Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

09 – Phi-la-đen-phi: Hội thánh Trung Tín (Kh 3:7-13)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được: Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta. Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi. Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất. Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi. Kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Kh 3:7-13)

Đôi khi tôi được các thanh niên yêu cầu đến làm Mục sư quản nhiệm nếu tôi biết có nhà thờ nào mà không có nan đề nào. Đáp ứng của tôi đối với họ là “Nếu tôi nhận, tôi sẽ không nói cho các bạn biết đâu; các bạn đã đến đó và làm hư hỏng nó”. Mục tiêu là không có nhà thờ nào trọn vẹn cả. Các nhà thờ đều vật vã bởi vì hết thảy đều được dựng nên bởi những con người bất toàn, hay phạm tội. Nhà thờ không phải là chỗ dành cho hạng người không có yếu điểm; chính mối thông công của những người tỉnh thức về các yếu điểm của họ rồi ao ước muốn có sức lực và ân điển của Đức Chúa Trời đầy dẫy đời sống của họ. Đây là một loại bệnh viện dành cho những ai nhìn biết họ đang ốm yếu và thiếu thốn.

Giống như bao Hội thánh khác, Hội thánh ở tại Phi-la-đen-phi vốn có những điểm bất toàn của nó. Tuy nhiên, Chúa đã khen ngợi các thuộc viên của nó vì cớ lòng trung tín và trung thành của họ. Họ và hội chúng tại Si-miệc-nơ là hai trong số bảy Hội thánh không nhận lãnh một lời quở trách nào hết từ nơi Chúa của Hội thánh. Bất chấp những lần vật vã của họ, các Cơ đốc nhân tại Phi-la-đen-phi đều trung tín và vâng phục, hầu việc và thờ phượng Chúa. Họ cung ứng một tấm gương tốt của một Hội thánh địa phương.

Để giúp đỡ trong việc tìm hiểu bức thư gửi cho Hội thánh Phi-la-đen-phi, nó có thể được chia thành sáu tiêu đề: thư tín, Hội thánh, thành phố, lời khen ngợi, mạng lịnh và mưu luận.

THƯ TÍN

“Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được” (Kh 3:7c)

Đức Chúa Jêsus Christ, tác giả thiêng liêng của bảy thư tín, luôn luôn giới thiệu Ngài với một phần mô tả phản ảnh cá tánh của Ngài. Trong năm thư tín trước, các phần mô tả này đến từ sự mặc thị được ghi lại ở 1:12-17. Nhưng phần mô tả này của Ngài là độc nhất vô nhị và không rút ra từ sự mặc thị trước đó. Nó có các đặc điểm Cựu Ước rất rõ nét.

Đấng Thánh đề cập đến Đức Chúa Trời, một mình Ngài sở hữu sự thánh khiết tuyệt đối. Cựu Ước hay mô tả Đức Chúa Trời là Đấng Thánh (thí dụ, IIVua 19:22; Giop 6:10; Thi 71:22; 78:41; Es 43:15; 54:5; Ha 3:3). Êsai 6:3 long trọng tuyên bố: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!” (Kh 4:8). Khi nói Đức Chúa Trời là thánh là nói rằng Ngài hoàn toàn tẻ tách ra khỏi tội lỗi; do đó bổn tánh của Ngài tuyệt đối không vít, không ô uế.

Tước hiệu “Đấng Thánh” được sử dụng trong Tân Ước như một tước hiệu nói tới Đấng Mê-si dành cho Đức Chúa Jêsus Christ. Trong Mac 1:24 một con quỷ kinh khiếp hét lên: “Hỡi Jêsus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời!”

Khi thông báo sự ra đời của Ngài cho Ma-ri biết, thiên sứ mô tả Chúa Jêsus là “Đấng Thánh” (Lu 1:35). Trong G 6:69 Phierơ khẳng định: “chúng tôi đã tin, và nhận biết rằng Chúa là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời”. Về sau, ông quở trách những người Do-thái vô tín, vì họ “đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công bình mà xin tha một kẻ giết người cho mình“ (Cong 3:14).

Việc Chúa Jêsus xác nhận chính mình Ngài là Đấng Thánh sẽ không kém hơn một lời xưng nhận trực tiếp về thần tánh. Đức Chúa Jêsus Christ sở hữu bổn tánh quan trọng, thánh khiết và vô tội của Đức Chúa Trời không suy giảm, không thay đổi. Bởi vì Đấng Christ là thánh, nên hội thánh của Ngài cũng phải là thánh nữa. Phierơ viết: “Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình“ (IPhi 1:15). Như vậy Đấng Thánh toàn tri đã không đưa ra một lời quở trách, cảnh báo, hoặc xét đoán Hội thánh Phi-la-đen-phi, quả thật Ngài đã nói tốt cho họ.

Không những Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Thánh; mà Ngài còn mô tả chính mình Ngài là Đấng chân thật nữa. Lẽ thật được sử dụng trong sự kết hợp với sự thánh khiết để mô tả Đức Chúa Trời trong Kh 6:10; 15:3; 16:7; 19:2, 11. Al¯ethinos (chân thật) biểu thị điều chi là thực, xác thực và đích thực. Ở giữa sự giả dối, lầm lạc và sai trái đầy dẫy thế gian, Đức Chúa Jêsus Christ là lẽ thật (Gi14:6).

Thứ ba, Đấng Christ mô tả chính mình Ngài là Đấng có chìa khóa của Đa-vít. Kh 5:5 và 22:16 nói rất rõ, Đa-vít làm biểu tượng cho chức vụ Mê-si. Một chìa khóa trong Kinh Thánh tiêu biểu cho uy quyền; hễ ai giữ chìa khóa người ấy có quyền kiểm soát (đối chiếu 1:18; 9:1; 20:1; Mat 16:19). Thuật ngữ chìa khóa của Đa-vít cũng xuất hiện ở Es 22:22, ở đó nó đề cập đến Ê-li-a-kim, viên quản lý hay thủ tướng của nhà vua Israel. Vì cớ chức vụ của ông, ông kiểm soát sự tiếp cận đến nhà vua. Là người giữ chìa khóa của Đa-vít, chỉ một mình Chúa Jêsus mới có thẩm quyền tối thượng quyết định ai bước vào vương quốc Mê-si của Ngài (đối chiếu Gi 10:7, 9; 14:6; Cong 4:12). Kh 1:18 tỏ ra rằng Chúa Jêsus có chìa khóa của sự chết và địa ngục; ở đây Ngài được mô tả là có chìa khóa để cứu rỗi và chúc phước cho.

Sau cùng, Chúa Jêsus xác định chính mình Ngài là Đấng mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được. Phần mô tả đó nhấn mạnh đến sự toàn năng của Đấng Christ; những gì Ngài làm không thể bị xây chuyển bởi một người mạnh sức hơn. Đức Giê-hô-va tuyên bố ở Es 43:13: “Ta làm ra, ai ngăn cấm ta được?” (đối chiếu Es 46:9-11; Gie 18:6; Da 4:35). Không một ai có thể đóng các cánh cửa đối với vương quốc hoặc đối với việc chúc phước một khi Ngài giữ cho chúng mở ra, và không một ai có thể mở chúng ra một khi Ngài giữ cho chúng phải đóng lại. Trong ánh sáng của lời hứa ở câu 8, Đấng Christ cũng có thể đề cập đến việc mở và đóng các cánh cửa cho sự thờ phượng. Trong từng trường hợp, phần nhấn mạnh nhắm vào quyền kiểm soát của Ngài đối với Hội thánh của Ngài.

Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa thánh khiết, chân thật, quyền năng, toàn tri của Hội thánh, chẳng tìm được điều gì để xét đoán trong Hội thánh Phi-la-đen-phi là một sự khích lệ đầy vui mừng đối với họ.

HỘI THÁNH

Hội thánh Phi-la-đen-phi (Kh 3:7a)

Có ít điều được biết về Hội thánh Phi-la-đen-phi trừ ra phân đoạn Kinh Thánh nầy. Giống như hầu hết bảy Hội thánh kia, có lẽ nó được thành lập trong chức vụ của Phao-lô ở thành Ê-phê-sô (Cong 19:10). Một vài năm sau khi Giăng viết sách Khải huyền, giáo phụ Hội thánh đầu tiên là Ignatius đã đi ngang qua Phi-la-đen-phi trên con đường chịu tử đạo ở Rome. Sau đó ông viết cho Hội thánh một lá thư khích lệ và dạy dỗ. Một số Cơ đốc nhân xuất thân từ Phi-la-đen-phi đã chịu tuận đạo với Polycarp tại Si-miệc-nơ (xem chương 5 của sách này). Hội thánh đã kéo dài trong nhiều thế kỷ. Các Cơ đốc nhân ở Phi-la-đen-phi đứng vững vàng ngay cả sau khi khu vực đã bị người Hồi giáo tràn ngập, sau cùng không chống cự nổi vào giữa thế kỷ mười bốn.

THÀNH PHỐ

Phi-la-đen-phi (Kh 3:7b)

Từ đồng bằng sông Hermus ở Sạt đe và Si-miệc-nơ, một đồng bằng nhỏ hơn (thuộc dòng sông Cogamis) rẽ ra phía đông nam. Một con đường xuyên qua đồng bằng này cung cấp phương tiện tốt nhất để đi lên 2.500 feet tính từ đồng bằng Hermus tới vùng cao nguyên trung tâm rộng lớn. Ở đồng bằng nầy, cách Sạt-đe khoảng ba mươi dặm, là thành Phi-la-đen-phi.

Phi-la-đen-phi là thành phố trẻ nhất trong bảy thành phố, được thành lập một thời gian ngắn sau năm 189TC một là do Vua Eumenes của Bẹt-găm hoặc em ruột của ông, Attalus II, kế vị ông làm vua. Trong từng trường hợp, thành phố lấy danh hiệu của nó từ biệt danh của Attalus II là Philadelphus (“người yêu anh”), lòng trung thành của ông với anh mình Eumenes đã mang danh hiệu ấy cho ông.

Mặc dù định vị trên bối cảnh dễ bảo vệ trên một ngọn đồi cao 800 foot, nhìn ra một con đường quan trọng, Phi-la-đen-phi không được thành lập chủ yếu là tiền đồn quân sự (giống như Thi-a-ti-rơ). Những người sáng lập nó để làm một trung tâm văn hoá và ngôn ngữ của Hy-lạp, tiền trạm truyền giáo để truyền bá chủ nghĩa Hy-lạp đến các khu vực Lydia và Phrygia. Phi-la-đen-phi đã thành công trong sứ mệnh của nó xuất sắc đến nỗi năm 19SC ngôn ngữ Lydian đã được thay thế hoàn toàn bằng tiếng Hy-lạp.

Phi-la-đen-phi được hưởng lợi từ vị trí của nó tại điểm nối của các tuyến thương mại quan trọng (cũng như là điểm dừng trên tuyến Imperial Post Road), mang về cho nó danh hiệu “cửa ngõ vào phương Đông” (Robert H. Mounce, The Book of Revelation, The New International Commentary on the New Testament [Grand Rapids: Eerdmans, 1977], 114–15). Thành phố nằm bên rìa của Katakekaumene (“đất bị thiêu đốt”), một khu vực núi lửa, đất đai phì nhiêu lý tưởng cho các vườn nho. Tuy nhiên, ở gần khu vực hoạt động địa chấn như vậy có những hạn chế của nó. Vào năm 17SC, một trận động đất mạnh đã làm rung chuyển Phi-la-đen-phi, cùng với Sạt-đe và mười thành phố lân cận khác. Mặc dù sự tàn phá ban đầu lớn hơn tại Sạt-đe, Phi-la-đen-phi, ở gần với tâm chấn hơn, đã kinh nghiệm những cơn hậu địa chấn trong các năm kế tiếp. Trải nghiệm làm tổn thương thần kinh này đã để lại những vết sẹo về mặt tâm lý trên cư dân Phi-la-đen-phi, như Sir William Ramsay lưu ý:

Phần nhiều cư dân ở lại bên ngoài thành phố sống trong các lều trại trong đồng bằng, và những người nào kiên nhẫn đủ (như suy nghĩ tỉnh táo) vẫn ở lại trong thành phố, thực hiện nhiều thiết bị đa dạng để hỗ trợ và củng cố các bức tường và nhà cửa chống lại những dư chấn định kỳ. Ký ức về thảm hoạ này đã sống rất lâu . . . người ta sống giữa nguy hiểm từng đe doạ, trong nỗi lo sợ luôn luôn là một tai vạ mới; và thói quen đi ra chỗ rộng rãi có lẽ đã không biến mất khi Bảy Thư Tín đã được viết ra. (The Letters to the Seven Churches of Asia [Albany, Oreg.: AGES Software; reprint of the 1904 edition], 316–17).

Trong sự biết ơn đối với việc trợ giúp về mặt tài chánh của Caesar Tiberius trong việc tái thiết lại thành phố của họ, người dân thành Phi-la-đen-phi đã hiệp với một vài thành phố khác để dựng tượng đài cho ông. Vược xa hơn các thành phố khác, Phi-la-đen-phi thực sự đổi tên của nó thành Neocaesarea trong nhiều năm trời. Vài thập kỷ sau đó, thành phố một lần nữa đổi tên của nó thành Flavia, để tôn vinh dòng họ Hoàng đế La-mã. Nó sẽ được biết đến bởi cả hai tên, Phi-la-đen-phi và Flavia, trong suốt các thế kỷ thứ hai và thứ ba.

LỜI KHEN NGỢI

“Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta. Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi. Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất. Ta đến mau kíp” (Kh 3:8-11a)

Không tìm thấy gì trong những công việc khiến Ngài phải quan tâm, Đức Chúa Jêsus Christ tiếp tục khen ngợi các Cơ đốc nhân ở Phi-la-đen-phi trong bốn thực tại đặc trưng của hội chúng.

Thứ nhất, Hội thánh Phi-la-đen-phi có ít năng lực. Đó không phải là một lời bình luận tiêu cực về sự yếu đuối của họ, mà là một lời khen ngợi về sức lực của họ; Hội thánh Phi-la-đen-phi thì nhỏ về số lượng (đối chiếu Lu 12:32), nhưng có ảnh hưởng mạnh mẽ trên thành phố của nó. Hầu hết các thuộc viên của họ đều là nghèo nàn, từ các giai cấp thấp kém hơn trong xã hội (đối chiếu ICo 1:26). Nhưng họ dám nói với Phaolô: “Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (IICo 12:10). Bất chấp kích thước nhỏ bé của nó, sức mạnh thuộc linh tuôn chảy trong Hội thánh Phi-la-đen-phi. Nhiều người đã được cứu chuộc, nhiều đời sống đã được biến đổi, và Tin lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ đã được rao giảng.

Các tín đồ ở Phi-la-đen-phi cũng được đánh dấu bởi sự vâng phục; họ giữ Lời của Đấng Christ. Giống như Gióp, họ dám nói: “Tôi chẳng hề lìa bỏ các điều răn của môi Ngài, vẫn vâng theo lời của miệng Ngài hơn là ý muốn lòng tôi” (Giop 23:12). Giống như Martin Luther, trước nghị viện của Hoàng đế, họ dám nói: “Lương tâm của tôi bị Lời của Đức Chúa Trời bắt phục”. Họ không đi chệch khỏi khuôn mẫu của sự vâng phục, nhơn đó minh chứng tình yêu chân thật của họ đối với Đấng Christ (Gi14:23-24; 15:13-14).

Đấng Christ đã khen ngợi thêm hội chúng Phi-la-đen-phi vì đã không chối bỏ danh của Ngài, bất chấp những áp lực mà họ phải đối mặt với để làm như vậy. Họ vẫn giữ lòng trung thành vô luận họ phải trả giá nào. Kh 14:12 mô tả các thánh đồ trong Cơn Đại Nạn, họ từ chối không chịu nhận lấy dấu của con thú: “Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus“. Giống như họ, Hội thánh Phi-la-đen- phi sẽ không từ bỏ đức tin của mình.

Sau cùng, Đấng Christ đã khen ngợi Hội thánh Phi-la-đen-phi bởi vì các thuộc viên của nó vẫn giữ lời nhịn nhục của Ngài. Bản dịch NIV làm cho ý nghĩa của Đấng Christ được sáng tỏ thêm: “Các ngươi đã giữ mạng lịnh của ta phải nhịn nhục chịu đựng”. Cơ đốc nhân ở Phi-la-đen-phi đã trung tín nhịn nhục qua mọi thử thách và khó khăn của họ.

Sự kiên trì bền bỉ đã đánh dấu đời sống trên đất của Chúa Jêsus (He 12:2-4) đã được nêu gương cho hết thảy Cơ đốc nhân. Phaolô viết cho người thành Tê-sa-lô-ni-ca: “Nguyền xin Chúa soi dẫn lòng anh em tới đến sự yêu mến Đức Chúa Trời, và sự nhịn nhục của Đấng Christ!“ (IITe 3:5). Cả hai: mạng lịnh và tấm gương của Đấng Christ đều tác động các Cơ đốc nhân phải nhịn nhục chịu đựng. Thật vậy, sự nhịn nhục là một phương diện thiết yếu của đức tin cứu rỗi (Mathiơ 10:22).

Vì cớ sự trung tín của nó, Đức Chúa Jêsus Christ đã lập với Hội thánh Phi-la-đen-phi một số lời hứa đáng kinh ngạc. Thứ nhất, Ngài đặt trước mặt họ một cánh cửa mở mà không ai có thể đóng lại được. Sự cứu rỗi của họ là an toàn; lối vào của họ cả hai: các ơn phước cứu rỗi bởi ân điển và vào vương quốc của Đấng Mêsi trong tương lai của Đấng Christ đã được bảo đảm. Bức tranh nói tới việc Đấng Christ mở cửa cũng tiêu biểu cho việc Ngài ban các cơ hội phục vụ cho các tín đồ của Hội thánh Phi-la-đen-phi. Ở các chỗ khác trong Kinh Thánh, một cánh cửa mở mô tả sự tự do rao giảng Tin lành. Việc giải thích các chương trình đi lại của mình cho người Côrinhtô, Phaolô báo cho họ biết: “Nhưng tôi sẽ ở lại thành Ê-phê-sô cho đến lễ Ngũ tuần, vì tại đó có một cái cửa lớn mở toang ra cho công việc tôi, lại có nhiều kẻ đối địch” (ICo 16:8-9). Trong thư thứ hai gửi cho họ, ông viết: “Lại khi tôi đã đến thành Trô-ách đặng giảng Tin Lành của Đấng Christ, dầu Chúa đã mở cửa cho tôi ở đó” (IICo 2:12). Đối với người thành Cô-lô-se Phaolô viết: “Phải bền đổ và tỉnh thức trong sự cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào. Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Đức Chúa Trời mở cửa cho sự giảng đạo” (Co 4:2-3). Vị trí chiến lược thành phố của họ đã cung ứng cho các Cơ đốc nhân ở Phi-la-đen-phi với một cơ hội lo rao giảng Tin lành.

Câu 9 ghi lại lời hứa thứ hai do Đức Chúa Jêsus Christ lập với Hội thánh Phi-la-đen-phi: “Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi”. Như trường hợp ở Si-miệc-nơ (đối chiếu 2:9), Cơ đốc nhân ở Phi-la-đen-phi đối mặt với sự thù địch từ những người Do-thái vô tín. Về sau, Ignatius tranh luận với một số người Do-thái thù địch trong chuyến viếng thăm của ông đến Phi-la-đen-phi. Vì cớ họ chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ trong vai trò Đấng Mê-si, nên hết thảy họ không phải là hội chúng của Đức Chúa Trời, mà là hội chúng của quỉ Sa-tan. Mặc dù họ xưng rằng họ là người Do-thái, lời xưng nhận ấy là một lời nói dối. Về mặt chủng tộc, văn hoá, và nghi thức, họ là người Do-thái, nhưng về mặt thuộc linh thì họ không phải là người Do-thái. Phao-lô xác định một người Do-thái đích thực ở Ro 2:28-29: “Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì; nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời” (Ro 9:6-7).

Đáng ngạc nhiên thay, Đấng Christ đã hứa rằng một số người Do-thái đang bắt bớ các Cơ đốc nhân tại Phi-la-đen-phi sẽ đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi. Sấp mình xuống dưới chơn ai đó mô tả sự thấp hèn, thất bại hoàn toàn và đầu phục. Những kẻ thù của Hội thánh Phi-la-đen-phi sẽ bị đánh bại, bị hạ bệ một cách hoàn toàn. Hình ảnh này được rút ra từ Cựu Ước, mô tả cái ngày trong tương lai khi các dân Ngoại vô tín sẽ sấp mình xuống trước số dân sót Y-sơ-ra-ên tin theo Chúa (đối chiếu Es 45:14; 49:23; 60:14). Sự trung tín của Hội thánh Phi-la-đen-phi sẽ được tưởng thưởng bằng ơn cứu rỗi của một số người Do-thái đang bắt bớ họ.

Các Hội thánh trung tín khác trong lịch sử cũng được Chúa cho phép tiếp cận với người Do-thái với Tin lành nói tới Đấng Mê-si, là Đức Chúa Jêsus Christ. Rồi trong tương lai, ngày sẽ đến khi “cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu” (Ro 11:26), khi Đức Chúa Trời “đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng” (Xa 12:10).

Câu 10 có chứa lời hứa cuối cùng với Hội thánh Phi-la-đen-phi: Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất. Bởi vì các tín đồ ở Phi-la-đen-phi đã thành công vượt qua được rất nhiều thử nghiệm, Chúa Jêsus đã hứa sẽ buông tha họ khỏi phần kiểm tra cuối cùng.

Bản chất sâu rộng của lời hứa đó kéo dài vượt ra ngoài hội chúng Phi-la-đen-phi bao gồm tất cả các Hội thánh trung tín trong lịch sử. Câu nầy hứa rằng Hội thánh sẽ được giải cứu khỏi Kỳ Đại Nạn, nhơn đó hỗ trợ sự Cất Lên trước khi có cơn đại nạn. Sự Cất Lên là chủ đề của ba phân đoạn trong Tân Ước (Gi 14:1-4; ICo 15:51-54; ITe 4:13-17), không một phân đoạn nào trong số đó nói đến sự phán xét, mà thay vì thế nói tới Hội thánh được cất lên trời. Có ba nhận định về thời điểm Cất Lên liên quan đến Kỳ Đại Nạn: nó đến vào cuối Kỳ Đại Nạn (lý thuyết hậu Đại nạn), giữa kỳ Đại nạn (lý thuyết giữa kỳ Đại nạn) và nhận định dường như được phân đoạn Kinh Thánh nầy hỗ trợ, rằng Sự Cất Lên diễn ra trước Kỳ Đại Nạn (lý thuyết trước kỳ Đại nạn).

Một vài khía cạnh của lời hứa tuyệt vời này đáng phải lưu ý. Thứ nhất, phần thử nghiệm hãy còn trong tương lai. Thứ hai, phần thử nghiệm dành cho một thời điểm nhất định, hạn chế; Chúa Jêsus mô tả thời điểm ấy là giờ thử thách. Thứ ba, đó là một thử nghiệm sẽ phơi bày mọi người ra vì họ vốn có thật vậy. Thứ tư, phần thử nghiệm có phạm vi toàn cầu, một khi nó sẽ đến trong khắp thế gian. Sau cùng, và quan trọng nhất, mục đích của nó là để thử những người ở trên đất — một cụm từ được sử dụng như thuật ngữ kỹ thuật trong sách Khải Huyền nói tới hạng người vô tín (đối chiếu 6:10; 8:13; 11:10; 13:8, 12, 14; 14: 6; 17:2, 8). Giờ thử thách là Tuần thứ bảy mươi của Đaniên (Da 9:25-27), thời điểm rối rắm của Giacốp (Gie30:7), kỳ đại nạn bảy năm. Chúa hứa sẽ giữ Hội thánh Ngài ở ngoài giờ thử thách trong tương lai sẽ đến giáng trên kẻ vô tín.

Những kẻ vô tín một là vượt qua thử thách bằng cách ăn năn, hoặc thất bại do từ chối không chịu ăn năn. Kh 6:9-11; 7:9-10, 14; 14:4; và 17:14 mô tả những người ăn năn trong kỳ Đại Nạn và được cứu, do đó vượt qua thử thách; Kh 6:15-17; 9:20; 16:11; và 19:17-18 mô tả những kẻ từ chối không chịu ăn năn, vì thế thất bại trước thử thách, rồi bị rủa sã.

Đã có nhiều tranh cãi về ý nghĩa của cụm từ t¯ere¯o ek (khỏi). Người nào lập luận rằng Hội thánh sẽ trải qua Kỳ Đại Nạn cho rằng cụm từ này có nghĩa là bảo toàn giữa một tình trạng khẫn cấp. Họ tin rằng Hội thánh sẽ trải qua những sự phán xét của kỳ đại nạn và Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ Hội thánh ở giữa các sự phán xét kia, hầu cho Hội Thánh nhơn đó nổi bật lên thành công vào lúc cuối giờ thử thách. Tuy nhiên, nhận định đó không thích ứng trên nền tảng ngôn ngữ lẫn Kinh thánh. Ý nghĩa cơ bản của giới từ ek là “khỏi”, “ra khỏi” hoặc “tách ra”. Nếu Chúa muốn truyền đạt rằng Hội thánh sẽ được bảo toàn ở giữa Kỳ Đại Nạn, các giới từ en (“trong”) hoặc dia (“qua”) sẽ thích hợp hơn. En được sử dụng ba lần với động từ t¯ere¯o trong Tân Ước (Cong 12:5; IPhi 1:4; Giuđe 21) và Eis một lần (Cong 25:4), luôn luôn ám chỉ sự tồn tại trước đó ở bên trong với một nhận định liên tục ở trong. t¯ere¯o với ek ngụ ý ngược lại: sự tồn tại liên tục ở bên ngoài.

Thời điểm duy nhất khác mà cụm từ t¯ere¯o ek xuất hiện trong Kinh Thánh là ở Gi17:15. Trong lời cầu nguyện với tư cách Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Ngài, Chúa Jêsus đã cầu nguyện: “Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác“. Chắc chắn Ngài không cầu xin các tín hữu được bảo toàn bên trong quyền lực của Sa-tan, vì các tín đồ đã được “cứu khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài“ (Co 1:13). Cơ đốc nhân là những người đã xây “từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời“ (Cong 26:18). IGi 5:19 chép rằng đấy là thế giới chưa được tái sanh đang nằm trong quyền lực của Sa-tan, chớ không phải những người tin Chúa.

Ý nghĩa của t¯ere¯o ek trong Gi 17:15, được giữ kín hoàn toàn, lập luận mạnh mẽ về một ý nghĩa tương tự trong Kh 3:10. Sứ đồ Giăng đã viết cả hai phân đoạn, và cả hai đều là các trích dẫn trực tiếp của Đức Chúa Jêsus Christ. Để giải thích t¯ere¯o ek là một lời hứa bảo toàn ở giữa Kỳ Đại Nạn chỉ ra một khó khăn khác: Hội thánh Phi-la-đen-phi chưa hề ở trong Kỳ Đại Nạn, là điều hãy còn ở trong cuộc tương lai.

Một sự phản đối rõ ràng khác trong việc lý giải t¯ere¯o ek là lời hứa bảo toàn ở giữa Kỳ Đại Nạn, ấy là các tín đồ trong thời điểm ghê khiếp đó sẽ không được bảo toàn. Thực vậy, nhiều người sẽ tuận đạo (6:9-11; 7:9-14), dẫn đến kết luận rằng việc hứa hẹn sự bảo toàn là vô nghĩa nếu các tín đồ đối mặt với cùng một số phận y như hạng tội nhân trong suốt Kỳ Đại Nạn.

Có người cho rằng lời hứa giải cứu là chỉ khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong suốt Kỳ Đại Nạn. Nhưng một lời hứa cho rằng Đức Chúa Trời sẽ không giết chết các tín đồ, song sẽ cho phép Sa-tan và Anti-christ làm như vậy sẽ cung ứng sự an ủi nho nhỏ cho Hội thánh chịu khổ Phi-la-đen-phi.

Sự đến mà Đấng Christ đề cập tới khác với sự đến được hứa cho nhiều Hội thánh khác trong 7 Hội thánh (thí dụ, 2:5, 16; 3:3). Những lời hứa trước đó đều là những lời cảnh cáo về việc xét đoán tạm thời nhắm vào các hội chúng phạm tội (đối chiếu Cong 5:1-11; ICo 11:28-30). Tuy nhiên, sự đến được nói tới ở đây là để đưa giờ thử thách lên đến đỉnh điểm trong lần đến thứ hai của Chúa chúng ta. Chính sự đến của Đấng Christ để giải cứu Hội thánh (đối chiếu IITe 2:1), chớ không phải để đem sự phán xét đến cho nó. Mau kíp mô tả sự đến sắp xảy ra của Đấng Christ vì Hội thánh của Ngài; sự ấy có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào. Đáp ứng của từng người tin Chúa đáng phải là: “A-men, lạy Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến!” (22:20).

MẠNG LỊNH

hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi (Kh 3:11b)

Vì cớ sự tái lâm sắp xảy ra của Chúa vì Hội thánh của Ngài, người tin Chúa phải giữ lấy điều ngươi có. Các thuộc viên của Hội thánh Phi-la-đen-phi đã sống trung tín và trung thành với Đấng Christ; Ngài truyền cho họ phải giữ luôn như thế. Người nào bền đỗ cho đến cuối cùng nhơn đó minh chứng tính chơn thật ơn cứu rỗi của họ (Mat 10:22; 24:13).

Sự thực cho thấy rằng các tín đồ được bảo đảm cho đến đời đời vì cớ quyền phép của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, các phương tiện mà nhờ đó Ngài bảo đảm cho họ là bằng cách tiếp trợ cho tín đồ với thứ đức tin biết nhịn nhục. Cơ đốc nhân được cứu bởi quyền phép của Đức Chúa Trời, nhưng không được tẻ tách khỏi đức tin chắc chắn và thường trực của họ. Phaolô viết trong Co 1:22-23 rằng: “nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà khiến anh em hòa thuận, đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được; miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe”. Theo IGi 2:19, những ai từ bỏ đức tin cho thấy rằng họ chưa bao giờ thực sự được cứu bắt đầu với: “Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy”.

Lời hứa của Đấng Christ cho người nào nhịn nhục cách trung tín là không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi (đối chiếu Gia 1:12). Kh 2:10 xác định mão triều thiên nầy là “mão triều thiên của sự sống”, hay như bản văn Hy-lạp sát nghĩa đọc là: “mão triều thiên, ấy là sự sống”. Mão triều thiên, hay phần thưởng, cho những ai bền đỗ cách trung tín cho đến cuối cùng là sự sống đời đời kèm theo với tất cả các phần thưởng của cuộc thi (IIGi 1:8). IITi 4:8 mô tả đó là mão triều thiên công bình, và IPhi 5:4 là mão triều thiên vinh hiển. Trong tình trạng được tôn vinh hiển của chúng ta, chúng ta sẽ sống hoàn toàn công bình, và như thế có khả năng phản ảnh sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Những người nào mà sự nhịn nhục trung tín của họ đánh dấu họ là con cái thực của Đức Chúa Trời không bao giờ sợ mất đi ơn cứu rỗi của họ.

MƯU LUẬN

Kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh! (Kh 3:12-13)

Khi Ngài kết luận bức thư gửi cho Hội thánh trung tín tại Phi-la-đen-phi, Đấng Christ hứa bốn ơn phước đời đời cho người nào thắng (một danh xưng khác cho một Cơ Đốc nhân, IGi 5:5).

Lời hứa đầu tiên, ấy là Đấng Christ sẽ cho người làm trụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi nó nữa. Một trụ tiêu biểu cho sự ổn định, thường trực và bất động. Cột trụ cũng có thể tiêu biểu cho danh dự; trong các đền thờ ngoại giáo, chúng thường được chạm khắc theo một phương thức như thế để tôn vinh một vị thần đặc biệt. Lời hứa diệu kỳ của Đấng Christ lập với những người tin Chúa, ấy là họ sẽ có một nơi chốn danh dự đời đời trong đền Đức Chúa Trời ta (thiên đàng). Đối với những người thường chạy trốn khỏi thành phố vì cớ động đất và kẻ thù, lời hứa cho rằng họ sẽ không ra khỏi thiên đàng vốn được hiểu là an ninh trong sự vinh hiển đời đời.

Lời hứa thứ hai của Đấng Christ cho kẻ nào thắng, ấy là Ngài sẽ viết danh của Đức Chúa Trời ta lên trên người. Điều đó mô tả quyền làm chủ, ấn định rằng hết thảy Cơ đốc nhân chơn thật đều thuộc về Đức Chúa Trời. Nó cũng nói về mối quan hệ cá nhân mật thiết mà chúng ta có với Ngài cho đến đời đời.

Thứ ba, Đấng Christ hứa sẽ viết lên người tin Chúa danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống. Cơ đốc nhân có quyền công dân đời đời trong thành phố thủ đô của thiên đàng, Jerusalem mới, được mô tả rất dài ở Khải huyền 21. Đây là một lời hứa khác về sự an ninh, an toàn và vinh hiển.

Cuối cùng, Đấng Christ hứa với những người tin Chúa danh mới của Ngài. Danh của Đấng Christ tiêu biểu cho sự đầy dẫy của Thân Vị Ngài. Trên thiên đàng, những người tin Chúa sẽ “thấy Ngài như Ngài vốn có thật vậy” (IGi 3: 2), và bất cứ điều gì chúng ta đã biết về Ngài sẽ mờ nhạt trong chỗ thực tại chúng ta sẽ gặp Ngài trong đó. Danh mới mà bởi đó chúng ta sẽ có đặc ân kêu cầu Ngài sẽ phản ánh sự mặc khải vinh hiển về Thân Vị của Ngài.

Lời khuyên Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh kết thúc bảy thư tín. Những người tin Chúa phải chú ý tới các lẽ thật được tìm thấy trong mỗi bức thư, một khi bảy Hội thánh tiêu biểu cho các loại Hội thánh đã tồn tại xuyên suốt lịch sử. Bức thư gửi Hội thánh trung tín Phi-la-đen-phi tỏ ra rằng Đức Chúa Trời toàn năng, thánh khiết, chơn thật, tối cao đổ ra các ơn phước của Ngài trên các Hội thánh giữ lòng trung thành với Ngài. Ngài sẽ chúc phước cho họ với những cánh cửa mở ra cho công cuộc truyền giáo, cứu rỗi đời đời, các ơn phước của vương quốc, và sự giải cứu ra khỏi giờ thử thách lớn lao xảy đến trên đất. Sau cùng, Ngài sẽ mang hết thảy những ai bền đỗ trong đức tin của mình đến phước hạnh đời đời của thiên đàng, ở đó Ngài sẽ tỏ chính mình Ngài ra thật trọn vẹn cho họ thấy. Lời hứa của những phước hạnh phong phú đó sẽ khích lệ từng hội thánh và từng Cơ đốc nhân noi theo tấm gương trung tín của Hội thánh Phi-la-đen-phi.

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme