Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt. Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy. Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi trước mặt các Hội thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói. Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không. Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy. Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: Phải, ta đến mau chóng. A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus ở với mọi người! (22:13-21)
Trong những câu kết thúc này, Kinh Thánh đã đi đủ một vòng tròn. Kinh Thánh mở ra với lời hứa về một Đấng Cứu Thế hầu đến, là Đấng sẽ chuộc dân sự của Ngài ra khỏi tội lỗi của họ. Lời hứa đó, đã đến ngay sau Sự Sa Ngã, được ghi lại trong Sa 3:15: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người”. Giống như Kinh Thánh mở ra với lời hứa về sự đến lần thứ nhứt của Đấng Christ, cũng một thể ấy, Kinh Thánh kết thúc với lời hứa về sự đến lần thứ hai của Ngài. Nhà giải kinh Báp-tít Nam phương trung tín W. A. Criswell viết:
Thứ nhất, Đấng Cứu Thế cần phải đến để Ngài sẽ bị nghiền nát, bầm dập, bị đóng đinh vào thập tự giá và lập một của lễ dâng lên vì tội lỗi. Ngài cần phải chết để trở thành Đấng Cứu Chuộc cho linh hồn của loài người. Sau khi Đức Chúa Trời lập lời hứa đó trong Vườn Ê-đen, hàng trăm năm trôi qua, hàng ngàn năm trôi qua, và Chúa đã chưa đến. Sau cùng, khi Ngài đến Ngài đã đến với dân sự Ngài và dân Ngài chẳng từng nhìn biết Ngài. Ngài đã sống trong thế gian và thế gian đã được dựng nên bởi Ngài và thế gian không nhìn biết Ngài. Hàng ngàn con người đã quên mất lời hứa hoặc nói khác đi họ đã chế giễu nơi sự ứng nghiệm của lời hứa ấy. Sau cùng, khi sự loan báo cho biết Ngài đã đến, các thầy thông giáo đã chỉ thẳng nơi Ngài sẽ chào đời, song họ không chịu tốn thời gian cho chuyến hành trình 5 dặm từ thành Jerusalem đến thành Bết-lê-hem để chào đón Cứu Chúa đã được hứa cho trong thế gian này. Tuy Ngài trì hoãn khá lâu và tuy con người đã quên và đã chế nhạo và tuy một số người còn giữ lòng trung tín đã chờ đợi sự yên ủi của Israel, giống như cụ Si-mê-ôn, thế mà Ngài đã đến. Trong việc giữ lời hứa thánh, thành tín của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus đã đến. Chính vì vậy trong phân đoạn Kinh Thánh Đức Chúa Trời phán khi kết thúc quyển Kinh Thánh của Ngài: “Kìa, Ta đến mau chóng“. Ở đây, lần thứ hai, tuy những kẻ vô tín có thể chế nhạo và tuy nhiều người khác sẽ chối bỏ và tuy nhiều thế kỷ có thể lên tới hàng thiên niên kỷ, đây là Lời bất biến và là lời hứa của Giê-hô-va Đức Chúa Trời “Ta đến mau chóng”. (Expository Sermons on Revelation [Grand Rapids: Zondervan, 1969], 5:176-77).
Lần đến thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ là một chủ đề hấp dẫn trong cả Cựu và Tân Ước (thí dụ, Xa 14:4; Ma 3:2; 4:5; Mat 16:28; 24:27; ICo 1:7; 15:23; ITe 2:19; 3:13; 4:15; 5:23; IITe 2:1; Gia 5:8; Giu 11:4). Nhưng không một chỗ nào được nhấn mạnh lớn lao hơn cho bằng sách Khải huyền: “sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ” (1:1). Sự thích đáng duy nhứt, ấy là quyển sách này, tiêu điểm của nó nhắm vào Lần Đến Thứ Hai, kết thúc với một lời mời gọi sau cùng trong ánh sáng của thực tại vinh hiển đó. Các câu 6-12 của chương này được gửi đến những người tin Chúa, đòi hỏi sự đáp ứng thích đáng của họ đối với sự tái lâm tức thì của Đấng Christ (xem phần thảo luận trong chương 20 của tập sách này). Các câu 13-21 kêu gọi những người chưa tin phải ăn năn. Phần kinh điển được cảm thúc của Kinh Thánh khép lại với lời mời gọi khẩn cấp, nài nĩ hạng tội nhân đến với Đức Chúa Jêsus Christ và nhận lãnh món quà miễn phí sự sống đời đời trước khi quá trễ cho đến đời đời.
Lời mời gọi sau cùng của Đức Chúa Trời cho hạng tội nhân có trong câu 17. Nhưng xung quanh lời mời gọi đó là một số ưu đãi được đưa ra để tác động mọi người đáp ứng với nó.
LỜI MỜI GỌI
Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không (22:17)
Có hai lời mời phân biệt trong câu này, được mô tả bởi hai tiếng kêu la: “Hãy đến”. Phần thứ nhứt trong hai câu đó là một lời cầu nguyện được gửi đến Đấng Christ; phần thứ hai là một lời mời gọi gửi đến hạng tội nhân. Phần thứ nhứt mời gọi Đấng Christ hãy đến; phần thứ hai là lời mời gọi sau cùng dành cho hạng tội nhân hãy đến với đức tin nơi Đấng Christ.
Lời hứa của Chúa Jêsus về sự trở lại sắp xảy ra của Ngài (các câu 7, 12, 20), Đức Thánh Linh, thành viên thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đáp ứng: “Hãy đến”. Câu Kinh Thánh không chỉ rõ tại sao Đức Thánh Linh đặc biệt mong muốn Chúa Jêsus tái lâm, nhưng phần còn lại của Kinh Thánh cho thấy cả hai: một lý do tiêu cực và một lý do tích cực.
Về mặt tiêu cực, những người nam người nữ xuyên suốt lịch sử đã liên tục chối bỏ, không màng đến, và đã phủ nhận Đấng Christ. Họ đã chế nhạo và khinh suất công việc của Đức Thánh Linh (Mat 12:31), chức vụ của Ngài là chỉ cho họ đến với Đấng Christ (Gi 15:26; 16:8). Khi nói về hạng tội nhân gian ác trước Nước Lụt, Đức Chúa Trời phán: “Đức Giê-hô–va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi” (Sáng thế ký 6:3). Những người Do-thái cứng đầu, cứng cổ, cứng lòng, đã chọc giận Đức Thánh Linh nhiều lần trong suốt bốn mươi năm phiêu bạt trong đồng vắng của họ (He 3:7-8) — là việc mà họ cứ tiếp tục làm xuyên suốt lịch sử của họ (đối chiếu Ne 9:30; Es 63:10; Cong 7:51). Sự chối bỏ phạm thượng trong thế gian tội lỗi về Đức Chúa Jêsus Christ sẽ đạt đến đỉnh điểm của nó trong Kỳ Đại Nạn. Khoảng thời gian bảy năm đó sẽ chứng kiến Sa-tan kích động quyền lực cho hai kẻ phạm thượng xấu xa và gian ác trong những kẻ đã từng sống: con thú (Anti-christ) và tiên tri giả. Đối với hai tội nhân khốn nạn, bị quỉ ám đó sẽ lãnh lấy danh dự là hai người đầu tiên bị quăng vào địa ngục sau cùng, là hồ lửa (19:20).
Xuyên suốt nhiều thế kỷ tội lỗi và sự loạn nghịch của con người kéo dài trong tăm tối, Đức Thánh Linh đã vận hành để mang lại sự thuyết phục và sự ăn năn (đối chiếu Gi 16:8-11). Vì vậy, khi Đức Chúa Jêsus Christ phán Ngài sẽ đến, Đức Thánh Linh chịu khổ lâu nay, buồn rầu kêu lên “Hãy đến”. Ngài nài xin Đấng Christ trở lại, bắt phục các kẻ thù của Ngài, phán xét hạng tội nhân, và kết thúc cuộc chiến lâu dài của Đức Thánh Linh tạo ra sự thuyết phục nơi hạng tội nhân cứng đầu, cứng lòng.
Về mặt tích cực, làm vinh hiển cho Đức Chúa Jêsus Christ là ước muốn và là chức vụ của Đức Thánh Linh (Gi 16:14). Nhưng nhận định sau cùng mà thế gian có về Chúa Jêsus, là Ngài bị treo trên một cây thập tự giữa hai tên tội phạm, bị chối bỏ, bị xem khinh và bị chế giễu. Đức Thánh Linh ao ước muốn nhìn thấy Thành Viên trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời được tôn cao trong vẻ đẹp, nét huy hoàng, quyền bính và oai nghi. Điều đó sẽ xảy ra khi Đấng Christ trở lại trong đắc thắng nơi lần đến thứ hai của Ngài.
Đức Thánh Linh không phải là Đấng duy nhất ao ước sự tái lâm của Đấng Christ. Vang dội cùng với lời nài nĩ của Ngài xin Đấng Christ hãy đến là cô dâu (là Hội thánh; xem phần thảo luận ở 19:7 trong chương 14 của tập sách này). Xuyên suốt nhiều thế kỷ, dân sự của Đức Chúa Trời đã chờ đợi, cầu nguyện, hy vọng và ngóng chừng sự trở lại của Đấng Christ. Họ lấy làm mệt mỏi trong cuộc chiến chống lại tội lỗi và khao khát muốn thấy Đức Chúa Jêsus Christ được tôn cao, được làm cho vinh hiển, và được tôn vinh. Họ ao ước Ngài trở lại rồi đưa họ về trời để sống với Ngài cho đến đời đời (Gi 14:3; ITe 4:17). Họ khao khát cái ngày mà loại thân thể hay chết, hư mất của họ sẽ được biến đổi thành loại thân thể không hay hư nát, bất tử của họ (ICo 15:53-54). Họ biết rõ rằng trong cái ngày vinh hiển đó sẽ không còn có buồn rầu, không còn có nước mắt, không còn có kêu la, không còn đau đớn, và không còn có sự chết. Sự loạn nghịch sẽ được xử lý cách nhanh chóng; Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ được tôn vinh hiển và sẽ tễ trị đời đời trên trời mới và đất mới.
Theo lời lẽ của Phao-lô, người tin Chúa là những người “yêu mến sự hiện đến của Ngài” (IITi 4:8). Thật là phi lý cho người nào xưng mình yêu mến Đức Chúa Jêsus Christ mà không khao khát sự tái lâm của Ngài. Người tin Chúa đã được định cho mối thông công đời đời với Ngài, và sự tán thưởng mối giao thông ấy sẽ là niềm vui chính của họ. Hội thánh sẽ không bao giờ thỏa lòng cho đến chừng nào Hội thánh trình diện với Đức Chúa Trời “đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài” (Eph 5:27).
Việc sử dụng lần thứ hai tiếng kêu “hãy đến“ báo hiệu sự thay đổi trong nhận thức. Lời mời gọi không còn dành cho Đấng Christ phải tái lâm nữa, mà là cho hạng tội nhân đến với đức tin cứu rỗi nơi Ngài. Cụm từ Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! mời gọi người nào nghe theo Đức Thánh Linh và Cô Dâu hiệp với họ trong việc kêu gọi sự tái lâm của Đấng Christ. Rõ ràng, họ không thể làm như vậy cho tới chừng họ đến với đức tin nơi Ngài; chỉ có người được chuộc mới có thể thực sự ao ước Ngài hiện ra. Lời cảnh cáo ngấm ngầm sẽ không giống như những ai “có mắt mà sao không thấy? Có tai mà sao không nghe?” (Mac 8:18; đối chiếu Phu 29:4; Gie 5:21; 6:10; Exe 12:2). Kẻ nào nghe với đức tin và tin theo là người sẽ được cứu, bởi vì “đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Ro 10:17). Việc nghe thường được kết hợp với sự vâng phục trong Kinh Thánh (thí dụ, Mat 7:24; Lu 6:47; 8:21; 11:28; Gi 5:24; 18:37). Người nào nghe và vâng theo Tin lành sẽ hiệp với Đức Thánh Linh và Cô Dâu trong việc mời gọi sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ, bởi vì họ khao khát sự vinh hiển của Ngài — và sự giải cứu của chính họ ra khỏi sự hiện diện của tội lỗi — trong lãnh vực thánh khiết trọn vẹn.
Kẻ nào nghe được xác định thêm là ai khát. Khát là một phép ẩn dụ quen thuộc trong Kinh Thánh, phác hoạ ý thức mạnh mẽ về nhu cần thuộc linh là điều kiện tiên quyết để ăn năn. Trong Ê-sai, Đức Chúa Trời kêu gọi “Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước!” của sự cứu rỗi (Es 55:1). Chúa Jêsus tuyên bố: “Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!” (Mat 5:6). Trong Gi 7:37 Ngài đưa ra lời mời: “Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống” trong khi trước đây trong sách Khải huyền, Ngài hứa: “Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không” (21:6; đối chiếu Thi 107:9; Gi4:14; 6:35).
Thêm một chiều kích khác cho lời mời gọi, Giăng viết cho Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không. Lời mời gọi không giới hạn đó là điển hình của những lời đề nghị rộng lớn, bao quát, giàu ơn về ơn cứu rỗi được thiết lập trong Kinh Thánh (đối chiếu Es 45:22; 55:1; Mat 11:28; Gi 3:15-16). Nó cũng minh họa lẽ thật trong Kinh thánh cho rằng ơn cứu rỗi liên quan đến cả hai: sự lựa chọn đích đáng của Đức Chúa Trời (Gi 6:44) và ý muốn của con người. Đức Chúa Trời cứu vớt hạng tội nhân, nhưng chỉ người nào công nhận nhu cần của họ và ăn năn. Nước sống (hay sự rửa về sự lại sanh, Tit 3:5) được hiến cho nhưng không (đối chiếu Es 55:1) cho tội nhân vì Chúa Jêsus trả giá cho ơn ấy qua sự chết có tính hy sinh của Ngài trên thập tự giá (Ro 3:24). Đức Chúa Trời ban hiến tự do nước sống cho những ai có tấm lòng khao khát ơn tha thứ, tâm trí của họ khao khát lẽ thật, và linh hồn họ khao khát Ngài.
CÁC YẾU TỐ KÍCH THÍCH
Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt. Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy. Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi trước mặt các Hội thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói … Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy. Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: Phải, ta đến mau chóng. A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus ở với mọi người!(22:13-16,18-21)
Xung quanh lời mời trong câu 17 là bốn yếu tố kích thích cho hạng tội nhân phải chấp nhận ơn ấy: vì cớ Thân Vị của Chúa, vì cớ tính độc đáo của thiên đàng, vì cớ tính chân thật của Kinh Thánh, và vì cớ sự tái lâm chắc chắn của Đấng Cứu Thế.
VÌ CỚ THÂN VỊ CỦA ĐẤNG CHRIST
Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt … Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi trước mặt các Hội thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói. (22:13,16)
Lý do thứ nhứt cho hạng tội nhân phải chấp nhận lời mời gọi sau cùng của Đức Chúa Trời là vì lời mời ấy đến từ Đức Chúa Jêsus Christ theo cách riêng, Ngài đã được tôn vinh, oai nghi, vinh hiển. Ba lần Chúa xác định về chính mình Ngài lặp đi lặp lại cùng một lẽ thật cần phải nhấn mạnh. Kể từ khi độc giả nguyên thuỷ của sách Khải huyền nói tiếng Hy Lạp, Chúa Jêsus xác định chính mình Ngài là An-pha và Ô-mê-ga (đối chiếu 1:8; 21:6). An-pha và Ô-mê-ga là chữ cái đầu tiên và cuối cùng của mẫu tự Hy-lạp. Cùng với các cụm từ tương ứng thứ nhất và sau chót (đối chiếu 1:17) và đầu (nguồn gốc của muôn vật) và là rốt (mục tiêu của muôn vật), nó biểu hiện sự vô hạn, tính đời đời, và sự sống không dứt của Đấng Christ, vượt qua mọi giới hạn. Phần mô tả có ba lần này mô tả sự trọn vẹn, tính vô hạn, và quyền bính tễ trị của Đức Chúa Jêsus Christ.
Phần mô tả này về Đức Chúa Jêsus Christ cũng là một phát biểu về thần tánh của Ngài. Rõ ràng, chỉ duy nhứt có một An-pha và Ô-mê-ga, thứ nhất và sau chót, là đầu và rốt — ấy là Đức Chúa Trời. Ở 1:8, Đức Chúa Trời phán: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, trong khi 21:6 mô tả Ngài là “đầu tiên và cuối cùng”. Ở Es 44:6 Đức Chúa Trời công bố: “Ta là đầu tiên và cuối cùng” (đối chiếu Es 41:4; 48:12). Hết thảy ba tước hiệu đó, chỉ có thể áp dụng cho Đức Chúa Trời, được sử dụng ở đây nói tới Đức Chúa Jêsus Christ đưa ra bằng chứng đáng thuyết phục về thần tánh của Ngài. Ngài không phải là hữu thể được dựng nên; không những Ngài là một đại tiên tri hay một giáo sư đạo đức lỗi lạc; Ngài không phải là một kẻ giả dối tuận đạo. Ngài là Đức Chúa Con, là Thân Vị thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đời đời. Sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ là lẽ đạo của Kinh thánh. Trong Cựu Ước, chiếc tàu mà Nô-ê và gia đình ông được cứu trong đó, chiên con Lễ Vượt Qua, và người bà con có quyền chuộc, hết thảy đều phác hoạ về Đấng Christ. Ngoài ra, Đấng Christ đã làm ứng nghiệm hơn 300 lời tiên tri trong Cựu Ước khi Ngài đến lần thứ nhứt. Ngài cũng là trọng điểm của Tân Ước nữa. Các sách Tin lành ghi lại đời sống và chức vụ của Ngài, và phần còn lại của Tân Ước trình bày ý nghĩa của giáo lý và thực hành. Để được cứu là được cứu bởi Đấng Christ; trở thành một Cơ Đốc nhân là ở trong Đấng Christ; để có ơn tha thứ là được Đấng Christ tha thứ cho; để có hy vọng là có hy vọng trong Đấng Christ; nói ngắn gọn, đối với Cơ Đốc nhân “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi 1:21).
Đấng Christ tự xác định thêm trong lời lẽ của chính Ngài ở câu 16. Nhưng trước khi làm như vậy Ngài phán cùng Giăng: “Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi”. Mặc dù các thiên sứ truyền đạt sự mặc thị cho Giăng (câu 6; 1:1; 17:1, 7; 21:9), nguồn gốc của sự mặc thị ấy là Chúa Jêsus. Cụm từ “Ta là Jêsus” xuất hiện chỉ ở đây trong Kinh Thánh. Cụm từ này nói rằng lời mời gọi sau cùng trong Kinh Thánh không phải là lời mời gọi của con người, mà là lời mời gọi thiêng liêng phát theo cách cá nhân cho hạng tội nhân bởi Đức Chúa Jêsus Christ. Sự mặc thị được ban ra cho các Hội thánh (1:11), song mặc dù sự mặc thị ấy được viết ra cho người tin Chúa (1:1), họ cần phải công bố sự ấy ra cho cả thế gian (đối chiếu 22:10).
Khi ấy, trong một lời phát biểu đáng kinh ngạc, dường như mang tính nghịch lý, Chúa Jêsus tuyên bố chính mình Ngài là chồi (tổ phụ) và hậu tự của Đa-vít. Cụm từ đó tóm tắt sự dạy của Kinh Thánh về hai bổn tánh của Đấng Christ; chỉ có Người-Trời mới có thể là tổ phụ và hậu tự của Đa-vít. Trong thần tánh của Ngài, Đấng Christ là chồi của Đa-vít (đối chiếu Mac 12:35-37); trong nhân tánh của Ngài, Ngài là hậu tự của Đa-vít (IISa 7:12-16; Thi 132:11-12; Mat 1:1; Ro 1:3; IITi 2:8).
Cuối cùng, Chúa Jêsus mô tả chính Ngài là “sao mai sáng chói”. Gọi ai đó là một ngôi sao nằm trong các thời kỳ Kinh Thánh (như ngày nay cũng vậy) để tôn vinh Ngài (Da 12:3). Trong các tác phẩm của người Do-thái, Đấng Mê-si hầu đến được gọi là một ngôi sao (Robert H. Mounce, The Book of Revelation, The New International Commentary on the New Testament [Grand Rapids: Eerdmans, 1977], 395). Mặc dù Ba-la-am là một vị tiên tri làm thuê có tánh ham tiền, dầu vậy Đức Chúa Trời vẫn sử dụng ông ta để đưa ra dự đoán chính xác về Đấng Mê-si hầu đến: “Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp, một cây phủ việt trồi lên từ Y-sơ–ra-ên” (Dan 24:17). Phi-e-rơ viết về thời điểm này khi “ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em” (IIPhi 1:19). Chúa Jêsus hứa sẽ ban cho kẻ nào thắng ở Thi-a-ti-rơ “ngôi sao mai” (2:28) — nghĩa là chính mình Ngài. Giống như sao mai báo trước ban ngày đến, cũng một thể ấy sự đến của Chúa Jêsus sẽ báo trước phần kết thúc sự tăm tối ban đêm của con người, và buổi bình minh rạng rỡ của vương quốc Ngài. Đấng Christ là “sự sáng của thế gian” (Gi 8:12), Ngài kêu gọi hạng tội nhân đến uống nước sông sự sống. Và đối với những ai chú ý đến lời mời gọi đó, Ngài hứa: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Mat 11:28); và “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu” (Gi 6:37).
VÌ CỚ TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA THIÊN ĐÀNG
Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy. (22:14-15)
Tiểu đoạn này bắt đầu với phước hạnh sau cùng trong 7 phước lành trong sách Khải huyền (câu 7; 1:3; 14:13; 16:15; 19:9; 20:6), mỗi phước hạnh được giới thiệu bởi lời tuyên bố phước cho. Phước lành này được công bố (phần lớn là bởi Đức Chúa Jêsus Christ) giáng trên những kẻ giặt áo mình. Cụm từ đó phác hoạ sự dự phần của người tin Chúa vào sự chết của Đấng Christ. Ở 7:14 một trong hai mươi bốn trưởng lão nói cùng Giăng: “Đó là những kẻ [những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn; 7:9] ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con”. Áo xống bẩn thỉu tiêu biểu cho tình trạng tội lỗi trong Es 64:6 và Xa 3:3, trong khi Thi 51:7; Es 1:18; và Tit 3:5 nói tới sự thanh tẩy tội lỗi đi kèm với việc được cứu. Lực tác động qua đó sự thanh tẩy đến là huyết của Đấng Christ (1:5; 5:9; 7:14; Mat 26:28; Cong 20:28; Ro 3:24-25; 5:9; Eph 1:7; 2:13; Co 1:20; He 9:12,14; 10:19; 13:12; IPhi 1:2,18-19; IGi 1:7).
Người nào đã trải nghiệm việc thanh tẩy tội lỗi đánh dấu sự cứu rỗi sẽ đời đời có phép đến nơi cây sự sống. Như đã lưu ý trong phần bàn luận ở 22:2 trong chương 19 của tập sách này, cây sự sống được định vị trong thành phố thủ phủ của thiên đàng, Giê-ru-sa-lem Mới. Điều nầy sẽ là sự ứng nghiệm lời hứa của Chúa Jêsus: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra–đi của Đức Chúa Trời” (2:7). Những ai được phép đến gần cây sự sống sẽ bởi các cửa mà vào trong thành (đối chiếu phần bàn luận ở 21:21 trong chương 19 của tập sách nầy).
Thiên đàng đặc biệt chỉ dành riêng cho những ai đã thanh tẩy tội lỗi mình bởi đức tin nơi huyết của Đấng Christ và tên của họ đã được “ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (13:8). Ngược lại, mọi người khác sẽ đời đời ở ngoài Giê-ru-sa-lem Mới trong hồ lửa (20:15; 21:8), bởi vì “kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con” (21:27). Như ở 21:8, một danh sách tiêu biểu (mặc dù không đầy đủ) về loại tội lỗi loại trừ người ta khỏi thiên đàng đã được trao cho Giăng.
Việc đưa loài chó vào danh sách dường như khó hiểu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng trong các thời xa xưa loài chó không phải là thú cưng đã được thuần hóa nuôi trong nhà mà chúng có hôm nay. Chúng là loài súc vật bị xem khinh, chúng ăn xác thối bị vứt bỏ bên các đống rác của thành phố (đối chiếu Xu 22:31; IVua 14:11; 16:4; 21:19, 23-24; 22:38). Vì vậy, gọi một người là chó là để mô tả kẻ ấy là một người có bản chất thấp kém (đối chiếu ISa 17:43; 24:14; IISa 3:8; 9:8; 16:9; IIVua 8:13; Phi 3:2); thực vậy, lần đầu tiên hạng tội nhân bất khiết ô uế được gọi là loài chó trong Phu 23:18, ở đây loại đĩ điếm nam đồng giới nằm trong nhận định. Những thuật sĩ (ra từ chữ pharmakos, từ gốc của Anh ngữ “pharmacy” [dược phẩm]) đề cập đến những người tham gia vào cách thực hành huyền bí thờ lạy hình tượng và lạm dụng thuốc mê thường đi kèm với những cách thực hành đó (đối chiếu 9:21; 21:8; Ga 5:20). Những kẻ tà dâm (chữ pornos, từ gốc của từ Anh ngữ “pornography” [khiêu dâm]) là những kẻ tham gia vào các hoạt động tình dục bất hợp pháp. Những kẻ giết người cũng bị loại trừ khỏi thiên đàng trong danh sách đã được đưa ra ở 21:8 (đối chiếu 9:21; Ro 1:29). Những kẻ thờ hình tượng là những kẻ thờ lạy các tà thần, hoặc những người thờ lạy Đức Chúa Trời chơn thật theo một tư thế không chấp nhận được (đối chiếu 21:8). Nhóm sau cùng bị loại khỏi thiên đàng cũng bao gồm tất cả những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối. Không phải hết thảy ai từng phạm bất kỳ tội lỗi nào đều bị loại trừ khỏi thiên đàng (đối chiếu ICo 6:11). Thay vì thế, đó là những người yêu mến và theo thói quen thực hành bất kỳ tội lỗi nào như vậy, ngoan cố bám vào nó, và từ chối lời mời của Đấng Christ để được cứu, họ sẽ bị quăng vào hồ lửa.
VÌ CỚ TÍNH CHÂN THẬT CỦA KINH THÁNH
Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy. (22:18-19)
Có ý nghĩa rất quan trọng khi Kinh Thánh kết thúc với một sự khẳng định về tính chân thật của nó. Bởi vì lời lẽ của Kinh Thánh là “trung tín và chân thật” (22:6), chúng không bị niêm phong, mà phải được công bố ra (22:10). Hạng tội nhân cần phải được mời gọi đáp ứng với những lời cảnh cáo trong Lời của Đức Chúa Trời hằng sống hoặc gánh chịu các hậu quả. Hết thảy những lời tiên tri trong sách Khải huyền liên quan đến số phận của hạng tội nhân sẽ trở nên hiện thực. Tính chắc chắn đáng sợ đó sẽ đưa người ta đến với Đức Chúa Jêsus Christ hầu tránh thoát cơn thạnh nộ hầu đến (ITe 1:10).
Diễn giả làm chứng cho uy quyền và tính dứt khoát của lời tiên tri trong sách nầy không ai khác hơn là Đức Chúa Jêsus Christ (câu 20). Lời cảnh cáo trang trọng của Ngài nghịch cùng việc làm xáo trộn Kinh thánh áp dụng trước hết cho lời tiên tri của sách Khải Huyền (đối chiếu 1:3). Những sự quở phạt khắc nghiệt của Giê-sa-bên cùng những kẻ theo bà ta (2:20-23), những kẻ nào chấp nhận “điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan” (2:24), và những kẻ thuộc về “hội quỉ Sa-tan” (3:9) sẽ nhắc họ phải công kích nó. Trải qua nhiều thế kỷ đã có những người khác làm cả hai việc: công kích sách Khải huyền và giải thích sai nó một cách trầm trọng. Nhưng trong ánh sáng của những lời cảnh cáo cứ lặp đi lặp lại nghịch cùng việc làm biến đổi Lời của Đức Chúa Trời, lời cảnh cáo của Đấng Christ phải được cơi rộng bao gồm cả Kinh Thánh. Trong Phu 4:2 Môi-se cảnh cáo: “Các ngươi chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều ta truyền cho, để giữ theo các điều răn của Giê-hô–va Đức Chúa Trời các ngươi mà ta đã truyền”. Trong Phu 12:32, ông nói thêm: “Các ngươi khá cẩn thận làm theo mọi điều ta dặn biểu các ngươi: chớ thêm hay là bớt chi hết”. Ch 30:5-6 cảnh cáo: “Các lời của Đức Chúa Trời đều đã thét luyện: Ngài là cái thuẫn đỡ cho người nương cậy nơi Ngài. Chớ thêm chi vào các lời Ngài. E Ngài quở trách ngươi, và ngươi bị cầm nói dối chăng”. Vì vậy, việc ngăn cấm chống lại việc làm biến đổi sách Khải huyền với hàm ý cơi rộng ra cho cả Kinh Thánh. Bởi vì sách Khải huyền mô tả toàn bộ quá khứ của lịch sử từ phần kết kỷ nguyên sứ đồ đến trạng thái đời đời, bất kỳ một sự thay đổi nào của nó sẽ là một sự biến đổi cả Kinh Thánh, như Robert L. Thomas ghi nhận:
Các phần dự đoán tiến trình từ đời Giăng đi suốt đến trạng thái đời đời. Bất kỳ loại lời tiên tri nào xâm nhập vào lãnh vực đã được thiết lập này, một là thêm vào hay bớt ra nội dung của Khải Huyền. Vì vậy, sách sau cùng của Kinh Thánh cũng là sản phẩm kết thúc của lời tiên tri trong Tân ước. Nó cũng đánh dấu phần kinh điển của Tân Ước một khi ân tứ nói tiên tri là phương tiện được lựa chọn theo cách thiêng liêng cho việc truyền đạt các sách kinh điển được thần cảm. (Revelation 8-22: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1995], 517)
Phần kinh điển của Kinh Thánh đã kết thúc vào cuối thế kỷ thứ nhất khi sách Khải huyền đã hoàn tất. Vì vậy, bất kỳ tiên tri giả nào, lừa lọc, hay bịp bợm đã thêm vào sách Khải huyền (như hệ phái Montanist đã làm trong Hội thánh đầu tiên và Joseph Smith, Mary Baker Eddy, và các tiên tri giả khác đã làm trong thời gian gần đây) sẽ phải đối diện với sự báo thù thiêng liêng. Đức Chúa Trời sẽ thêm cho hạng người thể ấy các tai nạn đã được ghi trong sách Khải huyền. Sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ nghiệt ngã tương đương giáng trên bất cứ ai bớt đi lời lẽ của Kinh thánh (như phái Marcion tà giáo đã làm trong hội thánh đầu tiên, phái phê bình tự do đã làm trong thời hiện đại) — Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh. Cả hai lời cảnh cáo đều có cách chơi chữ. Kẻ nào thêm vào Kinh Thánh sẽ có các tai nạn thêm cho họ; kẻ nào bớt đi từ Kinh thánh sẽ có các ơn phước thiên đàng bị tước đi khỏi họ.
Không có một người tin Chúa thực nào cố ý làm xáo trộn Kinh thánh. Người nào nhận biết và kính mến Đức Chúa Trời sẽ đối xử tôn trọng tối đa Lời Ngài với sự tôn trọng tối đa. Họ sẽ nói với tác giả Thi thiên: “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao!” (Thi 119:97; đối chiếu Thi 119:113, 163, 167; Gi 14:23); và: “tôi ưa thích luật pháp của Chúa” (Thi 119:70; đối chiếu Thi 1:2; 119:77, 92, 174). Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là người tin Chúa sẽ không bao giờ phạm sai lầm trong sự xét nét hay giải thích sai Kinh thánh một cách không chính xác hoặc không đầy đủ. Lời cảnh cáo của Chúa ở đây nhắm tới những ai dấn thân vào việc cố ý làm giả mạo hoặc giải thích sai Kinh thánh, những kẻ mà Phao-lô tuyên bố là người bán rong Lời của Đức Chúa Trời (IICo 2:17).
Khi kết thúc phần chú giải sách Khải Huyền, J. A. Seiss đã bày tỏ lòng tôn kính khiêm nhường đối với Kinh Thánh đánh dấu những người tin Chúa thực:
Ô, quí bạn ơi, ngăn trở hoặc xúc phạm lời của Đức Chúa Trời là một việc rất đáng sợ, và trên hết mọi sự “những lời tiên tri trong sách này“. Cho rằng sự thật những gì không phải là sự thật, — coi là lỗi, lên án, chối bỏ, hoặc cắt xén những gì chính mình Đức Chúa Trời đã đóng ấn của mình như làm tâm trí và mục đích, là một trong những tội ác cao nhất, không những nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà còn nghịch cùng linh hồn của người ta, là điều không thể không bị phạt. Với tấm lòng chân thật và hay cầu nguyện, và với những lời cảnh cáo long trọng và khủng khiếp này trước mắt tôi, tôi đã nỗ lực để xác định và chỉ ra trong các bài giảng mà Chúa và Thầy giàu ơn của chúng ta đặc biệt làm cho mọi người đều biết đến và bảo vệ. Nếu tôi đã đọc Quyển Sách này mà Ngài không đặt ở đó, hoặc đọc từ nó bất cứ điều gì Ngài đã đặt ở đó, với nỗi buồn sâu sắc nhất tôi sẽ đọc, và sẵn sàng đốt những sách vỡ có chứa sự gian ác ngược ngạo. Nếu tôi có bất cứ điều gì vượt quá giới hạn không phục theo những gì đã được viết ra, hoặc cắt xén bớt dù là cách nào chiều sâu và thước đo những gì Chúa Jêsus bởi thiên sứ của Ngài đã bày ra cho các Hội thánh tiếp thu, tôi không cần sự kết án của người ta chồng chất trên tôi gánh nặng chỉ trích mà tôi đáng chịu. Nếu sự nhu nhược, hay yếu đuối, hoặc tin cậy quá mấu trong sự hiểu biết của chính tôi đã vặn cong bất cứ điều gì, tôi chỉ phạm sai lầm, và cầu xin Đức Chúa Trời sai ai đó có thẩm quyền hơn đến mở ra cho chúng ta những lẽ thật mạnh mẽ có ghi ra ở đây. Theo ân sủng và ánh sáng ban cho tôi, tôi đã nói . . . Nếu tôi sai, nguyện Đức Chúa Trời tha thứ cho tôi! Còn nếu tôi đúng, xin Chúa chúc phước cho lời chứng của tôi! Trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời đã chăm chút lẽ thật đời đời của Ngài! (The Apocalypse [reprint, Grand Rapids: Kregel, 1987], 527)
Sách Khải Huyền và phần còn lại của Kinh Thánh đều là sự thật, và người được chuộc sẽ tin theo Kinh Thánh, canh giữ Kinh Thánh, yêu mến Kinh Thánh, và vâng theo Kinh Thánh. Kinh Thánh thực sự phán khi nó mô tả những niềm vui của thiên đàng và những nỗi khủng khiếp của địa ngục sẽ tác động hạng tội nhân phải chú ý đến lời kêu gọi giàu ơn của Đức Chúa Trời để được cứu.
VÌ CỚ TÍNH CHẮC CHẮN NƠI SỰ TÁI LÂM CỦA NGÀI
Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: Phải, ta đến mau chóng. A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus ở với mọi người! (22:20-21)
Sách Khải huyền và Kinh Thánh kết thúc với một lời nhắc nhở sau cùng và một phước lành. Trong lời lẽ sau cùng được ghi lại trong Kinh Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng làm chứng cho những điều ấy, khẳng định: “Phải, ta đến mau chóng”. Sự đến của Ngài là tức thì, giống như sách Khải Huyền (và phần còn lại của Tân Ước) truyền dạy. Giăng nói thay cho hết thảy người tin Chúa chân thật khi ông đáp lại: A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến! kể từ khi Cơ Đốc nhân là những người “yêu mến sự hiện ra của Ngài” (IITi 4:8). Những kẻ chế nhạo sẽ nhạo báng thắc mắc: “Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế” (IIPhi 3:4). Nhưng muôn vật sẽ không tiếp tục mãi mãi như chúng đang có đâu. Chúa Jêsus sẽ tái lâm, y như dự đoán của sách Khải huyền. Nếu sự tái lâm chắc chắn của Đấng Christ để phán xét hạng tội nhân không tác động người ta ăn năn, thì sẽ không có gì phải nói nữa hết.
Vì lẽ thật vinh hiển đầy sự yên ủi, những ai hạ mình xuống và tiếp nhận sự ban hiến ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ thấy Ngài thật là giàu ơn. Lời lẽ sau cùng của Kinh Thánh thích ứng với ân điển của Đức Chúa Jêsus ở với mọi người. Amen, là một biểu hiện của ân điển Đức Chúa Trời đối với nhân loại sa ngã. Chúa của sự vinh hiển, như Ngài đã hứa trong Kinh thánh, đang ban hiến thiên đàng cho những ai, trong ánh sáng của sự tái lâm chắc chắn của Ngài, tiếp nhận lời mời gọi giàu ơn của Ngài và trở lại với Ngài.