“Ngươi cũng hãy viết thơ cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng: ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng. Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, mà nó chẳng muốn ăn năn điều tà dâm nó! Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn. Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại. Nhưng, với các ngươi là kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó và chưa biết điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan, như chúng vẫn nói, thì ta phán dặn rằng ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác. Chỉn các ngươi khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng ta đến. Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước: kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta. Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Kh 2:18-29)
Đức Chúa Jêsus Christ đã kêu gọi Hội Thánh của Ngài phải nên thánh và giữ lấy sự thanh sạch bằng cách xử lý tội lỗi ngay ở giữa nó. Thực vậy, sự dạy đầu tiên Ngài ban cho Hội Thánh là phải đương diện với tội lỗi. Trong Mat 18:15-17 Chúa Jêsus truyền bảo:
“Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy”.
Việc thực hành kỷ luật Hội thánh mà Đấng Christ đã thiết lập để duy trì sự thánh khiết của Hội Thánh là mục đích có hai phần: kêu gọi các tín hữu phạm tội trở lại với cách ăn ở ngay thẳng, và thanh lọc khỏi Hội thánh những kẻ nào ngoan cố bám lấy tội lỗi của họ. Trong cả hai trường hợp, sự thanh sạch của Hội thánh đều được duy trì.
Sau khi Hội thánh ra đời vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa đã chứng tỏ sự cam kết của Ngài đối với một Hội thánh thanh sạch bằng cách hành quyết A-na-nia và Sa-phi-ra (Cong 5:1-11). Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem truyền cho các tín đồ phải giữ “những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an!” (Cong 15:28-29).
Sứ đồ Phao-lô cũng có một mối quan tâm nồng nhiệt dành cho sự thanh sạch của Hội thánh. Lấy làm kinh khủng nơi thái độ thản nhiên của người thành Côrinhtô đối với tội trọng trong hội chúng của họ, Phao-lô đã viết:
“Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu người ngoại đạo cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình. Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn! Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jêsus, là Chúa chúng ta), nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhân danh Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó rằng, một người như thế phải phó cho quỉ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Jêsus” (ICo 5:1-5).
Chính mình Phao-lô đã gạt bỏ cấp lãnh đạo phạm tội không chịu ăn năn ra khỏi Hội thánh Ê-phê-sô: “Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, ta đã phó cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa” (ITi 1:20).
Trong thư thứ hai ông viết gửi cho họ, Phao-lô đã giải thích cho người thành Cô-rinh-tô biết điều chi tác động ông mong muốn sự thanh sạch của Hội thánh: “Vì về anh em, tôi rất sốt sắng như sự sốt sắng của Đức Chúa Trời, bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ” (IICo 11:2). Eph 5:25-27 cũng dạy rằng Hội thánh là một cô dâu tinh sạch cho Đức Chúa Jêsus Christ: “Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch, đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài”.
Bất chấp sự dạy rõ ràng của Kinh Thánh cho các Hội thánh ngỗ nghịch xuyên suốt lịch sử đã dung túng tội lỗi, theo một khuôn mẫu giống như hội chúng Thi-a-ti-rơ, các thuộc viên của họ đều dính dáng vào cả hai: tà dâm về thuộc thể lẫn thuộc linh. Qua những nỗ lực xảo quyệt của một giáo sư giả, những tội lỗi đó đã trở nên phổ biến trong Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ. Bức thư mà Đấng Christ gửi cho các thuộc viên của nó là một bức thư thật khiêm tốn, và đánh dấu một chặng đường mới trong các thư tín gửi cho bảy Hội thánh. Nhà giải kinh Charles Erdman đưa ra nhận định này về vị trí của bức thư này trong số bảy thư tín:
Thư tín gửi cho Hội thánh ở Thi-a-ti-rơ bắt đầu nhóm thứ hai của các sứ điệp gửi cho các Hội thánh ở Á châu. Trong nhóm thứ nhứt, Hội thánh Ê-phê-sô được đánh dấu bởi lòng trung thành với Đấng Christ lại thiếu mất tình yêu thương. Ở Hội thánh Si-miệc-nơ lòng trung thành bị thử nghiệm bằng lửa. Tại Hội thánh Bẹt-găm lòng trung thành thiếu mất tình cảm về mặt đạo đức. Tuy nhiên, cả ba Hội thánh đều có đức tin chơn thật, và đã không hàng phục trước các cuộc tấn công của ma quỉ.
Trong trường hợp Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ, như ở các Hội thánh tại Sạt-đe và Lao-đi-xê, tình hình còn trầm trọng hơn nhiều. Ở đây, không những một thiểu số nhỏ là dửng dưng, mà một lượng lớn đã thực sự phục theo các ảnh hưởng tiêu cực của sự dạy giả dối. (The Revelation of John [Philadelphia: Westminster, 1966], 56).
Có một sự tồi tệ tiệm tiến nơi bản chất của bảy Hội thánh này, giống như chúng mô tả cho thấy ngày càng bị ảnh hưởng bởi điều ác. Cái vòng xoáy xuống thấp nhất đạt đến điểm thấp nhất tại Lao-đi-xê.
Cụm từ “điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan” (2:24) tỏ ra thể nào Hội thánh Thi-a-ti-rơ đã trượt khỏi mối quan hệ với những người ở Si-miệc-nơ và Bẹt-găm. Hội thánh Si-miệc-nơ đối mặt với sự thù địch từ “hội quỉ Satan” nghĩa là, từ những người Do-thái vô tín (2:9). Hội thánh Bẹt-găm tồn tại ngay bối cảnh ngai của Satan (2:13), tiêu biểu cho tôn giáo giả của dân Ngoại (đặc biệt là hệ thống thờ lạy hoàng đế). Nhưng Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ đã chìm xuống phần tận cùng nơi rất sâu thẳm của sự lường gạt của ma quỉ.
Bức thư gửi cho Hội thánh này là bức thư dài nhất trong bảy thư tín, mặc dù nhắm tới Hội thánh ở thành phố nhỏ nhất trong bảy thành phố. Nó có một sứ điệp quan trọng cho Hội thánh ngày nay: đạo giả và tội lỗi không được phép — ngay cả dưới ngọn cờ yêu thương, khoan dung và hiệp một. Chắc là có nhiều lời khen ngợi trong một Hội thánh. Có một chức vụ hiệu quả, phát triển về số lượng, và thậm chí có xã hội thân ái, mọi thứ có thể xuất hiện ở bề mặt. Tuy nhiên, tình trạng phi đạo đức và đạo dối, nếu không bị đối diện với, sẽ đem sự phán xét đến từ Chúa của Hội thánh.
Cũng bảy yếu tố đó tạo thành bức thư gửi cho Thi-a-ti-tơ: thư tín, Hội thánh, thành phố, lời khen ngợi, sự quan tâm, mạng lịnh và mưu luận.
THƯ TÍN
Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng: (Kh 2:18c)
Tước hiệu Con Đức Chúa Trời và hai cụm từ có tính cách mô tả được rút ra từ sự mặc thị về Đấng Christ phục sinh ở 1:12-17 xác định tác giả là Đức Chúa Jêsus Christ. Như đã lưu ý, trong việc xác định chính mình Ngài trong bảy thư tín, Đấng Christ đã chọn các cụm từ từ sự mặc thị trước đó phù hợp tốt nhứt với sự Ngài tiếp cận với từng Hội thánh. Các cụm từ được chọn ở đây tập trung vào vai trò của Ngài là Quan Án Thiêng Liêng.
Con Đức Chúa Trời nhấn mạnh đến thần tánh của Đấng Christ, nhấn mạnh lẽ thật cho rằng Ngài có cùng bổn tánh với Đức Chúa Cha (đối chiếu Giăng 5:18). Đây là một sự thay đổi quan trọng trong từ ngữ. Trong sự mặc thị được ghi lại ở chương 1, Đấng Christ đã được mô tả như Con Người (1:13). Tước hiệu đó nhấn mạnh đến sự hạ mình, sự đồng hóa tình cảm của Ngài với những người tin Chúa là Thầy Tế Lễ có lòng hay thương xót. Nó cung ứng sự khích lệ cho các Cơ đốc nhân bị bắt bớ: “Nhân đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy” (He 2:17-18). Tước biệu Con Người xem Đấng Christ trong khả năng của Ngài thông cảm với các nhu cầu, thử thách và cám dỗ của Hội Thánh Ngài.
Tuy nhiên, trong đoạn này, Chúa Jêsus được xác định là Con của Đức Chúa Trời (thời điểm duy nhất cụm từ này xuất hiện trong sách Khải huyền); phần nhấn mạnh không nhắm vào sự hạ mình của Ngài, song nhắm vào thần tánh của Ngài, vì cách tiếp cận của Ngài đối với Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ không nằm trong vai trò Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm có sự đồng cảm, mà là Quan Án thiêng liêng. Không một chút yên ủi nào hết, nhưng chỉ có sự phán xét dồn chứa cho Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ khi quyền phép thiêng liêng của Đấng Christ nhắm thẳng vào hội chúng tà dâm nầy.
Là Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jêsus Christ có mắt như ngọn lửa. Cái nhìn xuyên thấu, như tia laser thấy hết mọi sự; không một việc gì có thể che, giấu, hoặc kín đáo đối với Ngài. Phần mô tả Đức Chúa Jêsus Christ trong sự đến vinh hiển lần thứ hai của Ngài, Kh 19:12 chép rằng: “Mắt Ngài như ngọn lửa” (xem Đaniên 10:6). Một Hội thánh có thể cảm thấy tự hài lòng, có một tiếng tốt trong cộng đồng, hoặc thậm chí đối với các Hội thánh khác. Nhưng đôi mắt xuyên thấu của Đức Chúa Jêsus Christ nhìn thấy nó như nó vốn có vậy.
Phần mô tả chân của Ngài như đồng sáng gợi nhớ đến Kh 19:15, ở đó Kinh Thánh chép về Đấng Christ như sau: “Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng”. Bàn chân của Đấng Christ loé lên rực rỡ như đồng sáng mô tả sự thanh sạch và thánh khiết của Ngài khi Ngài giày đạp sự ô uế.
Phần mô tả kinh khiếp của Đức Chúa Jêsus Christ đã tạo ra cú sốc, kinh ngạc và sợ hãi khi bức thư này được đọc cho hội chúng nghe tại thành Thi-a-ti-rơ. Nó trở nên như một sự thông biết thật năng động đối với họ, giống như nó có cho hết thảy các Cơ đốc nhân phạm tội, rằng Đấng Christ sẽ phán xét tội lỗi liên tục, không chịu ăn năn. Theo lời lẽ của sứ đồ Phi-e-rơ: “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời” (IPhi 4:17).
HỘI THÁNH
Hội thánh Thi-a-ti-rơ (Kh 2:18a)
Giống như trường hợp với các Hội thánh ở Si-miệc-nơ và Bẹt-găm, Kinh thánh không ghi lại việc thành lập Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ. Theo Cong 16:14: “Có một người trong bọn đó nghe chúng ta, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, làm nghề buôn hàng sắc tía, vẫn kính sợ Đức Chúa Trời”, đã trở lại đạo dưới chức vụ của Phao-lô tại thành Philíp. Câu 15 ghi lại rằng các thành viên trong gia đình của bà cũng đạt đến chỗ có đức tin cứu rỗi nơi Đấng Christ và đã chịu phép báp têm. Có khả năng là Ly-đi và gia đình bà đã dự phần vào việc mở mang Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ. Hơn nữa, Hội thánh ở đó được thành lập như một chiến dịch truyền giáo của Phao-lô tại thành Êphêsô (Cong 19:10).
THÀNH PHỐ
Thi-a-ti-rơ (Kh 2:18b)
Từ Bẹt-găm, cực Bắc của bảy thành phố, con đường La-mã quay về phía Đông và rồi hướng đông nam tới Thi-a-ti-rơ, khoảng bốn mươi dặm. Thi-a-ti-rơ nằm trong một thung lũng chạy dài bắc-nam kết nối với các thung lũng hai dòng sông Caicus và Hermus. Không giống như Si-miệc-nơ hay Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ được xây dựng ở một xứ tương đối bằng phẳng và thiếu một cung điện. Sự thiếu vắng các công trình tự nhiên đó sẽ đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của nó.
Thi-a-ti-rơ được một trong những người kế nhiệm Alexander Đại đế là Seleucus thiết lập, như một tiền đồn quân sự bảo vệ con đường chạy dọc bắc-nam. Sau đó nó được đổi tay, và dưới quyền cai trị của Lysimachus, là nhân vật cai trị Bẹt-găm. Thi-a-ti-rơ là cửa ngõ vào Bẹt-găm, và nhiệm vụ của những người bảo vệ tại Thi-a-ti-rơ là ngăn chặn kẻ tấn công và do đó hoãn binh cho Bẹt-găm. Không may, vì Thi-a-ti-rơ không có phương tiện phòng thủ tự nhiên, tiền đồn ở đó không có hy vọng chống giữ lâu dài. Thế là thành phố đã bị phá hủy và xây dựng lại nhiều lần; sự tham khảo rất ít vào nó trong văn học cổ đại thường mô tả sự chinh phục của nó bởi một quân đội xâm lược.
Sau cùng, khoảng năm 190TC, Thi-a-ti-rơ đã bị quân La-mã chiếm đóng và sát nhập rồi hưởng lấy nền hoà bình của người La-mã. Thế rồi thành phố trở thành một trung tâm thương mại thịnh vượng. Vị trí của nó nằm trên con đường chạy dọc bắc-nam, trước đây là một của nợ, bây giờ trở thành một tài sản. Con đường đó trở nên quan trọng hơn trong thời La Mã, vì nó kết nối Bẹt-găm với Lao-đi-xê, Si-miệc-nơ, và các khu vực nội địa của tỉnh Á-châu. Nó cũng góp phần như con đường bưu điện của người La-mã. Vào thời điểm sách Khải huyền được viết ra, Thi-a-ti-rơ đã bước vào giai đoạn thịnh vượng lớn lao nhất của nó.
Thi-a-ti-rơ đã được lưu ý vì nó có nhiều hiệp hội (tương đương với các công đoàn lao động ngày nay). Ngành công nghiệp chính của Thi-a-ti-rơ là sản xuất len và hàng nhuộm (đặc biệt là hàng tía, nhuộm bằng thuốc nhuộm màu tím lấy tử rễ cây thiên thảo), nhưng các tấm bia cũng đề cập đến các hiệp hội dành cho công nhân làm vải bạt, các nhà sản xuất hàng may mặc bên ngoài, thợ nhuộm, thợ thuộc da, thợ làm tóc, thợ làm bánh, những tay buôn nô lệ và thợ đồng. (William Ramsay, The Letters to the Seven Churches of Asia (Albany, Oreg.: AGES Software; reprint of the 1904 edition], 260). Ly-đi có lẽ đã đại diện cho hiệp hội của bà tại thành Philíp (Công Vụ các Sứ Đồ 16:14), cho thấy rằng thị trường của Thi-a-ti-rơ trải dài qua biển Aegean đến lục địa Hy-lạp.
Không giống như Bẹt-găm hay Si-miệc-nơ, Thi-a-ti-rơ không phải là một trung tâm tôn giáo quan trọng. Thần chính được người thành Thi-a-ti-rơ thờ lạy là Apollo, thần mặt trời của người Hy-lạp. Ở đó cũng không có dân cư Do-thái đáng kể. Áp lực mà các Cơ đốc nhân ở thành Thi-a-ti-rơ phải đối mặt với đến từ các hiệp hội. Để nắm giữ một ngành nghề hoặc điều hành một doanh nghiệp, điều cần thiết là phải trở thành thuộc viên của một hiệp hội. Mỗi hiệp hội có vị thần hộ mệnh của nó, các lễ hội tôn vinh các thần đó đã được tổ chức — hoàn toàn với thịt cúng cho các thần tượng và phi luân về tình dục. Các Cơ đốc nhân đối mặt với tình trạng chẳng đặng đừng khi đến tham dự những bữa tiệc đó hoặc có thể mất sinh kế của họ. Người trong Hội thánh Thi-a-ti-rơ phải xử lý thế nào với tình huống đã khiến cho Đức Chúa Jêsus Christ phải quan tâm sâu sắc.
LỜI KHEN NGỢI
ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa (Kh 2:19)
Như Ngài đã khen ngợi đối với các Hội thánh tại thành Ê-phê-sô và Bẹt-găm, Đấng Christ đã khen ngợi Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ trước khi bày tỏ ra nổi lo lắng của Ngài về điều đó. Ngài bảo đảm với họ rằng Ngài đã không quên những công việc ngay thẳng của họ (đối chiếu He 6:10), Ngài chia các công việc ấy thành bốn loại.
Thứ nhất, các tín đồ ở thành Thi-a-ti-rơ đã bày tỏ lòng thương yêu đối với Đức Chúa Trời và với nhau — mặc dù tình cảm đó rõ ràng là yếu ớt, một khi không có một nền tảng vững chắc của đạo thật chính thống. Trong một số phương thức, Thi-a-ti-rơ thì mạnh mẽ ở chỗ Ê-phê-sô yếu đuối; thực vậy, đây là Hội thánh đầu tiên trong bảy Hội thánh đã được ngợi khen vì tình yêu của nó.
Thứ hai, Đấng Christ đã khen ngợi họ vì cớ đức tin của họ. Pistis (đức tin) được dịch hay hơn “trung thành”, hay “trung tín”. Các Cơ đốc nhân đích thực trong thành Thi-a-ti-rơ đã sống nương cậy, tin cậy và trước sau như một (đối chiếu câu 25). Đức tin và tình yêu thương thường được liên kết trong Tân Ước (thí dụ, ICo 13:2, 13; IICo 8:7; Ga 5:6; Eph1:15; 3:17; Co 1:4; ITe 1:3; 3:6; 5:8; IITe 1:3; ITi 1:14; 2:15; 6:11; IITi 1:13; 2:22; 3:10; Tít 2:2).
Sự hầu việc và sự nhịn nhục đều phát xuất từ đức tin và tình yêu thương. Người nào yêu sẽ biểu hiện tình yêu đó qua việc làm thoả mãn các nhu cầu của tha nhân. Người nào trung tín sẽ nhịn nhục kiên trì trong đức tin (đối chiếu Mat 16:24-26; 24:13).
Không những Cơ đốc nhân thành Thi-a-ti-rơ sở hữu các đức tính này, mà công việc sau rốt của họ còn nhiều hơn so với số lượng lúc ban đầu. Công việc yêu thương của họ ngày càng tương thích hơn, và sự nhịn nhục trung tín của họ ngày càng mạnh mẽ hơn. Họ đã tấn tới trong ân điển, trưởng thành trong nếp sống Cơ đốc của họ, và lý tưởng của Đấng Christ ngày càng thăng tiến (IIPhi 1:8). Về nếp sống ấy mà họ đã được khen ngợi.
MỐI QUAN TÂM
Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng. Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, mà nó chẳng muốn ăn năn điều tà dâm nó! Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn. Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại. (Kh 2:20-23)
Mặc dù họ đã nhận được lời khen ngợi, mọi sự đều không suông sẻ với Hội thánh tại Thi-a-ti-tơ. Vấn đề không phải là bắt bớ bên ngoài, mà là sự thoả hiệp bên trong; không phải là bầy sói dữ từ bên ngoài bầy chiên, mà ngược lại từ con người ở bên trong kìa (đối chiếu Công Vụ các Sứ Đồ 20:29-30). Cái nhìn xuyên thấu của Chúa Hội thánh đã phân biệt sai lầm nghiêm trọng, khiến Ngài phải cảnh báo điều ta trách ngươi. Việc sử dụng nhân xưng đại danh từ chỉ ra sự nhắc nhở nầy một cách đặc biệt đối với lãnh đạo của hội chúng. Bản cáo trạng, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng. Tội lỗi, dường như liên quan đến đại đa số các thuộc viên của hội thánh Thi-a-ti-rơ, có đến hai phần. Thứ nhất, họ đã vi phạm sự dạy của Kinh Thánh cho rằng đàn bà không được làm giáo viên hay giảng viên trong Hội thánh (ITi 2:12). Điều đó dẫn họ đến chỗ dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri. Họ kết hợp lỗi của họ trong việc cho phép bà ta đứng dạy đạo dối. Kết quả là, Chúa Jêsus tuyên bố: dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.
Giê-sa-bên chắc chắn không phải là tên thật của nữ tiên tri giả, nhưng giống như người vợ bỉ ổi của vua A-háp, bà ta là đại biểu của Satan chuyên làm cho dân sự Chúa ra đồi bại. Vì thế, Đức Giê-hô-va đã gán cho bà ta với cái tên Giê-sa-bên tiêu biểu. Giê-sa-bên trong Cựu Ước là một người đàn bà vô liêm sỉ khôn tả xiết —nhiều đến nỗi Kinh Thánh đặt tên cho kẻ lấy nàng làm vợ là điều xấu xa nhất mà vua A-háp đã có: “A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va hơn hết thảy các người tiên bối mình. Vả, người lấy sự bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm nhỏ mọn, nên người đi lấy Giê-sa-bên, con gái Et-ba-anh, vua dân Si-đôn, mà làm vợ; người cũng đi hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó” (IVua 16:30-31). Qua ảnh hưởng gian ác của Giê-sa-bên, sự thờ phượng thần Ba-anh đã lan rộng trong xứ Israel.
Giống như bản sao Cựu Ước của Giê-sa-bên, người nữ trong thành Thi-a-ti-tơ đã xưng mình là tiên tri đã thành công trong việc dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng. Ta đã cho nó. Người ta có thể suy đoán rằng người nữ ấy đã kết hôn với nhị nguyên thuyết về triết học rất phổ biến trong triết học Hy-lạp đương thời. Khi được đưa vào trong Hội thánh, sự dạy đó cho rằng linh hồn là thiện, còn xác thịt là ác. Một khi Đức Chúa Trời chỉ chú trọng đến linh hồn, những người cung ứng nó đã lập luận dối trá, một người làm gì với thân thể của họ thì chẳng nhằm nhò gì hết. Như vậy, theo Giê-sa-bên, nếu Cơ đốc nhân phạm vào tội tà dâm hay ăn thịt cúng thần tượng thì chẳng sao cả. Bà ta cũng đã lấy quan điểm bị vặn cong, chống nghịch đạo lý nói tới ân điển của Đức Chúa Trời, luận lẽ rằng sẽ có sao đâu nếu Cơ đốc nhân phạm tội, một khi Đức Chúa Trời giàu ơn tha thứ cho họ. Có lẽ bà ta cũng khuyến khích Cơ đốc nhân nên kinh nghiệm mọi điều sâu hiểm của Satan để họ có thể làm chứng tốt hơn cho người chưa được cứu. Bất kể nội dung cụ thể nào nơi sự dạy giả dối của bà ta, nó dẫn tới đại đa số các tín hữu ở thành Thi-a-ti-rơ lạc lối khỏi lẽ thật và sự công bình.
Kinh Thánh dạy rằng Cơ đốc nhân đích thực có thể sa vào tình trạng phi luận tình dục (đối chiếu ICo 6:15-20) và thờ lạy hình tượng (đối chiếu ICo 10:21). Song để dẫn dắt các Cơ đốc nhân khác vào đạo dối hoặc sống phi luân là một tội rất nghiêm trọng, một người đối diện với án phạt nghiêm trọng nhất. Ở Mat 18:6-10, Chúa Jêsus đã mô tả bóng bẩy các hậu quả nghiêm trọng cho những ai dẫn dắt các tín hữu khác vào trong tội lỗi:
Song, nếu ai làm cho một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn. Khốn nạn cho thế gian vì sự gây nên phạm tội! Vì sự gây nên phạm tội phải có; song khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội! Nếu tay hay là chân ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chân hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời. Nếu con mắt ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa ngục. Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời.
Những “đứa nhỏ nầy đã tin” theo Đấng Christ không phải là loại trẻ con theo phần xác đâu, mà là những con trẻ thuộc linh — những người tin Chúa. Dẫn dắt người khác đã tin Chúa vào trong tội lỗi quả là việc nghiêm trọng vì Chúa phán chết bị dìm trong nước là một sự lựa chọn tốt hơn. Hình ảnh của việc tự cắt xén là thứ ngôn ngữ mô tả nhu cần phải hành động quyết liệt trong việc xử lý đối với tội lỗi.
Trong Cựu Ước, Giê-sa-bên đối diện với một cứu cánh tồi tệ, xứng đáng với tình trạng của bà ta là một người đã dẫn Israel vào chỗ sai lạc:
Giê-hu liền đến tại Gít-rê-ên. Giê-sa-bên hay, bèn giồi phấn mặt mình, trang điểm đầu, và đứng trông nơi cửa sổ. Khi Giê-hu đi qua cửa thành, nàng nói rằng: Hỡi Xim-ri, kẻ giết chúa mình! Bình yên chăng? Giê-hu ngước mắt lên về hướng cửa sổ, nói rằng: Trên cao kia, ai thuộc về ta? Ai? Hai ba quan hoạn bèn ngó ra về hướng người. Người kêu chúng rằng: Vậy, hãy ném nó xuống đất! Chúng ném nàng xuống đất, và huyết vọt lại trên tường và trên ngựa, rồi ngựa giày đạp nàng dưới chân. Giê-hu vào, ăn và uống xong, đoạn nói rằng: Vậy, hãy đi xem đàn bà khốn nạn và lo chôn nó, vì nó là con gái của vua. Vậy, các tôi tớ đi đặng chôn nàng; nhưng chúng chỉ còn thấy cái sọ, hai chân, và lòng bàn tay nàng mà thôi. Chúng trở về cho chủ mình hay điều đó. Giê-hu bèn nói: Ấy là lời của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng Ê-li, người Thi-sê-be, tôi tớ Ngài, mà phán rằng: Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên tại trong đồng ruộng Gít-rê-ên; và thấy nàng sẽ như phân trên mặt đất, trong ruộng Gít-rê-ên, đến đỗi người ta không thể nói rằng: Này là Giê-sa-bên (IIVua 9:30-37)
Đức Chúa Trời giàu ơn đã cho nữ tiên tri giả thì giờ để ăn năn tại thành Thi-a-ti-rơ, nhưng minh họa cho lẽ thật đáng buồn là dân sự ưa thích sự tối tăm hơn là sự sáng láng (Gi 3:19), bà ta không muốn ăn năn về điều tà dâm nó. Sự từ chối thẳng thừng và dứt khoát của bà ta không chịu ăn năn sẽ dẫn đến một sự phán xét khủng khiếp, được bày ra bởi thế gian bắt bớ hiện khi ấy. Vì Giê-sa-bên từ chối không chịu ăn năn, Đấng Christ tuyên bố ta quăng nó trên giường đau đớn. Cụm từ đau đớn không phải là một phần của bản gốc tiếng Hy-lạp, nhưng được ghi ra như là sự phỏng đoán của người dịch. Trong ánh sáng phần kết cuộc của việc Giê-sa-bên từ chối không chịu ăn năn, có thể là cái giường đề cập đến sự chết và địa ngục — nơi nghỉ ngơi cuối cùng cho những ai từ chối không chịu ăn năn.
Sự phán xét thiêng liêng sắp giáng xuống không những trên Giê-sa-bên, mà còn trên kẻ nào phạm tội tà dâm với nó nữa. Chúa doạ quăng họ vào tai nạn lớn – chớ không phải đại nạn chung cuộc được mô tả ở Khải huyền 4-19, mà là khổ nạn hay rối rắm. Một khi đây là những Cơ đốc nhân phạm tội, họ đã tin theo những lời dối trá của bà ta, Chúa không dọa đưa họ xuống địa ngục như Ngài đã răn đe nữ tiên tri giả. Ngài hứa sẽ đem đến cho họ sự sửa phạt trầm trọng — ngay cả sự chết theo phần xác (đối chiếu ICo 11:30; IGi 5:16) — trừ phi họ ăn năn các việc làm của họ.
Khi ấy, Đấng Christ đặt tên cho nhóm thứ ba đang đối diện với sự phán xét thiêng liêng, Ngài tuyên bố: Ta sẽ đánh chết con cái nó. Con cái của Giê-sa-bên không phải là con ruột của bà ta mà là con thuộc linh của bà ta. Hội thánh sắp sửa bốn mươi tuổi khi Giăng viết thư tín, do đó sự dạy giả dối của bà ta đã được đủ lâu cho thế hệ thứ hai những kẻ sai trái dấy lên. Như Ngài đã làm với A-na-nia và Sa-phia-ra, Chúa doạ giết chết những kẻ phạm sai lầm này bằng dịch lệ (theo nghĩa đen là “giết họ bằng cái chết”). Đã quá trễ cho Giê-sa-bên; tấm lòng của bà ta đã bị chai cứng trong tội lỗi không chịu ăn năn. Nhưng Đức Chúa Jêsus Christ lấy lòng thương xót cảnh cáo các môn đồ của mình phải ăn năn trong khi vẫn còn có thời gian.
Sự phán xét nghiêm ngặt đã được hứa với nữ tiên tri và các môn đồ của bà ta một lần nữa tỏ ra lòng thương xót của Đấng Christ đối với Hội thánh tinh sạch về mặt giáo lý và về cách ăn ở. Ngài sẽ làm bất cứ điều gì là cần thiết để thanh lọc Hội thánh của Ngài về tội lỗi — thậm chí đến điểm cất đi sinh mạng của các giáo sư giả. Thực tại hiển nhiên nầy sẽ khiến cho hết thảy những ai muốn trở thành giáo sư và nhà truyền đạo trong Hội thánh phải biết chắc là họ đang nói ra lẽ chơn thật (đối chiếu Gia 3:1). Điều đó cũng cảnh báo những Cơ đốc nhân nào đang bước theo các giáo sư giả phải ăn năn tội của họ, e rằng họ phải đối diện với sự sửa phạt thiêng liêng.
Đấng Christ sẽ nhận được sự vinh hiển khi Ngài xét đoán Giê-sa-bên cùng các môn đồ của bà ta. Khi điều đó xảy ra, mọi Hội thánh sẽ nhìn biết rằng Ngài là Đấng biết lòng dạ loài người. Cụm từ đó cung ứng thêm phần khẳng định về thần tánh của Đấng Christ, một khi cụm từ nầy được sử dụng trong Cựu Ước lúc nói đến Đức Chúa Trời (thí dụ, ISu 28:9; Thi 7:9; Ch 24:12; Gie 11:20; 17:10; 20:12). Sau khi Ngài phán xét Hội thánh Thi-a-ti-rơ, hết thảy các Hội thánh khác sẽ bị cảnh cáo chống lại điều ác trong việc dung túng tội lỗi. Họ cũng nhận ra rằng không một điều gì có thể giấu khỏi cái nhìn xuyên thấu của Chúa các Hội thánh.
Không biết có bao nhiêu người trong hội chúng này đáp lại lời cảnh báo của Đấng Christ, nhưng, thê thảm thay, Hội thánh Thi-a-ti-rơ như một tổng thể dường như không quan tâm đến lời cảnh báo ấy. Lịch sử ghi lại Hội thánh nầy đã trở thành miếng mồi của phong trào tà giáo Montanist (một tiên tri giả dẫn dắt phong trào, ông ta xưng mình tiếp tục phần khải thị từ Đức Chúa Trời tẻ tách ra ngoài Kinh Thánh) rồi kết thúc vào cuối thế kỷ thứ hai.
Thế rồi Đấng Christ đưa ra một lời yên ủi cho các tín đồ thực trong Hội thánh Thi-a-ti-rơ, họ không bước theo sự dạy giả dối của Giê-sa-bên: và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại. Sự phán xét không lường trước của Đấng Christ sẽ chiếu theo công việc của mỗi người; những ai vô tội sẽ không bị trừng phạt cùng với kẻ có tội. Mọi người sẽ bị xét đoán bởi công việc của họ [nam hay nữ] là chủ đề thường xuyên trong Kinh Thánh. Trong Mat 7:16, Chúa Jêsus nói về các tiên tri giả: “Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được”. Khi nói về lần đến thứ hai, Chúa Jêsus đã cảnh báo: “Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm” (Mat 16:27; Kh 22:12). Đức Chúa Trời là Quan Án công bình “sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (Ro 2:6). Phao-lô viết về đối thủ cay đắng của mình, thợ đồng A-léc-xan-đơ: “tùy theo công việc hắn, Chúa sẽ báo ứng” (IITi 4:14).
Các việc làm luôn luôn là cơ sở cho sự phán xét thiêng liêng. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là sự cứu rỗi là bởi việc làm đâu (đối chiếu Eph 2:8-9; IITi 1:9; Tit 3:5). Các việc làm của người ta cho thấy tình trạng thuộc linh của họ. Đấy là điều Gia-cơ muốn nói khi ông thố lộ: “ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta” (Gia 2:18). Đức tin cứu rỗi chắc chắn sẽ tự biểu hiện ra bằng những việc lành, khiến cho Gia-cơ tuyên bố rằng: “Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết” (Gia 2:17, đối chiếu câu 26). Cơ đốc nhân là những tạo vật mới (IICo 5:17), “là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Eph 2:10). Việc làm không thể cứu được, nhưng chúng hay bị rủa sã.
Sự phán xét phải bắt đầu với nhà của Đức Chúa Trời (IPhi 4:17). Nhưng sự phán xét của Đấng Christ sẽ phản ánh công bằng từng việc làm của từng người một — một thực tại sẽ đem lại sự sợ hãi cho những ai dạy dỗ và thực hành đạo dối, nhưng yên ủi và hy vọng cho đức tin của người nào là chân chính.
MẠNG LỊNH
Nhưng, với các ngươi là kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó và chưa biết điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan, như chúng vẫn nói, thì ta phán dặn rằng ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác. Chỉn các ngươi khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng ta đến (Kh 2:24-25)
Sau khi cảnh báo những kẻ làm theo đạo dối phải ăn năn, Đấng Christ thốt ra lời yên ủi cho kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó [sự dạy giả dối của Giê-sa-bên]. Chúng gợi lại những lời yên ủi của Đức Chúa Trời cho người ta trong thời của Malachi, họ sợ bị quét bỏ đi trong sự phán xét thiêng liêng:
“Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình” (Ma 3:16-17)
Đấng Christ xác định rõ các tín đồ thực là những kẻ chưa biết những điều sâu hiểm của quỉ Satan, như chúng vẫn nói. Giê-sa-bên cùng các môn đồ của bà ta xưng mình là ống dẫn những chỗ hiểm sâu sự thống trị của quỉ Satan mà vẫn giữ không bị tổn thương về mặt tâm linh. Trong thần học giả dối sai lạc, gian ngoa của họ, họ tin họ có thể giữ như thế mà không bị trừng phạt. Sự dạy của phái tiền-Ngộ đạo này cho rằng người ta được tự do dấn thân vào lãnh địa của quỉ Satan và tham gia vào các tội lỗi của cơ thể mà không gây tổn hại cho linh hồn. Một khi linh hồn thuộc về Đức Chúa Trời, họ phát ra thứ logic bị vặn cong, có vấn đề gì không một khi thân thể dự vào các bữa tiệc thờ lạy hình tượng và dự phần vào phi luân về mặt tình dục? Họ tưởng bản thân họ được tự do khám phá các lãnh vực của quỉ Satan rồi sau đó trơ trẻn đến thờ lạy Đức Chúa Trời.
Đối với những tín đồ đích thực, họ chưa kinh nghiệm phần tri thức sâu hiểm mà những kẻ dị giáo này xưng nhận, Đấng Christ phán: Ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác. Việc mang lấy gánh nặng nhìn thấy sự dạy giả dối cùng lối sống phi luân trong Hội thánh của họ, và phải kháng cự lại sự gạ gẫm và nhạo báng từ đảng của Giê-sa-bên, là gánh nặng đủ để họ phải mang lấy. Nhưng e là họ trở nên quá tự tin, Đấng Christ khuyên họ: Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã (đối chiếu ICo 10:12). Việc sử dụng từ ngữ mạnh mẻ krate¯o (giữ cho chắc) chỉ ra rằng điều đó sẽ không dễ dàng đâu. Sự đến của Đấng Christ có liên quan đến Hội thánh Thi-a-ti-rơ là sự Ngài đến với họ trong sự phán xét. Nhưng theo một ý nghĩa rộng hơn, tất cả các tín đồ cần phải “mến sự lành“ (Ro 12:9) cho tới khi Đấng Christ tái lâm.
MƯU LUẬN
Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước: kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta. Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! (Kh 2:26-29)
Cho kẻ nào thắng (nghĩa là, một Cơ đốc nhân chơn thật; đối chiếu I Giăng 5:5) và giữ các việc của Đấng Christ (ngược lại với những kẻ trong câu 22, họ thực hành mọi điều ác của Giê-sa-bên) đến cuối cùng (sự vâng lời đánh dấu một Cơ đốc nhân chân chính), Đấng Christ hứa hai việc. Thứ nhứt, Đấng Christ sẽ ban cho quyền trị các nước; kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm. Lời hứa ấy, được rút ra từ Thi 2:7-9, là một sự đóng góp vào trong Vương quốc Thiên hi niên. Người nào cứ giữ lòng trung tín với Đấng Christ dù bị đánh đập và bị xem khinh trong đời nầy sẽ đồng trị với Ngài trong vương quốc của Ngài trên đất nầy. Họ sẽ thực hành quyền trị các nước, cai trị bằng một cây gậy sắt (đối chiếu Kh 12:5; 19:15). Các nước đó trong vương quốc ngàn năm chống cự lại quyền cai trị của Đấng Christ và đe doạ dân sự Ngài sẽ bị huỷ diệt. Người nào đồng trị với Ngài sẽ giúp bảo hộ dân sự Ngài và khuyến khích sự nên thánh và sự công bình. Đấng Christ sẽ giao quyền cho họ cũng như Ngài đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta (đối chiếu Gi 5:22, 27).
Đấng Christ cũng hứa ban cho các môn đồ trung tín của Ngài ngôi sao mai. Có người gắn ngôi sao mai với các phân đoạn như Da12:3 và Mat 13:43. Lời hứa ấy là, người tin Chúa sẽ phản ánh sự vinh hiển của Đấng Christ. Trong khi các Cơ đốc nhân lo phản ánh sự vinh hiển của Đấng Christ, nhìn thấy ngôi sao mai là chính mình Đấng Christ — một tước hiệu mà Ngài giả định trong Kh 22:16 (đối chiếu IIPhi 1:19). Đấng Christ hứa với những người tin Chúa trong mọi sự đầy dẫy chính mình Ngài; đúng là Đấng mà chúng ta: “xem như trong một cái gương, cách mập mờ: đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy” (ICo 13:12).
Lời lẽ kết thúc, Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! là mạng lịnh phải lắng nghe phải che giấu sứ điệp của bức thư gửi cho Hội thánh tại thành Thi-a-ti-rơ. Ba lẽ thật quan trọng được đề ra. Thứ nhứt, bức thư nầy tỏ ra sự nghiêm trọng của việc thực thi và dung túng cho tội lỗi và rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét những tội lỗi liên tục, chưa hề ăn năn trong Hội thánh. Thứ hai, một khuôn mẫu vâng lời đánh dấu các Cơ đốc nhân đích thực. Cuối cùng, lời hứa giàu ơn của Đức Chúa Trời cho kẻ thuộc về Ngài, ấy là, bất chấp mọi tranh đấu với tội lỗi và sai lầm trong các Hội thánh, họ sẽ kinh nghiệm mọi sự đầy dẫy của Đấng Christ khi họ cùng Ngài trị vì trong vương quốc của Ngài. Các Hội thánh ấy, giống như Thi-a-ti-rơ, họ thất bại không tiếp thu được sứ điệp sẽ nhận lấy sự phán xét đời đời; người nào ấp ủ sứ điệp của nó sẽ nhận được sự chúc phước thiêng liêng.