược và phương pháp đích thực của Satan trong việc lừa dối không được tiết lộ, nhưng nó sẽ thành công trong việc lừa gạt những người chưa được tái sanh vào cuộc nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Jêsus Christ. Tuy nhiên, sự lừa dối của hắn sẽ thích ứng với mục đích của Đức Chúa Trời, như đã nói ở trên, là để tỏ ra sự công bình của Ngài khi Ngài tiêu diệt những kẻ loạn nghịch. Các hành động của Sa-tan luôn luôn ở dưới quyền kiểm soát tễ trị của Đức Chúa Trời (đối chiếu Giop 1:12; 2:6), và sự nhóm nhau lại của những kẻ nổi loạn gian ác này sẽ không phải là ngoại lệ.

Sa-tan sẽ thu thập các dân ở bốn phương trên đất (đối chiếu 7:1; Es 11:12), một cách nói đề cập đến, không phải với mặt đất bằng phẳng, mà với bốn hướng chính của chiếc la bàn: bắc, nam, đông, và tây. Nói cách khác, những kẻ loạn nghịch sẽ đến từ khắp nơi trên thế giới.

Giăng đưa ra những kẻ thù của Vua các vua với tước hiệu Gót và Ma-gốc, đặt cho chúng sau khi lực lượng xâm lược sẽ tấn công Israel trong Kỳ Đại Nạn (Ê-xê-chi-ên 38-39). Có người tin rằng Ê-xê-chi-ên 38 và 39 mô tả cuộc chiến này vào cuối thời kỳ ngàn năm. Tuy nhiên, có những khác biệt quan trọng tranh luận chống lại việc so sánh hai biến cố. Exe 39:4 và 17 mô tả những kẻ xâm lăng đang bị diệt vong trên các đồi núi của Israel, nhưng theo Kh 20:9, những kẻ nổi loạn vào cuối thời kỳ ngàn năm sẽ bị tiêu diệt trên một vùng “rộng trên mắt đất”. Cũng theo lối nói của Exe 39:17-20 dường như mô tả biến cố tương tự được mô tả trong Kh 19:17-18. Sau cùng, các biến cố trong Ê-xê-chi-ên 38-39 phù hợp về niên đại trước phần mô tả về đền thờ trong thời kỳ ngàn năm ở các chương 40-48, trong khi trận đánh được mô tả ở Kh 20:7-10 diễn ra sau thời kỳ ngàn năm.

Tên Gót dường như được sử dụng trong Kinh Thánh như một tước hiệu chung nói tới một kẻ thù của dân sự Đức Chúa Trời (bản Kinh Thánh 70 sử dụng nó để dịch “A-ga” trong Dan 24:7). Trong Ê-xê-chi-ên 38-39, danh xưng Gót mô tả Anti-christ sau cùng trong Kỳ Đại Nạn. Như vậy, rất có thể Gót được sử dụng trong câu 8 để mô tả cấp lãnh đạo con người các thế lực của Sa-tan. Có người tin dân được biết là Ma-gốc là dòng dõi cháu nội của Nô-ê có cùng tên đó (Sa 10:2). Sau đó họ trở thành dân Scythia rồi cư ngụ ở khu vực phía bắc của Biển đen và biển Caspian. Những người khác xác định họ với một dân sống xa hơn về phía Nam trong xứ Tiểu Á. Bất cứ ai là dân được biết về mặt lịch sử là Ma-gốc, từ ngữ này được sử dụng trong phân đoạn Kinh Thánh này để mô tả những kẻ loạn nghịch tội lỗi đến từ tất cả các nước, họ sẽ nhóm lại để chiến tranh, cuộc chiến sau cùng trong lịch sử nhân loại.

Thật kinh ngạc thay, Giăng nhìn thấy số lượng quân loạn nghịch đông như cát bờ biển — một lối nói được sử dụng trong Kinh Thánh để mô tả một đoàn đông vô số, rất lớn (Sa 22:17; Gios 11:4; Cac 7:12; ISa 13:5; IVua 4:20; He 11:12). Như đã lưu ý trước đây, những điều kiện lý tưởng về sức khoẻ, sự thịnh vượng, sự an ninh và bình an sẽ diễn ra trong thời kỳ ngàn năm, cùng với khoảng thời gian sống lâu dài của cư dân, sẽ dẫn tới sự bùng nổ dân số khổng lồ. Ngạc nhiên thay, số lượng đông đảo, rất lớn những người này sẽ hiệp cùng Sa-tan trong hành động loạn nghịch sau cùng chống lại Đức Chúa Trời.

Địa hình của trái đất sẽ được ổn định lại chắc chắn bởi các biến cố thảm khốc trong Kỳ Đại Nạn (đối chiếu 16:20; Xa 14:4, 9-11). Điều đó sẽ cho các lực lượng loạn nghịch lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Parembol¯e (dinh) được sử dụng sáu lần trong Công Vụ các Sứ Đồ để mô tả một doanh trại quân đội La-mã (Cong 21:34, 37; 22:24; 23:10, 16, 32). Các thánh đồ sẽ đóng trại quanh thành yêu dấu Jerusalem (đối chiếu Thi 78:68; 87:2), đây là chỗ có ngai của Đấng Mê-si và là trung tâm của thế giới trong thời kỳ ngàn năm (đối chiếu Es 24:23; Exe 38:12; 43:7; Mi 4:7; Xa 14:9-11), tận hưởng sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Jêsus Christ (Es 24:23; Gie 3:17) khi cuộc tấn công xảy ra.

Giống như Ạt-ma-ghê-đô một ngàn năm trước đó (19:11-21), “chiến trận” trong thực tế sẽ là một cuộc hành quyết. Khi các lực lượng nổi loạn di hành để tấn công, lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó. Chúng sẽ bị tiêu diệt nhanh chóng, ngay lập tức, và hoàn toàn. Việc gửi lửa … từ trên trời xuống thường là cách thức Đức Chúa Trời phán xét hạng tội nhân (đối chiếu Sa 19:24; Le 10:2; IIVua 1:10, 12; Lu 9:54). Các lực lượng của Sa-tan sẽ bị giết về phần xác, và linh hồn của họ sẽ đi vào miền có sự án phạt, chờ đợi phán quyết sau cùng của họ trong địa ngục đời đời, sẽ diễn ra trong một thời gian rất ngắn (20:11-15). Cấp lãnh đạo gian ác của chúng cũng sẽ không thoát khỏi số phận của hắn: ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm. Ở đó, hắn sẽ hiệp cùng với các thân hữu của mình, con thú và tiên tri giả, bởi thời điểm ấy chúng sẽ ở trong chốn hình khổ trong một ngàn năm (19:20). Hai nhân vật đấy vẫn còn ở đó sau thời điểm ấy bác bỏ lý thuyết sai lầm về sự huỷ diệt xác và hồn.

Địa ngục là địa điểm của cả hai: hình khổ về lý trí (Da 12:2; Mat 8:12; 13:42, 50; 22:13; 24:51; 25:30; Lu 13:28) và về thể xác (14:10-11; Mat 25:41; Mac 9:43-44; Lu 16:23-24). Những kẻ bị kết án trong chốn khủng khiếp đó sẽ chịu khổ cả ngày lẫn đêm. Ở đó sẽ chẳng có chút thoải mái nào hết, vì sẽ chịu khổ mãi cho đến đời đời. Kinh thánh rõ ràng dạy rằng địa ngục là đời đời. Cũng cụm từ Hy-lạp đó được dịch là đời đời và được sử dụng trong 1:18 để nói về sự đời đời của Đấng Christ; trong 4:9-10; 10:6; và 15:7 nói về sự đời đời của Đức Chúa Trời; và trong 11:15 nói tới khoảng thời gian trị vì của Đấng Christ. Hạng người vô tín sẽ “chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ“ (14:10-11). Chúa Jêsus dạy rằng hình phạt của kẻ gian ác là đời đời cũng như sự sống đời đời của người công bình (Mat 25:46). Ngài cũng dạy rằng địa ngục là nơi “lửa chẳng hề tắt” (Mác 9:43), “đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết“ (Mac 9:48). IITe 1:9 dạy rằng sự hủy diệt của kẻ ác trong địa ngục trải dài xuyên suốt cõi đời đời. (For a summary of the arguments that the punishment in hell is eternal, see Richard L. Mayhue, “Hell: Never, Forever, or Just for Awhile?” The Master’s Seminary Journal 9 [Fall 1998]: 129-45. This entire issue of The Master’s Seminary Journal is devoted to the topic of the eternality of hell).

Những người tin Chúa là công dân của nước Trời rồi (Phi 3:20; Co 1:13; ITe 2:12), được chúc phước trong mối tương giao với Nhà Vua. Nhưng một cơ nghiệp vinh hiển trong tương lai đang chờ đón họ: “không hư đi, không ô uế, không suy tàn“ (IPhi 1:4).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme