Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

08 – Sạt-đe: Hội thánh Chết (Kh 3:1-6)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết. Hãy tỉnh thức, và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết; vì ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta. Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình. Nhưng, ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy. Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy. Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Kh 3:1-6).

Khoảng cách to lớn của không gian giữa các vì sao là bao la không thể tưởng tượng nổi. Các ngôi sao gần nhất đối với chúng ta là hàng nghìn tỷ dặm. Những khoảng rộng lớn ấy đã buộc các nhà thiên văn phải đưa ra một đơn vị đo lường thích hợp, năm ánh sáng. Một năm ánh sáng tương đương với khoảng cách mà ánh sáng, đi hơn 186.000 dặm mỗi giây đồng hồ, di chuyển trong một năm — nhiều hơn 6 nghìn tỷ dặm.

Khoảng cách rộng lớn thậm chí đến các ngôi sao gần nhất cho thấy một khả năng rất thú vị. Nếu một ngôi sao cách địa cầu ba mươi năm ánh sáng phát nổ và chết cách đây năm năm, chúng ta sẽ không thể nói là đã nhìn thấy nó trong vòng 25 năm nữa. Mặc dù không còn tồn tại nữa, ánh sáng từ ngôi sao đó vẫn chiếu sáng giống như thể không có gì thay đổi.

Minh hoạ ấy tổng hợp hoàn toàn tình huống ở nhiều Hội thánh. Chúng vẫn chiếu sáng với thứ ánh sáng phản chiếu của một quá khứ rực rỡ. Nhìn chúng từ xa, người ta sẽ nghĩ rằng chẳng có gì thay đổi. Tuy nhiên, bóng tối tăm thuộc linh của sự dạy giả dối và lối sống tội lỗi đã dập tắt sự sáng có ở bên trong, mặc dù một số tiếng tăm của chúng có thể vẫn còn đó.

Một Hội thánh như vậy là Hội thánh tại Sạt-đe. Nó có tiếng là sống, nhưng Đức Chúa Jêsus Christ lại tuyên bố là nó đã chết. Con đường trôn ốc đi xuống mà các Hội thánh nầy mô tả, khởi sự với việc Hội thánh Ê-phê-sô mất đi tình yêu ban đầu của mình đối với Đức Chúa Jêsus Christ và tiếp tục với tình trạng thế gian của Hội thánh Bẹt-găm và sự dung túng tội lỗi của Hội thánh Thi-a-ti-rơ, tuột xuống mức thấp mới tại Sạt-đe. Hội thánh ở Sạt-đe có thể được đặt cho biệt danh là “Hội thánh Cỏ Lùng thứ nhứt”. Đây là một Hội thánh bị tội lỗi chi phối, sự vô tín và đạo dối. Giống như cây vả trong thí dụ của Chúa Jêsus, nó có nhiều lá, song chẳng có quả nào hết (Mat 21:19).

Giống như phần còn lại của bảy Hội thánh, Hội thánh tại Sạt-đe là một Hội thánh đích thực, tồn tại trong thời của Giăng. Tuy nhiên, nó cũng tiêu biểu cho các Hội thánh chết đã tồn tại xuyên suốt lịch sử, và đáng buồn thay, tiếp tục tồn tại trong chính thời của chúng ta. Ánh sáng xuất hiện kia chỉ là ảo ảnh.

Thư tín từ Đức Chúa Jêsus Christ gửi cho Hội thánh tại Sạt-đe có thể được chia thành bảy phần quen thuộc: thư tín, Hội thánh, thành phố, sự quan tâm, sự ngợi khen, mạng lịnh và mưu luận.

THƯ TÍN

Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao (Kh 3:1c)

Các phần mô tả về tác giả thiêng liêng trong từng thư tín được rút ra từ sự hiện thấy ở 1:12-17. Thư tín gửi cho Sạt-đe rút ra một yếu tố bổ sung từ lời chào thăm ở 1:4, ở đây cụm từ bảy vì thần cũng xuất hiện. Cụm từ đó có thể đề cập đến Es 11:2, ở đây Đức Thánh Linh được mô tả là: “Thần của Đức Giê-hô-va. . . , tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va“. Nó cũng đề cập đến phần mô tả tượng trưng nói tới Đức Thánh Linh như một chiếc đèn có bảy ngọn (menorah), được trình bày ở Xa 4:1-10. Trong cả hai trường hợp, phần tham khảo nhắm vào sự đầy dẫy của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Jêsus Christ được biểu hiện trong Hội Thánh Ngài qua Đức Thánh Linh.

Bảy ngôi sao là bảy sứ giả hoặc trưởng lão (đối chiếu 1:20), một ngôi sao ra từ từng Hội thánh (trong 7 Hội thánh), họ mang một bản sao sách Khải huyền về lại Hội thánh của họ. Hình ảnh tỏ ra Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa Chủ Tể của Hội thánh, trung gian sự cai trị của Ngài qua các cấp lãnh đạo và mục sư tin kính.

Phần giới thiệu của Đấng Christ về chính mình Ngài không gợi ra sự nghiêm trọng của hoàn cảnh ở Sạt-đe. Ngạc nhiên thay, Ngài đã không tự giới thiệu chính mình Ngài là Đấng Quan Án thiêng liêng (như Ngài đã giới thiệu ở 2:18 cho Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ), mặc dù Hội thánh tại Sạt-đe đối mặt với sự phán xét sắp xảy ra. Thay vì thế, Ngài mô tả chính mình Ngài là Đấng hoạt động tối cao trong Hội thánh của Ngài qua Đức Thánh Linh và các cấp lãnh đạo tin kính. Phần giới thiệu đó góp phần như một sự nhắc nhở cho Hội thánh Sạt-đe về những gì họ thiếu thốn. Không có Đức Thánh Linh, Hội thánh tại Sạt-đe đã chết, bị tràn ngập ở đó là người chưa được chuộc.

HỘI THÁNH

Hội thánh Sạt-đe (Kh 3:1a)

Mặc dù các chi tiết không được ghi lại trong Kinh Thánh, Hội thánh tại Sạt-đe có lẽ đã được thành lập như một chiến dịch truyền giáo của Phaolô tại Ê-phê-sô (Cong 19:10). Nhân vật nổi bật nhất từ Hội thánh tại Sạt-đe được biết đến trong lịch sử là Melito. Ông là một nhà biện giải (một người đã viết sách bảo hộ Cơ đốc giáo), ông phục vụ trong vai trò giám mục ở Sạt-đe vào cuối thế kỷ thứ hai. Ông cũng đã viết phần chú giải được biết đến sớm nhất về các phân đoạn trích từ sách Khải Huyền. Bức thư không nói đến sự bắt bớ (tại sao Satan lại bận tâm lo bắt bớ một Hội thánh đã chết chứ?), đạo dối, các giáo sư giả, hoặc lối sống đồi truỵ. Tuy nhiên, một số sự kết hợp mọi việc ấy rõ ràng là đang hiện hữu ở Sạt-đe, vì Hội thánh đã chết.

THÀNH PHỐ

Sạt-đe (Kh 3:1b)

Ở một mức độ đáng phải nói tới, lịch sử của Hội thánh tại Sạt-đe vốn tương ứng với lịch sử của thành phố. Được thành lập vào khoảng năm 1200TC, Sạt-đe là một trong những thành phố lớn nhất trong thế giới cổ đại, thủ phủ của vương quốc Ly-đi giàu có. (Tên của vị vua nổi tiếng nhất của vương quốc, là Croesus, đã sống với câu nói: “giàu có như Croesus”). Aesop, nhà văn nổi tiếng về loại truyện ngụ ngôn có thể xuất thân từ Sạt-đe. Phần lớn tài sản của Sạt-đe đến từ vàng lấy ở sông Pactolus gần đó; các nhà khảo cổ đã tìm ra hàng trăm cái nồi dùng để tinh chế vàng, trong tàn tích của Sạt-đe (Edwin M. Yamauchi, New Testament Cities in Western Asia Minor [Grand Rapids: Baker, 1980], 65). Các đồng tiền vàng và bạc dường như đã được đúc đầu tiên ở Sạt-đe. Thành phố cũng được hưởng lợi từ vị trí của nó ở cuối con đường hoàng gia phía Tây dẫn lên phía Đông thành phố thủ đô của Susa của người Ba-tư, và từ vùng lân cận nó dẫn tới các tuyến đường thương mại quan trọng khác. Đây cũng là trung tâm sản xuất len ​​và ngành may mặc; thực vậy, Sạt-đe xưng mình đã khám phá cách thức để nhuộm len.

Sạt-đe nằm khoảng ba mươi dặm về phía nam của Thi-a-ti-rơ trong thung lũng phì nhiêu của sông Hermus. Một loạt các núi đồi nhô ra từ dãy núi Tmolus, ở phía Nam sông Hermus. Trên một trong những ngọn núi ấy, khoảng 1.500 feet mặt bằng của thung lũng, thành phố Sạt-đe nổi lên. Vị trí của nó làm cho thành phố rộng lớn ra nhưng không thể xâm nhập được. Ngọn đồi mà Sạt-đe được xây dựng trên đó có những vách đá mịn, gần như vuông góc với ba mặt. Duy từ phía Nam, người ta có thể tiếp cận với thành phố, thông qua một con đường dốc khó đi. Ở mặt lý tưởng khác là có rất ít chỗ cho thành phố mở rộng. Sau cùng, khi Sạt-đe mọc lên, một thành phố mới trải ra quanh chân đồi. Bối cảnh cũ vẫn là nơi ẩn náu để rút lui về khi nguy hiểm đe dọa cả thành phố.

Vị trí dường như bất khả xâm phạm của nó khiến cho cư dân Sạt-đe trở nên quá tự tin. Sự tự mãn đó dẫn đến sự sụp đổ của thành phố. Qua sự bất cẩn, điều không thể tưởng tượng xảy ra: Sạt-đe đã bị chiếm. Tin tức nói tới sự sụp đổ của nó đã gửi sóng xung kích qua cả thế giới Hy-lạp. Ngay cả trong thời của Giăng, vài thế kỷ sau đó, một câu nói theo kiểu châm ngôn tương đương với “việc chiếm được thành Sạt-đe” với “thực hiện điều bất khả thi” (Colin J. Hemer, The Letters to the Seven Churches of Asia in Their Local Setting [Sheffield: JSOT Press, 1986], 133). Mục sư Robert L. Thomas kể lại câu chuyện nói tới sự sụp đổ của thành Sạt-đe:

Bất chấp lời cảnh báo nghịch lại sự tự mãn của vị thần Hy-lạp mà ông đã hội ý, Croesus, vua của xứ Lydia, đã khởi sự một cuộc tấn công chống lại Cyrus, vua của xứ Ba-tư, nhưng đã bị đánh bại. Trở về Sạt-đe để thu hồi và xây dựng lại quân đội của mình cho một cuộc tấn công khác, ông đã bị Cyrus truy kích nhanh chóng, vua nầy đã bao vây nghịch với Sạt-đe. Croesus cảm thấy thật an toàn trong tình huống bất khả xâm phạm của mình tại thành phố và dự đoán được một chiến thắng dễ dàng đối với người Ba-tư, họ đang bị kẹt giữa những tảng đá vuông góc ở thành phố thấp hơn, một con mồi dễ nuốt chà nát quân đội xứ Lydia. Sau khi nghỉ một buổi tối trong lúc thảm kịch đang mở ra, ông thức dậy để khám phá ra rằng người Ba-tư đã giành được quyền kiểm soát thủ phủ bằng cách cắt đứt từng bức tường một (549TC). Thế là sự an ninh mà người thành Sạt-đe cảm thấy rằng họ đã bỏ đi phương tiện tiếp cận không có ai canh gát cả, cho phép quân nghịch trèo lên tiếp cận chẳng có ai theo dõi. Phải nói rằng ngay cả một đứa trẻ cũng có thể bảo vệ thành phố khỏi vụ tấn công này, song chẳng có người nào được chỉ định đứng canh gát để theo dõi phía mà người ta tin là không thể tiếp cận được.

Lịch sử tự nó lặp lại hơn ba thế kỷ rưỡi sau đó, khi Đại đế Antiochus chiếm lấy Sạt-đe bằng cách sử dụng loại leo núi bằng chân đến từ đảo Crete (195TC). Quân đội của ông đã bước vào thành bằng một con đường khác trong khi những người bảo vệ trong sự tự tin vô ý không chắc ai đó có thể tiếp cận được, eo đất liền kết nối núi Tmolus ở phía Nam. (Revelation 1–7: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1992], 241).

Sạt-đe không còn lấy lại được sự độc lập của mình nữa, sau cùng bị đặt vào quyền kiểm soát của quân La-mã vào năm 133TC. Một trận động đất thảm khốc đã hủy diệt thành phố vào năm 17SC, nhưng nó được tái thiết lại với sự tài trợ hào phóng của Hoàng đế Tiberius. Với lòng biết ơn, cư dân Sạt-đe đã xây dựng một đền thờ để tôn vinh ông. Tuy nhiên, đối tượng thờ lạy chính của thành phố là nữ thần Cybele — cùng là nữ thần được thờ lạy tại thành Ê-phê-sô như nữ thần Artemis (Diana). Những dòng suối nước nóng không xa Sạt-đe lắm được tưởng niệm như một vị trí mà ở đó các vị thần của họ thể hiện quyền lực để ban sự sống kẻ chết — một chú thích mỉa mai cho cả thành phố có Hội thánh của họ đã dãy chết. Trong thời của Giăng, Sạt-đe đã thịnh vượng nhưng lại tan rã, những ngày vinh quang của nó đã qua rồi. Cả hai: thành phố và Hội thánh nó chứa đã mất đi sức sống của họ.

MỐI QUAN TÂM

Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết … vì ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta. (Kh 3:1d, 2b)

Vì Hội thánh Sạt-đe đã chết, Đấng Christ đã bỏ qua lời khen ngợi thường lệ trong giây lát rồi đi thẳng vào mọi suy nghĩ của Ngài về Hội thánh. Mặc dù dáng dấp bề ngoài của nó có thể đã đánh lừa người ta (nó có tên tuổi, hoặc tiếng tăm sống động), Hội thánh Sạt-đe không thể đánh lừa Đức Chúa Jêsus Christ toàn tri, là Đấng biết rõ mọi việc làm của nó. Với tri thức không thể sai sót của mình, Ngài tuyên bố Hội thánh Sạt-đe đã chết rồi. Giống như nhiều Hội thánh ngày nay nó đã bị thế gian làm cho ô uế, được đánh dấu bởi sự hư hoại bên trong, và hạng người không được chuộc đang đùa giỡn trong Hội thánh tại đó.

Sự chết thuộc linh trong Tân Ước luôn luôn liên quan đến nguyên nhân của nó — tội lỗi. Eph 2:1 mô tả hạng người chưa được tái sanh là đã “chết vì lầm lỗi và trong tội ác mình” (Lu 9:60; 15:24, 32; Co 2:13; ITi 5:6; IGi 3:14). Hội thánh tại Sạt-đe giống như một viện bảo tàng, trong đó các loại thú nhồi bông được trưng bày trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Mọi thứ cho thấy dường như rất là tự nhiên, song chẳng có gì là sống động cả. Tội lỗi đã giết chết Hội thánh Sạt-đe.

Đâu là những dấu hiệu nguy hiểm cho thấy một Hội thánh đang dãy chết? Một Hội thánh đang ở trong nguy hiểm khi nó đang thoả lòng với mấy cái vòng hoa trong quá khứ của nó, khi nó gắn bó nhiều với các nghi thức hơn là thực tại thuộc linh, khi nó tập trung vào chữa lành các căn bịnh xã hội thay vì làm thay đổi tấm lòng của người ta qua việc rao giảng Tin lành ban sự sống của Đức Chúa Jêsus Christ, khi nó bận bịu với vật chất hơn là những việc thuộc linh, khi nó quan tâm đến những gì người ta suy nghĩ hơn là điều Đức Chúa Trời phán dạy, khi nó cứ nhắm vào các tín điều theo giáo lý và hệ thống thần học hơn là nhắm vào Lời của Đức Chúa Trời, hoặc khi nó mất đi niềm tin cho rằng từng lời lẽ của Kinh Thánh đều là Lời của chính mình Đức Chúa Trời. Bất luận sự nhóm lại, vô luận tòa nhà của nó gây ấn tượng đến dường nào, vô luận tình trạng của nó có là gì đi nữa trong cộng đồng, đã chối bỏ nguồn duy nhất của sự sống thuộc linh, giống như một Hội thánh đã chết mất.

Hội thánh tại Sạt-đe đang thực thi nhiều công việc lắm; họ đã nếm trải nhiều biến động. Nhưng những công việc ấy, Đấng Christ tuyên bố, đã không được trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta. Mặc dù đủ để cung ứng cho Hội thánh Sạt-đe một tiếng tăm trước mặt người ta, những công việc ấy là chưa đủ và chưa thể được chấp nhận ở trước mặt Đức Chúa Trời. Họ chỉ là những thây ma không có sự sống, không có mục đích; các việc lành của hội chúng Sạt-đe chỉ là những bộ đồ liệm của người chưa được tái sanh. Các thây ma thuộc linh (đối chiếu Eph 2:1-2) làm cho Hội thánh Sạt-đe phải sống dối trá. Họ đã bị đặt trên cán cân bởi Đấng Quan Án Công Bình và thấy là kém thiếu (đối chiếu Da 5:27).

Vị anh hùng trong Cựu Ước là Sam-sôn cung ứng một minh hoạ cho tình trạng chẳng đặng đừng của Hội thánh Sạt-đe. Mặc dù những màn trình diễn ngoạn mục và sức mạnh tuyệt vời, cuộc đời của ông đã đi đến chỗ kết thúc đáng buồn và bi thảm. Đa-li-la cám dỗ “mỗi ngày nàng lấy câu hỏi ghẹo lòng rối trí người“ (Cac 16:16) để tỏ ra cho ả thấy bí quyết sức mạnh của mình. Cuối cùng, sau khi “người bị tức mình hòng chết“ (câu 16) bởi sự hiếu chiến liên tục của mình, Sam-sôn nói ra sự thực cho Đa-li-la biết. Ả đã cắt tóc ông, và ông bị mất hết sức lực của mình, không phải vì việc tóc bị cắt, mà vì cớ ông bất tuân đối với Đức Chúa Trời. Khi ấy, khoảnh khắc đáng buồn nhất của toàn bộ câu chuyện bi thảm đã đến. Người Phi-li-tin đến bắt lấy Sam-sôn, và bất chấp, ông cần phải xử lý với họ. Tuy nhiên, họ bắt lấy, trói ông lại và móc hai con mắt của ông. Thê thảm thay, Sam-sôn “không biết Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi mình“ (câu 20). Mặc dù ông chính là người ấy, với cùng tên tuổi đó, sức lực của ông đã biến đi. Kết quả cho Sam-sôn là tù đày, mù lòa, nhục nhã, và sau cùng là sự chết.

Hội thánh tại Sạt-đe cũng vậy, từng sống động và mạnh mẽ về mặt thuộc linh, giờ đây đã bị mù và yếu đuối, không nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã ra đi từ lâu.

LỜI KHEN NGỢI

Nhưng, ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy. (Kh 3:4).

Ở giữa Hội thánh đã chết mất nầy, đầy dẫy hạng người chưa được tái sanh, mấy người tin Chúa chơn thật đã bị tan rãi ra giống như các loài hoa trong sa mạc. Tuy nhiên, về họ thì chưa đủ đâu, sự thay đổi tâm ý tổng thể của Đấng Christ về Hội thánh trông như một sa mạc vậy. Nhưng Ngài đã không quên những người giữ lòng trung thành đối với Ngài (đối chiếu Ma 3:16-17; He 6:10).

Đức Chúa Trời bảo tồn số dân sót trung tín với Ngài là một chủ đề thường xuyên trong Kinh Thánh. Phaolô viết ở Ro 11:1-5:

Vậy tôi nói: Đức Chúa Trời có bỏ dân Ngài chăng? Chẳng hề như vậy; vì chính tôi là dân Y-sơ-ra-ên, dòng dõi Ap-ra-ham, về chi phái Bên-gia-min. Đức Chúa Trời chẳng từng bỏ dân Ngài đã biết trước. Anh em há chẳng biết Kinh Thánh chép về chuyện Ê-li sao? thể nào người kiện dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời mà rằng: Lạy Chúa, họ đã giết tiên tri Ngài, hủy phá bàn thờ Ngài; tôi còn lại một mình, và họ tìm giết tôi. Nhưng Đức Chúa Trời đáp lại thể nào? Ta đã để dành cho ta bảy ngàn người nam chẳng hề quì gối trước mặt Ba-anh. Ngày nay cũng vậy, có một phần còn sót lại theo sự lựa chọn của ân điển.

Đức Chúa Trời có phần dân sót lại của Ngài ngay cả trong Hội thánh đã chết ở Sạt-đe. Đã có một vài người chơn thật ở giữa vòng kẻ kiêu ngạo, một vài người biết hạ mình xuống giữa vòng người thế gian, và một vài người biệt riêng ra giống như lúa mì sống giữa vòng gai góc vậy.

Đấng Christ mô tả số dân sót trung tín giống như những người chưa làm ô uế áo xống của họ. Ô uế ra từ chữ molun¯o, ý nói: “làm dơ”, “làm ô uế”, “bẩn thỉu”, hoặc “gây ô nhiễm”. Đây là một từ quá quen thuộc với hàng độc giả ở Sạt-đe vì cớ len của thành phố được sản xuất theo kiểu nhuộm sẵn. Áo xống tiêu biểu cho nhân vật trong Kinh thánh (thí dụ, Es 64:6; Giu 1:23). Số dân sót trung tín có thể bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì họ không bị ô uế hoặc ô nhiễm bản thân, mà còn tỏ ra bản chất tin kính của họ nữa.

Đây là một câu nói quá quen thuộc với hàng độc giả ở Sạt-đe vì cớ kỹ nghệ nhuộm len của thành phố. Áo xống tiêu biểu cho nhân vật trong Kinh Thánh (thí dụ, Es 64:6; Giu 1:23). Dân sót có lòng trung tín sẽ bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì họ chưa lấm ô uế hay gây ô nhiểm cho bản thân họ, nhưng lại tỏ ra bản thất tin kính của họ.

Đặc biệt, Đấng Christ nói về họ rằng họ sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy. Trong thời xa xưa, loại áo xống đó được mặc riêng cho lễ hội và tiệc tùng. Vì họ đã từ chối không làm ô uế áo xống của họ, nên Đấng Christ sẽ thay thế loại áo xống tinh sạch được con người gìn giữ với loại áo xống tinh khiết thiêng liêng (đối chiếu 7:14). Loại áo xống màu trắng tinh khiết mà Đấng Christ hứa ở đây và trong câu 5 (đối chiếu 6:11; 7:9, 13; 19:8, 14) ở chỗ khác được đan dệt bởi chính mình Đấng Christ (Ma 17:2; Mac 9:3) và các thiên sứ thánh (Mat 28:3; Mac 16:5; Cong 1:10). Người nào có một lượng thánh khiết và tinh sạch giờ đây sẽ được ban cho sự thánh khiết và tinh sạch hoàn toàn trong tương lai.

MẠNG LỊNH

Hãy tỉnh thức, và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết; … Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình. (Kh 3:2a, 3)

Đấng Christ nhắc tới mạng lịnh ban cho dân sót trung tín gồm các Cơ đốc nhân chơn thật ở tại Sạt-đe; không có một điểm nào chỉ vào những kẻ đã chết. Nếu Hội thánh của họ cần phải sống còn, tuyệt nhiên nó phải cần đến sự sống. Đấng Christ đặt trước mặt họ con đường dẫn tới sự phục hồi thuộc linh bằng cách cung ứng cho họ năm bước sau đây:

Thứ nhứt, họ cần phải tỉnh thức. Không có chút thì giờ nào cho sự dửng dưng; họ không thể đi xuôi với dòng chảy, họ phải lội ngược lại với dòng chảy đó. Số dân sót tín đồ cần phải nhìn vào mọi việc đã xảy ra trong Hội thánh của họ, đánh giá tình huống, lao vào những việc làm mang tính thay đổi, đương diện với tội lỗi và sai lầm, rồi hãy tạo ra một sự khác biệt.

Thứ hai, họ phải làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết. Sự là một danh từ trung tính trong tiếng Hy-lạp và không đề cập đến con người, mà đề cập đến các thực tại thuộc linh. Đấng Christ đã khuyên các Cơ đốc nhân thực tại Sạt-đe phải quạt thẳng vào ngọn lửa ân điển thuộc linh đang dần tàn còn lại trong Hội thánh của họ.

Bước thứ ba dành cho dân sót trung tín phải nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào. Họ cần quay trở lại với các lẽ thật trong Lời của Đức Chúa Trời, nhớ đến Tin lành và sự dạy của các sứ đồ. Đến thời điểm nầy, các thư tín của Phaolô đã ở trong chỗ quay vòng (đối chiếu IIPhi 3:15-16) và phần còn lại của Tân Ước đã được viết ra. Các tín đồ ở Sạt-đe cần phải tái khẳng định lại đức tin của họ đặt nơi lẽ thật nói tới Đấng Christ, tội lỗi, ơn cứu rỗi và sự nên thánh. Trong lời lẽ của Phaolô gửi cho Ti-mô-thê, họ cần phải canh chừng những gì đã được ủy thác cho họ (ITi 6:20). Họ cần phải thiết lập nền tảng giáo lý vững chắc để làm cơ sở cho sự phấn hưng.

Thứ tư, sau khi trở lại với các lẽ thật của Kinh thánh, họ cần phải giữ lấy chúng. Nền thần học chính thống mà tẻ tách ra khỏi loại đời sống vâng phục sẽ không mang lại sự đổi mới.

Cuối cùng, họ cần phải ăn năn. Với sự hối tiếc và buồn rầu, các tín đồ ở tại Sạt-đe cần phải xưng tội và xây khỏi tội lỗi của họ. Năm bước này, nếu tỉ mỉ làm theo, sẽ đem lại cơn phấn hưng.

Các hậu quả nếu cơn phấn hưng không đến sẽ là nghiêm trọng đấy. Đấng Christ đã cảnh cáo họ, Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình. Hình ảnh Chúa Jêsus đến như kẻ trộm luôn mang ý tưởng về sự phán xét sắp xảy tới (Mat 24:43; Lu 12:39; ITe 5:2, 4; IIPhi 3:10; Kh 16:15). Ở đây mối đe dọa không liên quan đến lần đến thứ hai của Ngài, mà là Chúa sẽ đến và phá diệt Hội thánh Sạt-đe nếu không có một cơn phấn hưng nào hết. Điều đó cũng có thể được suy nghĩ như một lời cảnh báo về sự phán xét đối diện hết thảy các Hội thánh chết nơi sự tái lâm của Đấng Christ.

Cách duy nhất để tránh sự phán xét nghiệt ngã hơn đang chờ đợi những ai nhìn biết lẽ thật mà xây khỏi nó (He 10:29-30) một phải bước theo con đường dẫn đến sự sống thuộc linh.

MƯU LUẬN

Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy. Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! (Kh 3:5-6)

Bằng cách khích lệ, Đấng Christ đã mô tả số phần thưởng đang chờ đợi những ai dự phần vào cuộc phấn hưng. Các Cơ đốc nhân thực, như đã lưu ý rồi, sẽ được mặc áo trắng. Trong thế giới cổ đại, áo trắng cũng được mặc vào các dịp lễ hội như đám cưới chẳng hạn. Các Cơ đốc nhân thực sẽ mặc áo của họ trong tiệc cưới của Chiên Con (19:7-9). Áo trắng cũng được mặc bởi những người kỷ niệm chiến thắng trên chiến trường; hết thảy các Cơ đốc nhân thực đều chiến thắng nhờ Đấng Christ đối với tội lỗi, sự chết và Sa-tan. Nhưng, như đã đề cập trong phần bàn luận ở câu 4, áo trắng chủ yếu của các tín đồ tiêu biểu cho sự tinh khiết và nên thánh. Đấng Christ hứa sẽ mặc cho các Cơ đốc nhân trong sự sáng láng tinh sạch và thánh khiết cho đến đời đời.

Đấng Christ còn hứa thêm với từng Cơ đốc nhân chân thật rằng Ngài sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài. Thật là khó tin, mặc dù phân đoạn Kinh Thánh nầy nói ngược lại, có người giả định rằng câu này dạy rằng: tên của Cơ đốc nhân có thể bị xoá khỏi sách sự sống. Do đó, họ dại dột chuyển lời hứa thành lời đe dọa. Xu 32:33, có người biện luận, ủng hộ ý tưởng cho rằng Đức Chúa Trời có thể loại bỏ tên của ai đó khỏi Sách Sự Sống. Trong câu nói ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: “Kẻ nào phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta“. Tuy nhiên, không có chút mâu thuẫn nào giữa câu Kinh Thánh đó và lời hứa của Đấng Christ trong Kh 3:5. Quyển sách được đề cập đến trong Xu 32:33 không phải là Sách Sự Sống được mô tả ở đây, trong Phi 4:3, rồi kế đó trong Khải huyền (13:8; 17:8; 20:12, 15; 21:27). Thay vì thế, nó ám chỉ đến quyển sách nói tới người sống, tường trình của những người còn đang sống (đối chiếu Thi 69:28). Khi ấy, mối đe dọa đó không phải là án chết đời đời, mà là cái chết theo phần xác.

Trong thời của Giăng, các bậc cầm quyền giữ một sổ đăng ký của công dân thành phố. Nếu ai đó chết, hoặc phạm tội nghiêm trọng, tên của họ đã bị xóa khỏi sổ đăng ký đó. Đấng Christ, Vua của thiên đàng, hứa không bao giờ xóa bỏ tên của Cơ Đốc nhân thực ra khỏi danh sách tên những người được “ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (13:8).

Ngược lại, Đấng Christ sẽ nhận danh của từng người tin Chúa trước mặt Cha Ta cùng trước mặt các thiên sứ Ngài. Ngài sẽ khẳng định rằng họ thuộc về Ngài. Ở đây, Đấng Christ tái khẳng định lời hứa Ngài đã lập trong khi thi hành chức vụ ở trên đất: “Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời“ (Mat 10:32). Lẽ thật đầy sự yên ủi ấy nói rằng ơn cứu rỗi của Cơ đốc nhân được bảo đảm cho đến đời đời chính là sự dạy không thể nhầm được của Kinh Thánh. Không một chỗ nào lẽ thật ấy đã được trình bày rất mạnh mẽ cho bằng Ro 8:28-39:

Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.

Bức thư gửi đến Sạt-đe kết thúc, giống như sáu bức thư kia, với một lời khuyên phải lắng nghe phần mưu luận, mạng lịnh, và các lời hứa nó chứa: Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! Những cái thây ma chết về mặt thuộc linh đóng vai Hội thánh cần chú ý đến lời cảnh cáo của Đấng Christ về sự phán xét sắp xảy tới. Các tín đồ dửng dưng cần phải tỉnh thức trước khi quá muộn không thể cứu được Hội thánh của họ. Và một số ít người trung tín có thể được yên ủi với sự hiểu biết rằng ơn cứu rỗi của họ được bảo đảm cho đến đời đời.

Chuyện gì đã xảy ra với Sạt-đe? Có phải họ chú ý đến lời cảnh báo không? Có phải cơn phấn hung đã đến? Một người nổi bật như Melito làm giám mục của Sạt-đe một vài thập kỷ sau khi Giăng luận rằng ít nhất một cơn phấn hưng đã diễn ra ở tại Sạt-đe. Cho đến khi Đấng Christ tái lâm, ấy chẳng phải là quá muộn cho các Hội thánh chết khác tìm ra con đường dẫn tới sự đổi mới thuộc linh.

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme