“Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Si-miệc-nơ rằng: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại: Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan. Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai” (Kh 2:8-11)
Trong suốt lịch sử của nó, sự thật nghịch lý dường như cho thấy rằng càng có nhiều Hội thánh bị bắt bớ, thì sự thanh sạch và sức mạnh của nó càng mạnh mẽ hơn. Trong nhiều thập kỷ, các Hội thánh ở Liên Xô cũ và Đông Âu bị các nhà cầm quyền cộng sản vô thần của họ đàn áp. Những người tin Chúa tiếp tục bị bắt bớ tại các quốc gia Hồi giáo và nơi khác cho đến ngày nay. Họ bị cấm không được công khai tuyên bố đức tin của họ. Nhiều người bị bỏ tù và có người đã tuận đạo. Trong Liên bang Sô viết, sách báo, ngay cả Kinh Thánh, đều khan hiếm. Không những các Hội thánh đều tồn tại, họ còn thịnh vượng nữa. Việc dỡ bỏ Bức Màn Sắt cho thấy một Hội thánh thuần khiết, đầy quyền năng, một Hội thánh được đánh dấu bởi đức tin chân chính, thuộc linh sâu sắc, sự khiêm tốn, sự sốt sắng, lòng yêu mến lẽ thật, và một lòng tin kính đối với Chúa.
Kinh Thánh nối kết sự bắt bớ và sức mạnh thuộc linh. Gia-cơ viết: “Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào” (Gia 1: 2-4). Phi-e-rơ khuyến khích các Cơ đốc nhân chịu khổ với lẽ thật rằng: “Đức Chúa Trời ban mọi ơn đã gọi anh em đến sự vinh hiển đời đời của Ngài trong Đấng Christ, thì sau khi anh em tạm chịu khổ, chính Ngài sẽ làm cho anh em trọn vẹn, vững vàng, và thêm sức cho” (IPhi 5:10). Cơ đốc nhân thuần khiết nhất là những người được rèn luyện trong lò lửa nghịch cảnh.
Hội thánh Si-miệc-nơ biểu lộ năng lực và sự thanh sạch đến từ việc chịu đựng thành công sự bắt bớ. Sự bắt bớ đã luyện lọc và làm sạch nó khỏi tội lỗi và khẳng định thực tại đức tin các thuộc viên của nó. Những kẻ giả hình không trụ lại để đối mặt với sự bắt bớ, vì các tín đồ giả hiệu không muốn chịu đựng đau khổ. Những thử thách và bắt bớ thêm sức và luyện lọc đức tin cứu rỗi chân chính, nhưng phát hiện và tiêu diệt đức tin giả dối.
Mặc dù họ chịu khổ nạn về vật chất và đói nghèo, các Cơ đốc nhân ở Si-miệc-nơ đã bám vào sự giàu có thuộc linh không lường được của họ. Đáng chú ý, Hội thánh tại Si-miệc-nơ là một trong hai Hội thánh (cùng với Hội thánh Phi-la-đen-phi-a) chẳng nhận lấy sự quở trách trong thư tín của nó đến từ Đức Chúa Jêsus Christ.
Như Kinh thánh đã nói rõ, sự bắt bớ và thử thách là một phần tất yếu và không thể tránh được của đời sống Cơ đốc (Cong 14:22; IITi 3:12). Tấm gương của Hội thánh tại Si-miệc-nơ dạy cho các Hội thánh về cách phản ứng đúng cách khi chúng xảy đến. Bức thư của Đấng Christ mở ra trong sáu chặng đường liên tiếp: thư tín, Hội thánh, thành phố, lời khen ngợi, mạng lịnh và lời khuyên.
THƯ TÍN
Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại (Kh 2:8c)
Như thường lệ trong thư tín đời xưa, tác giả xác định chính mình Ngài ngay lúc bắt đầu bức thư, thay vì ký tên của Ngài ở cuối thư. Phần mô tả của tác giả là Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại xác định Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ đã được tôn vinh hiển, được mô tả bởi cụm từ đó trong sự mặc thị ở 1:12-20 (đối chiếu 1:18). Đấng trước hết và Đấng sau cùng là tước hiệu Cựu Ước nói tới Đức Chúa Trời (Es 44:6; 48:12, đối chiếu 41:4), và phần ứng dụng của nó ở đây (và trong 22:13) cho Đấng Christ khẳng định bổn tánh bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Trời. Ngài là Đức Chúa Trời đời đời, vô hạn, Ngài hiện hữu rồi khi muôn vật đã được dựng nên, và Ngài sẽ tiếp tục hằng hữu sau khi chúng bị hủy diệt. Đức Chúa Jêsus Christ vượt khỏi thời gian, không gian và sự sáng tạo.
Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên thay, Đức Chúa Trời đời đời đã trở thành người và đã chết rồi và đã sống lại. Đây là lẽ mầu nhiệm rất quan trọng: Làm sao mà Đấng hằng sống vượt qua thời gian, không gian, và lịch sử phải chịu chết chứ? Phi-e-rơ chỉ ra câu trả lời trong IPhi 3:18: Đấng Christ “về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống”. Ngài đã chịu chết trong hình người xác thịt của Ngài là của lễ trọn vẹn vì cớ tội lỗi, song giờ đây đã sống lại (bởi sự sống lại của Ngài) và sống mãi mãi “theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết” (He 7:16, đối chiếu Ro 6:9). Phần chỉ định này của Đấng Christ đã đem lại sự yên ủi cho các tín đồ bị bắt bớ tại Si-miệc-nơ. Với sự nhận biết rằng họ đang gánh chịu những thời kỳ khó khăn, Đấng Christ đang nhắc cho họ nhớ rằng Ngài vượt quá mọi vụ việc tạm thời, và, qua sự hiệp một với Ngài, thì họ cũng phải một thể ấy. Và nếu họ phải đối diện với sự chết nơi tay những kẻ bắt bớ họ, bên cạnh họ là Đấng đã thắng hơn sự chết (He 2:14) và Ngài hứa: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết” (Gi 11:25-26). Đức Chúa Jêsus Christ cũng gánh chịu sự bắt bớ bất công và trầm trọng nhất hơn bất cứ ai đã từng trải qua (đối chiếu He 12:3-4), để Ngài có thể phục vụ như một nguồn quyền phép đầy ơn thương xót và hiểu biết (He 2:17-18; 4:15). Ngài là Đấng được nhắc tới trong bức thư đầy yên ủi và khích lệ này cho Hội thánh tại Si-miệc-nơ.
