Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (20:11-15)
Phân đoạn này mô tả sự kết án sau cùng của kẻ bị mất và là phân đoạn nghiêm trọng, nghiêm túc và bi thảm nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Thường được biết là Ngai Lớn Trắng Phán Xét, đây là bối cảnh toà án sau cùng sẽ diễn ra. Sau bối cảnh này sẽ không bao giờ có một vụ xét xử nào nữa, và Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ còn cần phải hành xử trong vai trò Quan Án nữa. Bị cáo, hết thảy những ai chưa được cứu, họ đã từng sống, sẽ được phục sinh để kinh qua một cuộc xét xử không giống phiên xử nào đã từng có. Sẽ không có tranh tụng về tội lỗi hay vô tội của họ. Sẽ có một công tố viên, nhưng không có ai biện hộ; một kẻ tố cáo, nhưng không có trạng sư nào hết. Sẽ có một bản cáo trạng, nhưng không có một lời biện hộ do bị cáo đưa ra; bằng chứng thuyết phục sẽ được trình ra không có một sự bác bỏ hoặc kiểm tra chéo nào cả. Sẽ có một Quan Án hoàn toàn không cảm thông và không có bồi thẩm đoàn nào cả, và sẽ chẳng có kháng cáo nào về bản án mà Ngài đưa ra. Kẻ có tội sẽ bị trừng phạt cho đến đời đời mà không có khả năng được tạm tha trong một nhà tù mà từ đó không có lối thoát nào hết.
Ngôn ngữ của phân đoạn này là đơn giản, rõ ràng và không thêm thắt. Rất ít chi tiết được đưa ra và phần mô tả hoàn toàn thiếu ở những chỗ có khi cần phải sửa đổi nhanh chóng, hùng hồn mà ai nấy mong muốn có. Nhưng bối cảnh đáng sợ đủ trong chính quyền hạn của nó đến nỗi lối nói đó sẽ không cần thiết nữa. Sứ đồ Giăng yêu dấu, ghi lại sự mặc thị này trong một hang động hoặc trên một sườn đồi ở đảo Bát-mô, chắc chắn là ông chao đảo khi ông viết về sự rủa sã đời đời của kẻ ác.
Kể từ Sự Sa Ngã, Sa-tan, cha của sự nói dối (Gi 8:44), đã nỗ lực lừa dối mọi người về thực tại sự phán xét sắp xảy đến. Hắn đã làm hết sức mình để thuyết phục mọi người tin rằng sẽ chẳng có phiên xử sau cùng đâu. Sa-tan đã lừa dối hạng tội nhân vào việc tin rằng họ sẽ sống y như họ muốn mà chẳng e sợ gì về việc trình sổ hoặc sự phán xét trong tương lai. Sa-tan nói với Ê-va: “Hai ngươi chẳng chết đâu!” (Sa 3:4), do đó lên tiếng chối bỏ sự phán xét giáng trên tội lỗi. Phương tiện chủ yếu ma quỉ sử dụng trong sự dối gạt của hắn là chủ nghĩa vô thần (đặc biệt là thuyết tiến hóa vô thần) và tôn giáo giả. Chủ nghĩa vô thần từ chối sự tồn tại của Đức Chúa Trời, nó nói tới việc chẳng có một Quan Án đạo đức nào cả để mọi người phải trình sổ sau khi họ qua đời. Một cách sai lầm, họ tin rằng họ cứ thoải mái phạm tội như họ muốn rồi mọi sự cũng mau qua đấy thôi. Các vị thần của hầu hết các tôn giáo giả không phải là thánh, đòi hỏi sự công bình ở người bề trong và sự vâng phục của tấm lòng, và họ thấy nguôi ngoai qua nghi thức và lễ lạc; do đó các vị thần chẳng có đòi phải trình sổ gì hết nơi những kẻ đến thờ phượng.
Nhưng bất chấp sự suy tưởng hư không, dại dột của con người, Đức Chúa Trời hằng sống chơn thật là Quan Án Tối Cao của vũ trụ. Sự phán xét của Ngài đối với những kẻ không tin Chúa đều là công bình, bởi vì Ngài là công bình. Phu 32:4 chép về Đức Chúa Trời: “Công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Ấy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực”. Giop 37:23-24 tuyên bố: “Luận về Đấng Toàn năng, ta không tìm thấy đến Ngài được: Ngài vốn rất quyền năng, rất chánh trực và công bình cực điểm, không hề hà hiếp ai. Bởi cớ ấy nên loài người kính sợ Ngài”. Đức Chúa Trời không thể làm gì khác hơn là tỏ ra sự công bình, bởi vì sự trọn vẹn thánh khiết tuyệt đối nơi bổn tánh của Ngài sẽ không cho phép Ngài làm bất cứ điều gì khác trừ ra điều chi là đúng đắn. Ý muốn của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn tối cao về sự công bình và chánh trực, và Ngài sẽ chẳng làm chi khác hơn những việc công bình, đúng đắn và chơn thật. Ngoài Ngài, không có một việc gì buộc Đức Chúa Trời phải hành xử cách công bình; công bình chính là bổn tánh của Ngài. Như vậy, hết thảy mọi hành xử của Đức Chúa Trời đối với con người đều là công bình trọn vẹn; hạng tội nhân hết thảy đều đã làm sai lệch sự công bình của Đức Chúa Trời, nhưng sự công bình của Đức Chúa Trời đã không làm hại họ, chưa từng làm như thế.
Không một ai ở tại Ngai Trắng Lớn Phán Xét sẽ có những lý cớ nhỏ nhất để than phiền về bản án của họ [nam hay nữ]. Người nào chối bỏ ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong đời này chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự công bình của Ngài trong đời hầu đến. Đức Chúa Trời phán cùng Israel sai lạc: “Nhưng dân sự ta không khứng nghe tiếng ta, Y-sơ-ra-ên không muốn vâng theo ta” (Thi 81:11). Chúa Jêsus tuyên bố với dòng dõi cứng cổ: “Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!” (Gi 5:40) và “Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (Gi 8:24). Hạng tội nhân không ăn năn sẽ kinh nghiệm sự công bình của Đức Chúa Trời tại Ngai Trắng Lớn phán xét.
Phân đoạn Kinh Thánh đơn giản song đầy quyền lực này mô tả thực tại đáng sợ của phán quyết và bản án sau cùng giáng trên hạng tội nhân dưới bốn tiêu đề: bối cảnh, triệu tập, tiêu chuẩn và bản án.
BỐI CẢNH
Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa (20:11–12a)
Trong một câu nói ngắn gọn, thẳng thắn, chân thật, Giăng mô tả bối cảnh kinh khủng, đáng sợ ở trước mặt ông. Vị sứ đồ nhìn thấy Vị Quan Án ngồi trên ngai phán xét của Ngài, và hết thảy bị cáo đang đứng trước mặt Ngài. Cụm từ quen thuộc kai eidon một lần nữa giới thiệu một sự mặc thị mới trong sách Khải Huyền (đối chiếu các câu 1, 4; 6:1; 7:2; 8:2; 10:1; 13:1, 11; 14:1, 6, 14; 15:1; 17:3; 19:11; 21:1). Sự mặc thị nầy về Ngai Trắng Lớn Phán Xét theo sau sự mặc thị về thời kỳ Thiên Hi Niên (20:1-10), và sự Tái Lâm (19:11-21), và ngay lập tức đi trước trời mới và đất mới (21:1…).
Việc đầu tiên mà Giăng nhìn thấy là một toà lớn và trắng. Gần năm mươi lần trong sách Khải huyền có nhắc tới một ngai. Trong trường hợp này, đây là chỗ ngồi cai trị tối thượng của Đức Chúa Trời (đối chiếu 4:2-6, 9; 5:1-7, 13; 6:16; 7:10, 15; 19:4; 21:5). Ngai này được gọi là lớn không những vì cớ kích cở của nó to lớn hơn những cái ngai được nhắc tới trong 20:4, mà còn vì tầm quan trọng, oai nghi và quyền bính của nó nữa. Ngai ấy có màu trắng tiêu biểu cho sự tinh sạch, thánh khiết và công bình của nó. Bản án đưa xuống từ ngai này sẽ tuyệt đối là vô tư, chánh trực và công bình. David viết: “Nhưng Đức Giê-hô-va ngồi cai trị đời đời; Ngài đã dự bị ngôi mình để đoán xét. Ngài sẽ lấy công bình đoán xét thế gian, dùng sự ngay thẳng mà xử các dân tộc” (Thi 9:7-8). Đa-ni-ên mô tả bối cảnh này ở Da 7:9-10:
“Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng Cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng. Trước mặt Ngài, một sông lửa chảy ra và tràn lan; ngàn ngàn hầu hạ Ngài và muôn muôn đứng trước mặt Ngài. Sự xét đoán đã sắm sẵn, và các sách mở ra”.
Chúa Jêsus mô tả bối cảnh này là “sống lại để bị xét đoán” (Gi 5:29). Về sự phán xét này, sứ đồ Phao-lô đã viết: “Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời” (Ro 2:5).
Thậm chí còn đáng kinh hãi hơn cái ngai là sự mặc thị về Đấng đang ngồi ở trên. Vị quan án ngồi trên ngôi không ai khác hơn Đức Chúa Trời toàn năng, đời đời, được mô tả trong bối cảnh có ngai ở 4:8-11:
Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt; ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến! Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời, thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên”.
Trước đó trong sách Khải huyền, những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn đã kêu lên: “Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con” (7:10). Trong 19:4: “Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia!” (đối chiếu 1:4; 4: 9-10; 5:6-7, 13; 6:16). Dự phần ngai vàng với Đức Chúa Cha là Đức Chúa Jêsus Christ. Ở 3:21 Chúa Jêsus hứa: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài”. Trong sự mặc thị của Giăng về trời mới đất mới, ông đã nhìn thấy “ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con” (22:1, 3).
Mặc dù Đức Cha và Đức Con đang chia sẻ ngai vàng, chính Đức Con mới là Đấng đặc biệt được nhìn thấy ở đây, kể từ khi Kinh Thánh dạy rằng Ngài sẽ phán xét hạng tội nhân. Trong Gi 5:22 Chúa Jêsus phán: “Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con”, trong khi ở các câu 26-27 Ngài nói thêm: “Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người”. Trong Cong 10:42 Phi-e-rơ tuyên bố rằng Chúa Jêsus “là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết”. Sứ đồ Phao-lô cảnh cáo các triết gia theo tà giáo ở thành A-then rằng Đức Chúa Trời “đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ” (Cong 17:31). Trong thơ Rô-ma ông viết: “Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi” (Ro 2:16), trong khi ông lưu ý Ti-mô-thê rằng: “Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết” (IITi 4:1). Chính trong Thân Vị của Đức Chúa Jêsus Christ đã được tôn vinh hiển là Đấng sẽ ngồi trong chỗ phán xét sau cùng giáng trên những kẻ vô tín.
Sau khi mô tả mặc thị nói về Vị Quan Án đang ngồi trên ngai của Ngài, Giăng để ý thấy thực tại đáng giật mình rằng trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết. Câu nói đáng kinh ngạc, khó tin đó mô tả thứ “chưa được sáng tạo” của vũ trụ. Đất sẽ được hình thành trở lại bởi những sự phán xét gây tàn phá trong Kỳ Đại Nạn và được phục hồi lại trong Vương quốc Thiên hi niên. Tuy nhiên, nó hãy còn vấy bẩn với tội lỗi và phục theo các tác dụng của Sự Sa Ngã — hư hoại và sự chết; vì vậy nó phải bị huỷ diệt, một khi chẳng có cái gì bị hư hoại bởi tội lỗi mới được phép tồn tại trong thể trạng đời đời (IIPhi 3:13). Đức Chúa Trời sẽ ở trong chỗ của nó dựng lên “trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất” (21:1; đối chiếu 21:5; Es 65:17; 66:22; IIPhi 3:13). Đất và trời lúc bây giờ không những bị rúng động hoặc được tái tạo lại, khi Giăng nhìn thấy trong sự mặc thị của ông rằng chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Chúng chưa được dựng nên và hoàn toàn nằm ngoài sự hiện hữu. Việc này chẳng khác gì hơn sự kết thúc vũ trụ bằng bạo lực vậy (đối chiếu Thi 102:25-26; Es 51:6; Mat 5:18; 24:35; Lu 16:17; 21:33; He 1:10-12; 12:26-27). Barnhouse viết: “Có một sự kết thúc của trời và đất về mặt vật chất mà chúng ta đang nhìn biết. Ấy chẳng phải là chúng được thanh lọc và phục hồi đâu, mà sự đảo lộn sáng tạo cần phải diễn ra. Chúng chưa được dựng nên. Khi chúng ra từ chỗ không không nơi Lời của Đức Chúa Trời, chúng sẽ bị rút vào chỗ hư không bởi chính Lời này của Đức Chúa Trời” (Revelation: An Expository Commentary [Grand Rapids: Zondervan,1971],391).
Các chi tiết nói tới sự chưa sáng tạo vũ trụ của Đức Chúa Trời đã được Phi-e-rơ đưa ra ở IIPhi 3:10-13, chổ này mô tả phần tỏ ra sau cùng của Ngày Đức Giê-hô-va:
Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả. Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào, trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi! Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở.
Ngày của Chúa sẽ đến bất thình lình, bất ngờ, và với những hậu quả tàn khốc cho người không biết chuẩn bị — giống như sự đến của kẻ trộm vậy. Khi Ngày đó đến, có một vài việc sẽ xảy ra. Thứ nhứt: “trời sẽ vang rầm mà qua đi”. Rhoizedon (“tiếng gầm”) là một từ tượng thanh; nghĩa là, một từ nghe vang dội giống như những gì nó nói ra. Nó mô tả tiếng huýt sáo lớn, tanh tách, âm thanh ào ạt sẽ kết quả khi “các thể chất sẽ bị phá hủy với nhiệt độ cực kỳ cao, và đất cùng mọi công trình trên đó sẽ bị thiêu đốt. . . [khi] các từng trời sẽ bị hủy diệt đốt cháy, và các thể chất sẽ tan chảy với nhiệt độ cao”. Stoicheion (“nguyên tố”) đề cập đến các khối vật chất xây dựng cơ bản, chẳng hạn như hạt nguyên tử và hạt bên trong nguyên tử. “Tiêu tán” là chữ động từ lu¯o, và có thể được dịch là “phân huỷ”. Vũ trụ hiện tại sẽ phát nổ giống như một quả bom hạt nhân khổng lồ, và kết quả là “hơi nóng dữ dội” theo nghĩa đen sẽ làm tan biến tất cả vật chất trong đó. Các luật lệ hiện hành của nhiệt động lực học, nói rằng vật chất nào chưa được dựng nên cũng không thể bị hủy diệt, sẽ không còn hiệu lực nữa. Kết quả là, vũ trụ “sẽ bị đốt cháy”; nó sẽ bị thiêu cháy hoàn toàn. Việc đảo ngược tuyệt đối sự sáng tạo sẽ xảy ra. Sự đảo ngược đó không cần quá trình tiến hóa để tạo ra vũ trụ, cũng không cần nắm lấy sự vĩnh viễn để không dựng nên nó. Việc chưa dựng nên vũ trụ, giống như sự sáng tạo của nó, sẽ diễn ra bởi Lời của Đức Chúa Trời.
Khi giới thiệu yếu tố sau cùng trong cảnh đáng sợ này, Giăng viết rằng ông thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa. Bối cảnh này là khoảng trống không thể diễn tả được, tình trạng không không khôn thể tưởng tượng được giữa sự kết thúc của vũ trụ hiện tại và sự dựng nên trời mới và đất mới. Các tù nhân đứng trước vành móng ngựa thảy đều đã chết theo phần xác, một khi không còn bất kỳ người nào sống nữa — không một người nào có khả năng sống sót sau sự hủy diệt của vũ trụ hiện tại. Những kẻ vô tín còn sống sau cùng sẽ hư mất khi Đức Chúa Trời nghiền nát cuộc loạn nghịch vào cuối thời kỳ ngàn năm (20:8-9). Những người tin Chúa còn sống sau cùng sẽ được dịch chuyển và biến đổi sang loại thân thể đời đời của họ, giống như Hê-nóc (Sa 5:24), Ê-li (IIVua 2:11), và Hội thánh đã được cất lên (ITe 4:13-18).
Người chết được phác hoạ ở đây đang đứng trước toà, ngai của sự phán xét thiêng liêng không những từ cuộc nổi loạn trong thời thiên hi niên, mà còn bao gồm hết thảy những kẻ vô tín đã từng sống. Đây là sự “sống lại để bị phán xét” (Gi 5:29), sống lại “để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời” (Da 12:2), “sống lại của . . . người không công bình” (Cong 24:15). Kinh Thánh dạy rằng không một người tin Chúa nào sẽ đối diện với sự phán xét của Đức Chúa Trời, vì “chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Ro 8:1). Người nào “tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu” (Gi 3:18); họ có: “sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (Gi 5:24). Ngoài việc bị phán xét, hết thảy những người dự phần tin kính trong sự sống lại thứ nhứt (20:6) đã nhận được phần thưởng của họ rồi (đối chiếu câu 4; 19:7-9; ICo 3:12-15; IICo 5:10).
Để nhấn mạnh phạm vi toàn diện của sự phán xét, Giăng lưu ý rằng đám đông những kẻ vô tín trước ngai của Đức Chúa Trời bao gồm cả lớn và nhỏ. Hết thảy sẽ đối diện với sự phán xét, cả người có địa vị lẫn người bình thường: “Vì trước mặt Đức Chúa Trời, chẳng vị nể ai đâu” (Ro 2:11; đối chiếu Phu 10:17; Giop 34:19; Eph 6:9; Co 3:25; IPhi 1:17). John Phillips viết như sau:
Có một mối quan hệ kinh khủng ở đó … Kẻ chết, nhỏ và lớn, đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Những linh hồn chết được kết hợp với xác chết trong một mối quan hệ của khủng khiếp và tuyệt vọng. Những người đàn ông nhỏ bé và những người đàn bà tầm thường đời sống của họ đầy dẫy với sự nhỏ nhen, ích kỷ và những tội lỗi nhỏ bé khó chịu sẽ ở đó. Những kẻ ấy, đời sống của họ lên tới chỗ hư không sẽ ở đó, chính những tội lỗi của họ đã trở nên tồi tệ và trơ trẽn, tầm thường, hận thù, gay gắt, khó ưa, thô tục, không giống ai, và rẻ rúng. Kẻ lớn sẽ ở đó, những người nào đã phạm tội với một bàn tay giơ cao, phô trương, can đảm và tinh tế. Hạng người như Alexander và Napoleon, Hitler và Stalin sẽ có mặt, những người nào đã bước đi trong sự gian ác ở cấp độ lớn lao với thế gian để chiếm đoạt sân khấu của họ và họ đã chết vì không ăn năn vào lúc sau cùng. Giờ đây mỗi một người đều bị tố cáo và đang trên đường để chịu rủa sã: một mối quan hệ khủng khiếp gộp lại với nhau cho lần đầu tiên và cuối cùng. (Exploring Revelation, rev. Ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N. J.: Loizeaux, 1991], 242-43)
TRIỆU TẬP
Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có. (20:13a)
Khi bối cảnh kế tiếp trong tấn thảm kịch ở phòng xử tối hậu này mở ra, các tù phạm được triệu tập từ các xà lim của họ để xuất hiện trước Vị Quan Án. Kể từ khi họ chết đi, linh hồn của họ đã bị hành hình trong chỗ hình phạt; giờ đây thời điểm đã đến cho họ phải bị kết án ở địa ngục sau cùng, đời đời. Trước khi biển chưa được dựng nên và biến mất không còn tồn tại nữa (đối chiếu 21:1), nó đem trả những người chết mình chứa. Biển sẽ được chọn ra bởi vì dường như đó là chỗ khó khăn nhất mà thân thể sẽ được phục sinh. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ triệu hồi từ những nơi sâu thẳm của nó loại thân thể mới cho hết thảy những ai bị hư mất trong biển xuyên suốt lịch sử con người, bao gồm những kẻ bị chết đuối trong Nạn Lụt, những ai đi xuống với con tàu Titanic, tàu Lusitania, tàu Arizona, và vô số những con tàu khác bị đắm chìm, cũng như tất cả hàng triệu người khác có sự cuối cùng của họ ở biển. Sự Chết tiêu biểu cho tất cả những nơi trên đất mà từ đó Đức Chúa Trời sẽ phục sinh loại thân thể mới cho kẻ chết bất chính. Biển và sự chết được phác hoạ như những con quái thú khát máu đã ăn nuốt các thân thể đó và sẽ bị buộc phải nhả họ ra trước khi họ bị hủy hoại.
Âm phủ [hades] là tiếng Hy Lạp tương đương với từ Hy-bá-lai sheol. Cả hai từ này mô tả lãnh địa của kẻ chết. Sheol, được sử dụng sáu mươi bảy lần trong Cựu Ước, mô tả lãnh địa của kẻ chết nói chung. Hades được sử dụng mười lần trong Tân Ước, luôn luôn đề cập tới nơi khổ hình (đối chiếu Lu 16:23), ở đó kẻ chết bất chính bị giữ lại trong khi chờ đợi họ bị phán quyết xuống địa ngục. Trong bối cảnh khó tin này, Hades trống trơn không có linh hồn kẻ bị cầm tù, họ được tái hiệp lại với loại thần thể phục sinh đứng trước vành móng ngựa công bình của Đức Chúa Trời. Những kẻ vô tín, phù hợp với loại thân thể phục sinh thích ứng với địa ngục, khi ấy họ sẽ sẵn sàng cho việc họ bị kết án vào trong hồ lửa, ở đó là hình khổ của họ, không giống như hình khổ ở Hades, sẽ kéo dài cho đến đời đời.
TIÊU CHUẨN
và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy … Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm (20:12b, 13b)
Khi sự phán xét khởi sự, vị Quan Án mở các sách ra. Bối cảnh này gợi nhớ tới bối cảnh mà Đa-ni-ên đã mô tả:
“Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng Cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng. Trước mặt Ngài, một sông lửa chảy ra và tràn lan; ngàn ngàn hầu hạ Ngài và muôn muôn đứng trước mặt Ngài. Sự xét đoán đã sắm sẵn, và các sách mở ra” (Da 7:9-10).
Các sách chứa ghi chép từng suy nghĩ, lời nói, và việc làm của từng người chưa được cứu, họ đã từng sinh sống. Đức Chúa Trời đã giữ các tường trình trọn vẹn, chính xác, và toàn diện trong đời sống của từng người một, kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. Việc làm của tội nhân sẽ bị xem là nghịch cùng tiêu chuẩn trọn vẹn, thánh khiết của Đức Chúa Trời, là tiêu chuẩn mà Chúa Jêsus đã xác định ở Mat 5:48: “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn”. Trong thư tín thứ nhứt Phi-e-rơ viết: “Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (IPhi 1:15-16). Phaolô viết cho người Ga-la-ti: “Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy!” (Ga 3:10) — một lẽ thật cũng được dạy dỗ bởi Gia-cơ: “Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy” (Gia 2:10). Không một tù phạm nào đứng trước vành móng ngựa của công lý thiêng liêng sẽ có khả năng xưng mình là vâng phục trọn vẹn các tiêu chuẩn thánh của Đức Chúa Trời mà Ngài đòi hỏi. Họ “hết thảy đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Ro 3:23), và đã “chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Eph 2:1).
Sự công bình của Đức Chúa Trời đòi hỏi tội lỗi của từng người phải được trả giá. Đấng Christ đã trả giá án phạt đó cho những người tin Chúa: “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Es 53:5-6). “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ” (Ga 3:13). Đức Chúa Trời “đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (IICo 5:21). “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình” (IPhi 2:24). Nhưng những kẻ vô tín, không có sự công bình của Đấng Christ gắn cho họ (Phi 3:9), chính họ sẽ trả giá án phạt vì đã vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời — sự huỷ diệt đời đời trong địa ngục (IITe 1:9).
Sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với các công việc gian ác của hạng tội nhân không chịu ăn năn, vô tín sẽ gồm cả mọi suy tưởng của họ. “Vì Ngài biết thấu sự bí mật của lòng” (Thi 44:21), và Ngài “bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người” (Ro 2:16), “Thật không có điều gì kín mà không phải lộ ra, không có điều gì giấu mà chẳng bị biết và tỏ ra” (Lu 8:17). Hạng tội nhân cũng sẽ bị phán xét vì lời nói của họ. Chúa Jêsus đã phán trong Mat 12:37: “vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt”. Sau cùng, những người không tin Chúa sẽ bị phán xét vì những hành động của họ: “Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy” (Tr 12:14); “Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm” (Mat 16:27). Không một ai dám xưng mình không biết đến các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, bởi vì cả hai: loài thọ tạo (Ro 1:20) và lương tâm (Ro 2:14-15) đều tỏ ra sự công bình của Đức Chúa Trời. Những kẻ nào thiếu hiểu biết về luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ bị phán xét trên cơ sở sự hiểu biết mà họ đã có (Ro 2:12).
Tính chính xác tuyệt đối, không sai trật nơi sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ bảo đảm hình phạt của những kẻ vô tín trong địa ngục xứng đáng với lỗi lầm của họ. Đời sống của từng người sẽ được đánh giá theo cách riêng, và hình phạt của từng người sẽ phù hợp với sự đánh giá ấy. Vì vậy, Kinh Thánh dạy rằng sẽ có nhiều cấp độ hình khổ khác nhau trong địa ngục. Khi Ngài sai mười hai môn đồ ra đi giảng đạo Chúa Jêsus đã căn dặn họ: “Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chân các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy” (Mat 10:14-15). Khi quở trách vài thành phố vì sự vô tín của họ, Chúa Jêsus tuyên bố:
“Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bay, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên ta bảo bay, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn bay. Còn mầy, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa mầy, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn mầy” (Mat 11:21-24)
Thầy thông giáo giả hình “là kẻ ưa mặc áo dài đi chơi, thích người ta chào mình giữa chợ muốn ngôi cao nhất trong các nhà hội cùng trong các đám tiệc, nuốt các nhà đàn bà góa, mà làm bộ đọc lời cầu nguyện dài. Họ sẽ bị phạt càng nặng hơn nữa” (Mac 12:38-40). Khi mô tả sự phán xét sau cùng trong thí dụ nói tới viên quản gia trung tín, Chúa Jêsus dạy rằng “Đầy tớ nầy đã biết ý chủ mình, mà không sửa soạn sẵn và không theo ý ấy, thì sẽ bị đòn nhiều. Song đầy tớ không biết ý chủ, mà làm việc đáng phạt, thì bị đòn ít. Vì ai được ban cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều; và ai đã được giao cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn” (Lu 12:47-48). Tác giả thơ Hê-bơ-rơ hỏi: “huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?” (He 10:29).
Cần phải lưu ý rằng đang khi có nhiều cấp độ hình khổ khác nhau trong địa ngục, ai nấy đều sẽ gánh chịu sự hình khổ đau đớn không thể diễn tả và không thể chịu nổi. Hết thảy tội nhân trong địa ngục sẽ bị cách ly hoàn toàn khỏi Đức Chúa Trời và mọi sự đến từ sự nhân từ của Ngài. Vì vậy, họ sẽ khốn khổ lắm, nhưng không khổ sở như nhau đâu.
Sau khi các sách chứa những công việc gian ác của tù nhân được mở ra, cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống. Hình ảnh của sách này tương đương với sổ đăng ký của công dân được lưu trữ bởi các thành phố thời xưa; nó chứa tên họ của hết thảy những người có “quyền công dân trên trời” (Phi 3:20). Nó được đề cập đến mấy lần trong sách Khải Huyền (câu 15; 3:5; 13:8; 17:8; 21:27). Sách sự sống ghi chép những người được chọn của Đức Chúa Trời (đối chiếu Da 12:1; Ma 3:16; Lu 10:20; Phi 4:3; He 12:23), và tất cả tên họ của những kẻ không được ghi lại trong đó sẽ bị rủa sã cho đến đời đời.
Khi tên của họ không có ghi trong sách sự sống, các tù nhân ở trước Ngai Trắng Lớn bị xử đoán tùy công việc mình làm. Trong cơn sốc và kinh hãi, có người sẽ phản đối: “Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?” (Mat 7:22), Nhưng họ sẽ nghe đáp trả bằng lời lẽ đáng sợ, đáng kinh khiếp mà bất cứ người nào cũng sẽ nghe thấy: “Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Mat 7:23). Người nào chối bỏ không nhận tội lỗi của họ trong đời nầy, không ăn năn, và không cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho dựa trên công tác có tính thay thế của Đấng Christ sẽ đối diện với phiên toà sau khi họ chết đi. Rồi vào ngày ấy, họ sẽ bị tuyên bố là có tội.
BẢN ÁN
Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (20:14-15)
Bằng chứng là không thể chối cãi, phán quyết được đưa ra; sự phán xét sẽ được bày ra cách nhanh chóng. Khi bản án được thông qua, sự chết và âm phủ (mồ mả, và chỗ hình phạt tạm thời cho hết thảy những ai có tên họ không được biên vào sách sự sống) bị ném xuống hồ lửa, nghĩa là họ bước vào chỗ không còn tồn tại nữa, bị nuốt mất bởi địa ngục sau cùng. Các bạn tù của họ, hiện đang chịu khổ chỉ trong linh hồn của họ, sẽ được hiệp với loại thân thể phục sinh được thiết kế đặc biệt và quăng vào địa ngục đời đời (Ma-thi-ơ 10:28). Địa ngục sau cùng đó, được mô tả là hồ lửa, có lẽ hiện đang tồn tại (Ma-thi-ơ 25:41), nhưng nếu nó tồn tại, thì nó hiện đang trống trơn. Hai nhân vật đầu tiên đến ở đó, là con thú và tiên tri giả, sẽ không đến cho tới khi kết thúc Kỳ Đại Nạn (19:20).
Điều rõ ràng và sống động nhất trong các thuật ngữ Tân Ước dùng để mô tả địa ngục sau cùng, hồ lửa, là geenna (Gehenna). Gehenna là từ ngữ của Tân Ước dùng nói tới trũng Ben-Hinnom (cũng được gọi là Tô-phết; IIVua 23:10; Es 30:33; Gie 7:31-32; 19:6), nằm ở tây nam của thành Jerusalem. Trong các thời kỳ Cựu Ước, những người Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng đã đốt con cái mình trong lửa ở đó làm của lễ cho các tà thần (Gie 19:2-6). Trong thời của Chúa Jêsus, đó là bãi đổ rác của thành Jerusalem. Lửa sẽ được giữ cháy liên tục ở đó tạo ra khói bốc mùi hôi thối, và bãi rác bị nhiễm với giòi bọ. Đôi lúc thi thể của bọn tội phạm đã bị quăng ra đó. Trũng Ben-Hinnom vì thế là một bức tranh thích ứng nói tới địa ngục đời đời, Chúa Jêsus thường hay lặp đi lặp lại chỗ đó (Mat 5:22, 29, 30; 10:28; 18:9; 23:15, 33; Mac 9:43, 45, 47; Lu 12:5). Địa ngục sẽ là bãi rác vũ trụ đời đời của Đức Chúa Trời; các tù phạm của nó sẽ bị đốt như rác cho đến đời đời.
Những người được phước và nên thánh dự phần vào sự sống lại thứ nhứt sẽ không trải qua lần chết thứ hai (20:6). Nhưng phần còn lại của kẻ chết, họ không được dự phần vào sự sống lại thứ nhứt (20:5), sẽ đối mặt với sự chết thứ hai, được xác định ở đây là hồ lửa. Người nào chết trong tội lỗi của mình trong đời này của thời gian và không gian sẽ chết một cái chết thứ hai — họ sẽ bị kết án trong hồ lửa cho đến đời đời.
Kinh thánh phác hoạ một cách sống động các phương diện đa dạng của địa ngục sau cùng cháy luôn đó. Lửa đã được sử dụng hơn hai mươi lần trong Tân Ước để mô tả khổ hình của địa ngục (đối chiếu các câu 10, 15; 14:10; 19:20; 21:8; Mat 3:10-12; 5:22; 7:19; 13:40, 42, 50; 18:8-9; 25:41; Mac 9:44; Lu 3:9, 16-17; Gi 15:6; He 10:27; Giu 1:7). Cho dù ngọn lửa của địa ngục là theo nghĩa đen, lửa thuộc thể không được biết đến, vì hồ lửa đang tồn tại bên ngoài vũ trụ được dựng nên như chúng ta biết đó. Nếu ngọn lửa ở đây là biểu tượng, thực tại mà nó biểu hiện sẽ là kinh khủng và đau khổ nhiều hơn nữa. Kinh Thánh cũng mô tả địa ngục là một nơi tối tăm hoàn toàn, nơi đó sẽ cô lập các tù nhân với nhau (Mat 8:12; 22:13; 25:30; IIPhi 2:17; Giu 1:13); là một chỗ mà ở đó sâu bọ (có thể tượng trưng cho lương tâm hay cáo giác) nuốt chửng kẻ ác sẽ không bao giờ chết (Es 66:24; Mac 9:48); là một chỗ trục xuất ra khỏi vương quốc của Đức Chúa Trời (Mat 8:12; 22:13); và là một chỗ buồn rầu không dứt, ở đó “khóc lóc và nghiến răng” (Mat 8:12; 13:42, 50; 22:13; 24:51; 25:30; Lu 13:28).
Chỉ có một cách duy nhứt để tránh thoát thực tại kinh khiếp địa ngục đó. Người nào xưng ra tội lỗi của mình rồi cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho họ trên cơ sở sự chết có tính cách thay thế của Đấng Christ vì ích cho họ sẽ được giải phóng ra khỏi cơn thạnh nộ đời đời của Đức Chúa Trời (Ro 5:9; ITea 1:10; 5:9). Còn về những kẻ từ chối không chịu ăn năn, lời cảnh cáo ảm đạm mà trước giả thơ Hê-bơ-rơ tỏ ra sẽ được đem áp dụng:
Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi. Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay! (He 10:26-31).