HỘI THÁNH
Hội thánh Si-miệc-nơ (Kh 2:8a)
Kinh Thánh không ghi lại sự thành lập Hội thánh tại Si-miệc-nơ, thành phố cũng không được nhắc tới trong sách Công Vụ các Sứ Đồ. Mọi sự được tỏ ra về hội chúng nầy đều được chứa trong bức thư này. Có lẽ, một Hội thánh được trồng tại Si-miệc-nơ trong suốt chức vụ ở Ê-phê-sô của Phaolô (Cong 19:10), một là do Phao-lô, hay bởi những người ông đưa trở lại đạo.
Vào cuối thế kỷ thứ nhất, cuộc sống thật khó khăn và nguy hiểm cho Hội thánh tại Si-miệc-nơ. Thành phố, một đồng minh lâu nay của Rome, là một nơi thờ lạy hoàng đế. Dưới thời Hoàng đế Domitian, nó đã trở thành một chỗ xúc phạm từ chối không dâng của lễ hàng năm cho hoàng đế. Không có gì phải ngạc nhiên, nhiều Cơ đốc nhân đã bị hành quyết. Những người tuận đạo nổi tiếng nhất của Si-miệc-nơ là Polycarp, đã bị hành quyết nửa thế kỷ sau thời của Giăng.
Chữ Hy-lạp dịch chữ “Si-miệc-nơ” đã được sử dụng trong bản Kinh Thánh 70 dịch chữ Do-thái nói tới nhũ hương, một chất được sử dụng làm nước hoa cho người sống (Mat 2:11) và người chết (Gi 19:39). Sự kết hợp của nó với cái chết phác hoạ hoàn hảo Hội thánh chịu khổ tại Si-miệc-nơ. Giống như nhũ hương, được sản xuất bằng cách nghiền nát một cây có mùi thơm, Hội thánh tại Si-miệc-nơ, bị nghiền nát bởi sự bắt bớ, đã cho ra một mùi thơm của lòng trung thành đối với Đức Chúa Trời. Tại Si-miệc-nơ, không giống như ở Ê-phê-sô, không có mái che tình cảm đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Do các tín đồ tại Si-miệc-nơ yêu mến Ngài, họ giữ lòng trung tín với Ngài; vì cớ lòng trung tín đó, họ bị ghét; vì họ bị ghét, họ bị bắt bớ; đổi lại, sự bắt bớ đó thúc giục họ yêu mến Đấng Christ càng hơn.
THÀNH PHỐ
Si-miệc-nơ (Kh 2:8b)
Si-miệc-nơ là một thành phố cổ, nguồn gốc của nó bị mất đi trong thời cổ đại. Có thể xem gốc gác của nó rất sớm sủa vào đầu năm 3000TC, nhưng lần định cư đầu tiên của Hy-lạp là vào khoảng năm 1000TC. Khoảng năm 600TC Si-miệc-nơ đã bị người Lydian tiêu diệt và nằm trong đống đổ nát trong hơn ba thế kỷ cho đến khi hai người kế tục Đại đế Alexander tái thiết lại thành phố vào năm 290TC. Đó là thành phố Si-miệc-nơ được xây dựng lại trong thời của Giăng.
Như đã lưu ý ở trên, Si-miệc-nơ là một đồng minh bền vững của Rome. Thực vậy, cư dân của nó đã quá đắm say với Rome vào năm 195TC họ xây dựng một đền thờ để thờ lạy Rome. Một thế kỷ sau đó, quân đội của Sulla vị tướng lãnh La-mã đối diện với thời tiết cay đắng của mùa đông. Khi cuộc chiến của binh lính La-mã được thông báo trong một hội chúng cư dân Si-miệc-nơ, họ đã cởi quần áo của họ để gửi cho các binh lính nầy. Rome đã khen ngợi lòng trung thành của Si-miệc-nơ bằng cách chọn nó trên tất cả các ứng viên khác làm bối cảnh xây dựng ngôi đền thờ mới dành cho Hoàng đế Tiberius (năm 26SC). Rồi khi một trận động đất hủy diệt thành phố vào cuối thế kỷ thứ hai, Hoàng đế Marcus Aurelius đã tái thiết lại thành ấy.
Mặc dù Êphêsô và Bẹt-găm bằng hoặc vượt hơn nó về tầm quan trọng kinh tế và chính trị, Si-miệc-nơ được cho là thành phố đẹp nhất trong Á châu. Thành phố nằm trên vịnh biển Aegean, và không giống như Êphêsô, thành được chúc phước cho với một hải cảng thật tuyệt vời. Si-miệc-nơ cũng có lợi từ vị trí của nó ở cuối phía tây của con đường chạy qua thung lũng sông Hermus phong phú. Thêm vào với vẻ đẹp tự nhiên của môi trường xung quanh, bản thân thành phố cũng được thiết kế rất đẹp nữa. Nó chạy dài từ vịnh trên dốc của Pagos, một ngọn đồi lớn được bao phủ với nhiều chùa miễu và các cao ốc khác. Đường phố được bố trí tốt, với những con đường có hai hàng cây xanh. Con đường nổi tiếng nhất của Si-miệc-nơ: “Phố vàng”, chạy vòng quanh các sườn của đồi Pagos. Ở một đầu là đền thờ Cybele, và đầu kia là đền thờ Zeus. Ở giữa là các đền thờ thần Apollo, Asklepios, và Aphrodite.
Si-miệc-nơ là một trung tâm nổi tiếng về khoa học và y học. Giống như thành Ê-phê-sô, nó có được đặc ân tự quản. Nó cũng là một trong vài thành phố dám xưng mình là cái nôi của thi sĩ Homer. Như đã lưu ý ở chương trước, hải cảng Êphêsô cuối cùng đã bị phù sa bồi lên và thành phố đã không còn tồn tại nữa. Tuy nhiên, Si-miệc-nơ sống sót qua nhiều trận động đất, lửa và tồn tại hôm nay là thành phố Izmir của Thổ Nhĩ Kỳ.
LỜI KHEN NGỢI
Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan. (Kh 2:9)
Không có gì thoát khỏi tầm nhìn của Chúa vinh hiển về Hội thánh Si-miệc-nơ, Ngài biết rõ từng chi tiết về các Hội thánh dưới sự chăm sóc của Ngài. Ngài khởi sự khen ngợi đối với những tín đồ bằng cách bảo đảm với họ rằng Ngài biết rõ sự khốn khó của họ vì cớ lòng trung thành của họ đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Có ba lý do cho sự thù địch đó.
Thứ nhất, như đã lưu ý rồi, Si-miệc-nơ đã từng cuồng tín tôn thờ Rome trong nhiều thế kỷ. Không có gì phải ngạc nhiên, thành phố này là trung tâm hàng đầu cho việc thờ lạy hoàng đế. Các cư dân của Si-miệc-nơ đã sẵn lòng cung hiến sự thờ phượng mà Hoàng đế Domitian bấy giờ yêu cầu các thần dân của mình ở khắp nơi. Mặc dù các Cơ đốc nhân bằng lòng phục theo nhà cầm quyền dân sự của hoàng đế (Ro 13:1…), họ đã từ chối không dâng các thứ của lễ cho ông ta và thờ lạy ông ta. Vì sự từ chối đó, họ trở thành những kẻ loạn nghịch và đối mặt với cơn thạnh nộ của nhà cầm quyền La-mã.
Thứ hai, các Cơ đốc nhân từ chối không tham gia vào tôn giáo ngoại giáo nói chung. Như đã lưu ý ở trên, Si-miệc-nơ đã thờ lạy một hỗn hợp đủ thứ tà thần, bao gồm Zeus, Apollo, Aphrodite, Asklepios, và đặc biệt là Cybele. Sự Cơ đốc nhân chối bỏ các đền thờ dị giáo của các thần tượng, cộng với việc họ thờ lạy một Đức Chúa Trời không thấy được, đã khiến họ bị lên án là những kẻ vô thần. Phần lớn sinh hoạt xã hội của Si-miệc-nơ xoay quanh việc thờ lạy tà giáo, và Cơ đốc nhân bị xem là những người theo hình thức phát triển xã hội chống lại xã hội vì đã từ chối không tham gia vào đó.
Cuối cùng, các tín đồ tại Si-miệc-nơ đối mặt với những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội [của kẻ phạm thượng là] quỉ Sa-tan. Lời phát biểu gây sốc này khẳng định rằng những người Do-thái nào thù ghét và chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ cũng giống y như những môn đồ của Satan, là những kẻ chuyên thờ lạy hình tượng tà giáo (đối chiếu Gi 8:44). Chúa Jêsus sử dụng từ ngữ nặng nề gièm pha, thường là loại từ ngữ thù nghịch chống lại Đức Chúa Trời, chỉ ra sự gian ác, cường độ và sự nghiêm trọng của sự vu khống.
Những người Do-thái vô tín thường cáo buộc Cơ đốc nhân về tội ăn thịt đồng loại (dựa trên sự hiểu lầm về Tiệc Thánh của Chúa), phi đạo đức (dựa vào sự xuyên tạc về nụ hôn thánh mà các tín đồ chào hỏi nhau) (Ro 16:16, ICo 16:20; IICo 13:12; ITe 5:26), đập phá nhà cửa (khi người bạn đời trở thành một Cơ đốc nhân và người kia thì không, điều này thường gây ra mâu thuẫn; đối chiếu Lu 12:51-53), thuyết vô thần (bởi vì, như đã lưu ý rồi, Cơ đốc nhân đã chối bỏ đền thờ tà giáo của các vị thần), và sự bất trung và nổi loạn về mặt chính trị (vì Cơ đốc nhân từ chối không dâng hiến tế cho hoàng đế). Hy vọng tiêu diệt đức tin Cơ đốc, một số người Do-thái giàu có và có ảnh hưởng của Si-miệc-nơ đã vu cáo những lời lẽ giả dối, phạm thượng này lên cho người La-mã. Những kẻ thù ghét Tin lành nầy là một nhà hội của quỉ Satan, ý nói họ tập hợp lại để lên kế hoạch tấn công Hội thánh, nhơn đó làm theo ý muốn của Satan, đã xưng mình là nhà hội của Đức Chúa Trời, nhưng đúng là họ đã đi ngược lại.
Buồn thay, sự thù nghịch của dân cư Do-thái tại Si-miệc-nơ đối với Cơ Đốc giáo không phải là điều mới mẻ. Sách Công Vụ các Sứ Đồ thường ghi lại sự chống đối do Satan xúi giục như thế (thí dụ 2:13; 4:2–3, 18; 5:17–18, 28, 40; 6:9…; 7:54–60; 8:1…; 9:20–23; 12:1–3; 13:6, 45; 14:2, 19; 17:5…, 13; 18:6, 12–13; 19:9; 20:3; 21:27…; 23:12…). Ở Si-miệc-nơ, như đã thường xảy ra trước đó, sự thù nghịch của dân cư Do-thái đã đầu độc dư luận nghịch cùng các Cơ đốc nhân.
Sự bắt bớ Hội thánh tại Si-miệc-nơ đã lên đến cao điểm của nó nửa thế kỷ sau khi có bức thư này, với sự hành quyết vị giám mục già nua của Hội thánh là Polycarp, trong đó những người Do-thái vô tín đã đóng vai trò chính. Một tài liệu chuyển ngữ từ thế kỷ thứ hai có tựa đề The Encyclical Epistle of the Church at Smyrna Concerning the Martyrdom of the Holy Polycarp [thư tín của Hội thánh tại Si-miệc-nơ liên quan đến sự tuận đạo của Thánh Polycarp]:
Toàn bộ dân chúng, lấy làm kinh ngạc về tâm trí cao thượng mà hạng người tin kính được biểu thị ra bởi các Cơ đốc nhân, đã kêu lên: “những kẻ vô thần, hãy cút đi; nguyện chúng sẽ tìm ra Polycarp!”
Nhưng Polycarp là đáng ngưỡng mộ nhất, khi lần đầu tiên ông nghe [rằng người ta sẽ tìm kiếm ông], ông chẳng chút bối rối, nhưng quyết định tiếp tục sống trong thành phố. Tuy nhiên, để chìu theo ước muốn của nhiều người, ông thấy thuyết phục để rời khỏi đó. Vì lẽ đó, ông ra đi, đến một ngôi nhà ở quê không xa thành phố lắm. Ông ngụ ở đó cùng với một vài người bạn, không tham dự gì hết cả ngày đêm ngoài việc cầu nguyện cho tất cả mọi người, và cầu thay cho các Hội thánh trên khắp thế giới, theo thói quen thông thường của ông. Và trong khi ông đang cầu nguyện, một sự mặc thị đã tự hiện ra cho ông thấy ba ngày trước khi ông bị bắt; và, kìa, cái gối dưới đầu ông dường như phát hoả. Về sự ấy, xây lại với những người đang ở với ông, ông đã nói tiên tri với họ: “Ta phải bị thiêu sống”.
Và khi những kẻ truy bắt ông đến gần, ông rời đi đến nơi ngụ khác, những kẻ theo đuổi ông ngay lập tức theo sát ông và khi họ không tìm gặp ông, họ bắt đi hai thanh niên [có mặt ở đó], một trong hai người bị tra tấn, đã thú nhận. Vì thế, ông không thể nào tiếp tục ẩn trốn được nữa, vì những kẻ phản ông đều là người nhà của ông. Khi ấy, Irenarch (có chức vụ y như chức vụ của Cleronomus), nhân danh Herod, vội vã đưa ông đến vận động trường. [Mọi sự nầy đã xảy ra] để ông có thể chu toàn phần đặc biệt của mình, được trở nên kẻ dự phần với Đấng Christ, và những kẻ phản ông sẽ gánh chịu án phạt của chính Giu-đa.
Khi ấy, những kẻ truy bắt ông, cùng với các kỵ mã, và đem gã thanh niên theo với chúng, đi ra ngoài vào giờ ăn tối vào ngày dọn mình, với vũ khí thông thường của họ, giống như thể đi ra chống lại ăn cướp vậy. Rồi đến chiều tối, [họ đến nơi ông trú ngụ], họ thấy ông đang nằm ở tầng trên của một ngôi nhà nhỏ kia, từ đó ông có thể trốn sang một nơi khác; nhưng ông từ chối và nói: “Ý Chúa được nên”. Vì thế, khi nghe tin họ đến, ông đi xuống và trao đổi với họ. Và những kẻ có mặt ở đó đều lấy làm lạ trước tuổi tác và sự kiên định của ông, có người nói: “Với nhiều nỗ lực như thế để đi bắt một ông cụ đáng kính như thế sao?” Ngay lập tức trong giờ đó, ông truyền lệnh rằng phải có cái gì để ăn và uống dọn ra trước mặt họ, họ quan tâm nhiều lắm, trong khi ông xin họ cho phép ông một giờ đồng hồ để cầu nguyện không bị quấy rối. Và khi họ đồng ý, ông đứng dậy và cầu nguyện, được đầy dẫy ân điển của Đức Chúa Trời, ông không thể ngưng cầu nguyện trong hai giờ đồng hồ liền, trước sự kinh ngạc của những kẻ đã nghe ông cầu nguyện, đến nỗi nhiều người bắt đầu ăn năn vì biết rằng họ đã đến chống lại một ông cụ tin kính như thế.
Bấy giờ, khi ông thôi không cầu nguyện nữa, sau khi ông đã nhắc đến mọi sự có liên quan với ông, cả nhỏ và lớn, rõ nét hay mù mờ, cũng như Giáo hội Phổ thông trên khắp thế giới, thì giờ ra đi của ông đã đến rồi, họ đặt ông lên một con lừa, rồi dẫn nó vào thành, hôm ấy là ngày Sa-bát. Và Irenarch Herod, cùng với cha ông ta là Nicetes (cả hai đang ngồi trên xe ngựa), gặp ông rồi đưa ông lên xe, ngồi bên cạnh ông, và cố gắng thuyết phục ông: “Có gì đâu khi phải nói: Lạy Chúa Tễ Caesar, và trong việc dâng của lễ, với các nghi lễ khác được thấy có trong những dịp như thế, và an ninh được bảo đảm?” Nhưng lúc đầu ông không trả lời họ; và khi họ tiếp tục thúc giục ông, ông nói: “Tôi sẽ không làm theo điều mấy ông khuyên tôi đâu”. Vậy, họ không có hy vọng trong việc thuyết phục ông, họ bắt đầu thốt ra lời lẽ cay đắng với ông, và dùng bạo lực quăng ông ra khỏi xe, trong trường hợp ấy, khi bị quăng ra như thế, ông bị trật khớp chân [do té ngã]. Nhưng không chút bối rối, và giống như thể chẳng có đau đớn gì hết, ông háo hức tiến về phía trước, rồi bị dẫn tới vận động trường, ở đó xôn xao dữ lắm, chẳng có phương thế nào nói để người ta nghe thấy được.
Bấy giờ, khi Polycarp bước vào vận động trường, có một tiếng nói từ trời đến cùng ông: “Hãy mạnh mẽ, và tỏ mình thật trượng phu, hỡi Polycarp!” Không một người nào nhìn thấy ai đến nói chuyện với ông; nhưng những người anh em có mặt đã nghe giọng nói đó. Rồi khi ông bị dẫn đi, sự xôn xao lớn hẳn lên khi họ nghe thấy Polycarp đã bị bắt. Và khi ông đến gần, vị thống đốc tỉnh hỏi ông liệu ông có phải là Polycarp hay không!?! Ông nhận chính ông là Polycarp, [viên thống đốc tỉnh] tìm cách thuyết phục ông chối bỏ [Đấng Christ], ông ta nói rằng: “Hãy xem trọng tuổi già của ông đi” và nhiều thứ tương tự khác, theo thông lệ của họ, chẳng hạn như “Hãy nhân danh thần may mắn Caesar; hãy ăn năn rồi nói: Những kẻ dị giáo, hãy cút đi”. Nhưng Polycarp, nhìn chăm chăm với một vẻ mặt nghiêm khắc về phía đám đông dân tà giáo gian ác trên vận động trường, rồi ông vẫy tay với họ, khi với những lời than thở, ông ngó lên trời rồi nói: “Hãy đi với những người vô thần”. Khi ấy, viên thống đốc thúc giục ông, và nói: “Hãy thề đi, và ta sẽ buông tha cho ông được tự do, hãy quở trách Đấng Christ đi”; Polycarp tuyên bố: “Tám mươi sáu năm tôi đã hầu việc Ngài, và Ngài không bao giờ làm tổn thương tôi: làm sao tôi có thể xúc phạm Vua của tôi và là Cứu Chúa của tôi chứ?” Và khi viên thống đốc một lần nữa nhấn mạnh, ông ta nói: “Hãy nhân danh thần may mắn Caesar mà thề đi”, ông đáp: “Vì ông cứ thúc hoài, như ông đã nói, tôi sẽ nhân danh thần may mắn, và không giả vờ không biết tôi là ai và tôi là gì, hãy nghe đi tôi lấy can đảm mà tuyên bố: tôi là một Cơ đốc nhân. Và nếu ông muốn học đòi các lẽ đạo của Cơ đốc giáo, hãy chỉ định cho tôi một ngày, thì ông sẽ nghe được chúng”. Viên thống đốc đáp: “Hãy thuyết phục dân chúng đi”. Nhưng Polycarp nói: “Đối với ông, tôi nghĩ cần có một câu chuyện nói tới [đức tin của tôi]; vì chúng ta được dạy dỗ phải dành mọi sự tôn trọng (không làm hại cho bản thân mình) đối với quyền bính và bậc cầm quyền mà Đức Chúa Trời đã chỉ định. So về các việc nầy, tôi không cho rằng họ xứng đáng nhận được bất cứ câu chuyện nào từ tôi”. Khi đó viên thống đốc nói cùng ông: “Tôi có những con thú hoang ở gần đây; tôi sẽ quăng ông cho chúng nó, trừ phi ông ăn năn”. Nhưng ông đáp: “Vậy thì hãy gọi chúng đến đi, vì chúng tôi không có thông lệ ăn năn điều chi là nhơn đức để nắm lấy điều ác; và lấy làm tốt cho tôi khi bị đổi từ những gì là gian ác trở thành điều công bình”. Một lần nữa, viên thống đốc nói cùng ông: “Ta sẽ khiến cho ngươi bị cháy như đuốc, vì thấy ngươi coi thường các thú hoang, nếu ngươi không chịu ăn năn”. Nhưng Polycarp nói: “Ông đe dọa tôi với lửa thiêu đốt trong một giờ đồng hồ, và sau khi lửa dập tắt, nhưng không biết gì về ngọn lửa của phán xét sắp tới và án phạt đời đời, dành cho những kẻ bất kỉnh. Nhưng tại sao ngươi cứ quấy rầy mãi vậy? Hãy làm những gì ngươi muốn đi”.
Trong khi ông nói những điều này và nhiều thứ khác giống như vậy, ông được đầy dẫy với lòng tin cậy và vui mừng, vẻ mặt ông tràn đầy ân điển, gương mặt ấy không khuỵu xuống như thể bị rắc rối bởi những điều đã được nói cùng ông, song trái lại, viên thống đốc đã kinh ngạc, rồi sai người công bố giữa vận động trường ba lần: “Polycarp đã xưng mình là một Cơ đốc nhân”. Lời tuyên bố này đã được sứ giả loan báo, toàn thể đám động, cả dân ngoại và người Do-thái, những kẻ cư ngụ tại Si-miệc-nơ, đã gào lên với giận dữ không thể kiểm soát được, họ hô lớn lên: “Đây là giáo sư của Á châu, giáo phụ của các Cơ đốc nhân, và là kẻ lật đổ các thần linh của chúng ta, ông ta là người đã dạy dỗ nhiều người đừng dâng của lễ, hoặc thờ lạy các thần”. Sau khi nói vậy, họ gào lên, cầu xin Philip xứ Asiarch thả một con sư tử vào cắn xé Polycarp. Nhưng Philip đáp rằng ông không có phép làm như thế, việc xem trình diễn thú hoang đã xong rồi. Khi ấy, có vẻ là tốt cho họ để gào lên với một sự đồng lòng, rằng Polycarp nên bị thiêu sống. Và thế là khải tượng cái gối cháy được tỏ cho ông sắp sửa ứng nghiệm, ông quay lại và nói tiên tri với những kẻ trung tín có mặt với ông: “Ta phải bị thiêu sống”.
Khi ấy, việc này đã được thực hiện hiệu quả với tốc độ cao hơn là người ta nói, đám đông ngay lập tức cùng nhau thu thập gỗ và cột lại thành từng chùm ở các cửa hiệu và phòng tắm hơi; đặc biệt là người Do-thái, theo thói quen, sốt sắng phụ giúp họ trong việc ấy. Và khi giàn hoả đã sẵn sàng, Polycarp, đặt quần áo mình qua một bên, và nới lỏng dây nịt lưng, cũng tìm cách cởi bỏ đôi dép đi – một việc mà ông ta không quen làm, bởi vì từng người trong số những người trung tín, họ luôn sốt sắng tìm cách chạm vào làn da của ông. Vì, trong câu chuyện nói tới đời sống thánh khiết của ông, ngay trước khi tuận đạo, ông đã được trang sức bằng từng loại nhơn đức. Ngay khi ấy, họ chất chung quanh ông với những thứ đã được chuẩn bị cho giàn hoả. Nhưng khi họ còn sắp sửa đóng đinh ông, ông nói: “Hãy để tôi yên như vậy đi; vì Đấng đã thêm sức cho tôi để chịu đựng ngọn lửa, Ngài cũng giúp đỡ tôi, không cần sự bảo đảm bằng những mũi đinh, tôi sẽ ở đây không cử động trong đống than tro”.
Vậy, họ không đóng đinh ông, song chỉ trói ông lại mà thôi. Và ông, ngoặc hai tay ra phía sau lưng, và bị cột như một con chiên đực được bắt từ trong bầy để làm con sinh, và chuẩn bị để làm của lễ thiêu đáng nhận dâng lên Ðức Chúa Trời, ngước mặt lên trời và nói: “Lạy Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, là Cha của Đức Chúa Jêsus Christ là Con hạnh phước yêu dấu, bởi Ngài chúng con nhận được sự hiểu biết về Ngài, là Đức Chúa Trời của các thiên sứ và các thế lực, và là Chúa của từng tạo vật, và là Chúa của toàn thể dòng giống người công bình đang sống trước mặt Ngài, con dâng lên Ngài lời cảm tạ vì Ngài đã kể đến con, xứng đáng cho ngày nầy và giờ này, để con có một phần trong số người tuận đạo của Ngài, trong cái chén của Đấng Christ, đến sự sống lại của sự sống đời đời, cả thân và hồn, qua sự không hay hư nát [được truyền cho] bởi Đức Thánh Linh. Giữa vòng họ nguyện con được chấp nhận hôm nay trước mặt Ngài như một sinh tế mập béo dâng lên đáng nhậm, theo như Ngài, là Đức Chúa Trời chơn thật, đã định trước, đã tỏ ra trước cho con, và giờ đây đã được ứng nghiệm. Nhơn đó con cũng ngợi khen Ngài vì mọi sự, con xin chúc phước Ngài, con ngợi khen Ngài, cùng với Đức Chúa Jêsus Christ ở trên trời đời đời, là Con yêu dấu của Ngài, với Đấng Christ, với Ngài và Đức Thánh Linh, nguyện sự vinh hiển cho cả bây giờ và cho hết thảy các năm hầu đến. Amen”.
Khi ông tuyên bố xong lời này, và đã cầu nguyện xong, những kẻ được chỉ định nhóm lửa lên. Và khi ngọn lửa bừng lên trong giận dữ, chúng tôi, là những người được phép chứng kiến, đã nhìn thấy một phép lạ lớn lao, và đã được bảo tồn để chúng tôi có thể tường trình lại cho nhiều người khác biết về những gì đã xảy ra. Về ngọn lửa, tự nó hình thành như một mái vòm, giống như cánh buồm của chiếc thuyền khi đầy gió, nó bao bọc lấy thân thể của một người tuận đạo. Và ông đã hiện ra trong đó chẳng giống như xác thịt bị thiêu đốt, nhưng như cái bánh bị nướng, hay như vàng và bạc sáng rực ở trong lò lửa. Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy mùi dầu thơm [ra từ đống củi], giống như thể mùi hương thơm hoặc một số loại gia vị quý giá đang bốc lên ở đó.
Lâu một chút, khi những kẻ gian ác kia nhận ra thân thể ông không thể bị thiêu trong ngọn lửa, họ truyền lệnh cho một tên đao phủ đến gần và dùng dao găm đâm qua người ông. Và khi làm như vậy, có một con chim bồ câu bay đến, và một lượng huyết đổ ra, để ngọn lửa bị tắt đi; và mọi người lấy làm lạ không biết có một sự khác biệt nào như vậy giữa kẻ vô tín và người được chọn hay không, Polycarp là một người trong số được chọn đó, ông là một giáo sư và là sứ đồ trong thời đại chúng ta, và là giám mục của Giáo hội Phổ thông tại Si-miệc-nơ. Mỗi lời lẽ ra từ miệng ông một là đã hoặc sẽ được ứng nghiệm.
Lời tuyên bố của Chúa Jêsus rằng người Do-thái nào đã bắt bớ Hội thánh Si-miệc-nơ nói mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, đã gây ra một số thắc mắc liệu họ có phải là người Do-thái thuần chủng hay không!?! Chắc chắn họ là hậu duệ theo phần xác của Áp-ra-ham, nhưng không phải là người Do-thái thực sự theo xác định của Phao-lô: “Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì; nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời” (Ro 2:28-29). Mặc dù đây là bởi người Do-thái thuần chủng, họ là những người ngoại giáo về mặt thuộc linh. Họ liên minh với những kẻ thù dân ngoại của Đức Chúa Trời trong nỗ lực dập tắt Cơ đốc giáo tại Si-miệc-nơ.
Không những Chúa biết rõ sự bắt bớ mà Hội thánh Si-miệc-nơ đã đối diện với, mà còn biết về nghèo khổ của nó nữa. Ngược lại với pen¯es là từ đồng nghĩa của nó, cho thấy kẻ nào phấn đấu để làm thoả mãn các nhu cần cơ bản của họ, ptocheia (nghèo khổ) mô tả những gã ăn mày, họ sống không phải do sức lao động của họ, nhưng nhờ sự khất thực nơi nhiều người khác (đối chiếu Richard C. Trench, Synonyms of the New Testament [reprint; Grand Rapids: Eerdmans, 1983], 128–29). Phần nhiều các tín đồ ở Si-miệc-nơ đều là nô lệ; hầu hết đều nghèo nàn. Một số ít người làm chủ sở hữu tài sản riêng chắc chắn đã mất chúng trong sự bắt bớ.
Nói theo con người, Hội thánh tại Si-miệc-nơ đã có từng lý do để sụp đổ. Thay vì thế, Hội thánh vẫn giữ lòng trung tín với Chúa của nó, không bao giờ (không giống như Êphêsô) từ bỏ tình yêu ban đầu của mình đối với Ngài. Vì lý do đó, Chúa Jêsus phán cùng họ: Dầu ngươi giàu có mặc lòng. Họ đã có những gì thực sự là quan trọng — sự cứu rỗi, sự nên thánh, ân điển, bình an, mối giao thông, một Cứu Chúa và Đấng Yên Ủi luôn cảm thông. Hội thánh ở Si-miệc-nơ là Hội thánh nghèo mà giàu, trái ngược với Hội thánh Lao-đi-xê, Hội thánh giàu vật chất nhưng là Hội thánh nghèo về mặt thuộc linh (xem 3:17). Hội thánh tại Si-miệc-nơ thể hiện sự giàu có thuộc linh của các Hội thánh trung tín chịu khổ xuyên suốt lịch sử.
MẠNG LỊNH
Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. (Kh 2:10a)
Sau khi khen ngợi họ vì chịu đựng sự bắt bớ cách trung tín, Chúa Jêsus đã cảnh cáo các tín đồ rằng còn nhiều việc sẽ đến. Trước khi chỉ ra bản chất của nó, Ngài truyền cho họ chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Ngài sẽ ban cho họ sức lực để chịu đựng nó. Giống như Ngài đã nói với các môn đồ của Ngài ở Gi 16:33: “Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!” Vì lẽ đó, các tín đồ chịu khổ trong bầy ấy sẽ dám nói cùng Đa-vít rằng: “Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ chi; Người đời sẽ làm chi tôi?” (Thi 56:11).
Đặc biệt, Chúa nói trước rằng ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục. Mục đích của Đức Chúa Trời trong việc cho phép sự tù đày ấy, hầu cho các ngươi bị thử thách. Bằng cách chịu đựng thử thách ấy một cách thành công, họ sẽ chứng minh thực tại đức tin của họ, được thêm sức cho (IICo 12:9-10) — và một lần nữa chứng minh rằng Satan không thể huỷ diệt đức tin cứu rỗi chơn thật.
Trận đấu siêu nhiên ở Si-miệc-nơ chỉ là một cuộc giao tranh trong cuộc chiến kéo dài của Satan chống lại Đức Chúa Trời. Đấy luôn luôn là kế hoạch của Satan muốn tấn công con cái của Đức Chúa Trời và nỗ lực hòng tiêu diệt đức tin của họ. Đó là lý do tại sao một trong những tước hiệu của hắn trong Kinh Thánh là “kẻ kiện cáo anh em” (12:10). Tuy nhiên, những cuộc tấn công vào con cái thật của Đức Chúa Trời không thể thành công. Chúa Jêsus tuyên bố: “Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha” (Gi 10:28-29); và “Ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt” (Gi 6:39). Là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của họ, Chúa Jêsus “có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (He 7:25). Trong Ro 8:28-29, Phao-lô lần theo chuỗi không thể phá vỡ từ biết trước cho đến tiền định cho kẻ được gọi đến sự xưng công bình đến sự vinh hiển; không một ai bị hư mất dọc đường. Hết thảy những ai được kêu gọi sẽ được giữ gìn cho đến khi họ được nên giống như Đấng Christ trong sự vinh hiển.
Sự hiểu biết mọi nỗ lực của hắn hòng tiêu diệt đức tin cứu rỗi bị định cho phải thất bại không ngăn cản Satan khỏi cố gắng. Cuộc tấn công đáng chú ý nhất của hắn nhắm vào đức tin cứu rỗi đã được ghi lại trong sách Gióp, ở đây (với sự cho phép của Đức Chúa Trời) hắn đã tước khỏi Gióp gia đình, tài sản và sức khoẻ thể xác của ông. Mọi sự Gióp bị bỏ lại là một người vợ và những người bạn, mưu luận của họ khiến cho ông phải phân tâm. Nhưng “trong mọi sự ấy, Gióp không phạm tội, và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời” (Giop 1:22, đối chiếu 2:10). Lời công bố đắc thắng của Gióp: “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài” (Giop 13:15), cho thấy cả hai: sự đắc thắng của đức tin cứu rỗi chơn thật và sự thất bại hoàn toàn của Satan.
Trong Tân Ước, Satan đã tìm cách hòng tiêu diệt đức tin của Phi-e-rơ nhưng bất thành. Chúa Jêsus đã cảnh cáo ông: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình” (Lu 22:31-32). Giống như các tín hữu ở thành Si-miệc-nơ, Chúa Jêsus đã nói trước cuộc tấn công của Satan nhắm vào Phi-e-rơ, Ngài còn nói Phi-e-rơ sẽ chịu đựng nó một cách thành công. Phao-lô cũng sống sót qua sự tồi tệ nhất mà Satan có thể quăng vào ông:
“Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (IICo 12:9-10).
Đức Chúa Trời, một mình Ngài kiểm soát mọi hoàn cảnh của cuộc sống, sẽ không cho phép Satan hành hại Hội thánh Si-miệc-nơ trong một thời gian dài. Chúa Jêsus hứa rằng họ sẽ không gặp khổ nạn trong mười ngày. Mặc dù có người xem mười ngày về biểu tượng tiêu biểu cho mọi sự từ mười giai đoạn bắt bớ dưới thời La-mã, đến một khoảng thời gian không xác định, đến một khoảng thời gian mười năm, không có lý do giải thích để giải trình chúng là điều chi khác hơn mười ngày thực tế. Cuộc tấn công chính của Satan nhắm vào Hội thánh địa phương đó sẽ rất mãnh liệt, nhưng ngắn ngủi.
MƯU LUẬN
Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai (Kh 2:10b-11)
Như đã lưu ý trước đây, Đấng Christ không khiển trách Hội thánh có lòng trung thành tại Si-miệc-nơ. Ngài kết thúc bức thư với một vài câu sau cùng mưu luận rất khích lệ. Người nào minh chứng sự chân thật của đức tin họ bằng cách giữ lòng trung tín với Chúa cho đến chết sẽ nhận được mũ triều thiên làm phần thưởng của họ (stephanos, vương miện của kẻ chiến thắng) của sự sống (đối chiếu Gia 1:12). Mũ triều thiên (phần thưởng, đỉnh điểm, kết quả) của đức tin cứu rỗi chơn thật là sự sống đời đời, và sự bền đỗ minh chứng sự chơn thật của đức tin khi họ gánh chịu gian khổ. Kinh thánh dạy rằng Cơ đốc nhân chơn thật sẽ sống thật bền đỗ. Lẽ thật trong Kinh thánh đã được hiểu rõ bởi các trước giả Lời xưng tội ở Westminster, họ đã viết: “Họ, những kẻ mà Đức Chúa Trời đã tiếp nhận trong Con Yêu Dấu của Ngài, được kêu gọi và được nên thánh bởi Thánh Linh Ngài, không thể rời khỏi tình trạng của ân điển hay vấp ngã hoàn toàn, mà sẽ chắc chắn bền đỗ ở đó cho đến cuối cùng, và được cứu cho đến đời đời”. Đấy là sự dạy rõ ràng của Kinh Thánh (thí dụ Mat 10:22; 24:13; Mac 4:13-20; Gi 8:31; Co 1:21-23; IGi 2:19).
Như đã lưu ý trong chương 4 của tập sách nầy, cụm từ Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh kết thúc từng thư tín trong bảy thư tín. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì Đức Chúa Trời phán dạy trong Kinh Thánh, và nhấn mạnh đến trách nhiệm của các tín đồ là phải nghe theo nó. Lời hứa cho kẻ nào thắng (tất cả Cơ đốc nhân, đối chiếu phần thảo luận trong chương 4 của tập sách này) là người ấy sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai. Mặc dù các tín đồ bị bắt bớ sẽ phải gánh chịu lần chết thứ nhứt (theo phần xác), họ sẽ không bao giờ trải qua lần chết thứ hai (không phải là tiêu diệt, mà là án tử hình đời đời trong địa ngục, Kh 20:14; 21:8). Chẳng là phần tiêu cực mạnh nhất mà ngôn ngữ Hy Lạp có thể biểu hiện.
Hội thánh bị bắt bớ, chịu khổ song trung tín tại Si-miệc-nơ đứng trong mọi thời đại như một tấm gương cho những ai “đã nghe lời một cách trung thực và tốt lành, giữ nó nhanh chóng và sinh hoa trái với sự kiên trì” (Lu 8:15). Bởi vì họ đã trung thành xưng Ngài ra trước mặt mọi người, nên Chúa Jêsus sẽ xưng họ ra trước mặt Đức Chúa Cha (Mat 10:32).