Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

16 – Những Kẻ Sống Sót Trong Cơn Thạnh Nộ của Đức Chúa Trời (Kh 7:1-8)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

Sau việc ấy, tôi thấy bốn vị thiên sứ đứng ở bốn góc đất, cầm bốn hướng gió lại, hầu cho không gió nào thổi trên đất, trên biển hay là trên cây nào. Tôi lại thấy một vị thiên sứ khác, từ phía mặt trời mọc mà lên, cầm ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Người cả tiếng kêu bốn vị thiên sứ đã được quyền làm hại đất cùng biển, và bảo rằng: Chớ làm hại đất, biển và cây cối, cho đến chừng nào chúng ta đã đóng ấn trên trán những tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta. Tôi lại nghe số người được đóng ấn là: Mười bốn vạn bốn ngàn người được đóng ấn từ trong các chi phái dân Y-sơ-ra-ên; Trong chi phái Giu-đa, một vạn hai ngàn người được đóng ấn; Trong chi phái Ru-bên, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Gát, một vạn hai ngàn; Trong chi phái A-se, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Nép-ta-li, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Ma-na-se, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Si-mê-ôn, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Lê-vi, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Y-sa-ca, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Sa-bu-lôn, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Giô-sép, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Bên-gia-min, một vạn hai ngàn đều được đóng ấn (Kh 7:1-8)

Chương đứng trước Khải huyền (6) nhìn vào thời điểm thảm họa chưa từng thấy, khủng bố không lường, và giết chóc không thể tưởng tượng được nằm chờ cả thế gian. Thường được gọi là Kỳ Đại Nạn, đó sẽ là thời điểm khi Đức Chúa Jêsus Christ lấy lại địa cầu khỏi kẻ chiếm đoạt, là Sa-tan. Hành động đó được đặc trưng trong sách Khải huyền bằng cách mở ra cuộn sách có đóng bảy cái ấn. Khi Ngài mở từng cái ấn ra, một sự phán xét thiêng liêng mới được đổ ra trên đất. Những sự phán xét của năm cái ấn đầu tiên rất là nghiêm trọng. Nhưng các tai vạ gắn với cái ấn thứ sáu (khởi sự Ngày của Đức Giê-hô-va) sẽ trỗi hơn năm cái ấn đầu tiên rất là nhiều. Và những sự phán xét của cái ấn thứ bảy, bao gồm những sự phán xét thậm chí còn mạnh hơn nữa qua tiếng kèn và cái bát, sẽ là điều tồi tệ nhất trong mọi sự.

Thế gian sẽ chối không công nhận rằng các tai vạ của năm cái ấn đầu tiên là sự phán xét của Đức Chúa Trời — bất chấp những lời cảnh cáo từ những người tin Chúa là chúng đến từ Đức Chúa Trời. Nhưng các biến cố của cái ấn thứ sáu sẽ rất khủng khiếp đến nỗi mọi người buộc phải công nhận chúng là sự phán xét của Đức Chúa Trời. Trong nỗi kinh hoàng của họ, ở giữa mọi nỗ lực hư không của họ hầu tránh né sự hiện diện ghê khiếp của Đức Chúa Cha và Chiên Con, ai nấy sẽ gào lên: “Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?” (6:17).

Chương 7 hình thành một tiểu đoạn nằm trong dấu ngoặc đơn giữa cái ấn thứ sáu (6:12-17) và cái ấn thứ bảy (8:1) để trả lời thắc mắc đó, giới thiệu hai nhóm người, họ sẽ còn sống qua cơn thạnh nộ của sự phán xét thiêng liêng. Thứ nhất, những người được mô tả trong các câu 1-8, là những nhà truyền đạo người Do-thái, họ sẽ được bảo toàn trên đất. Họ sẽ sống sót sau tai vạ thiêng liêng phát ra bởi những sự phán xét qua cái ấn, tiếng kèn và cái bát. Đức Chúa Trời cũng sẽ bảo vệ họ khỏi những nỗ lực giết chóc của Anti-christ và tay sai của hắn hầu quét sạch những người tin theo Đức Chúa Trời chơn thật. Sau khi sống sót qua cuộc chiến, đói kém, các tai vạ trong thiên nhiên chưa từng có, bệnh tật, lây lan, tội lỗi không kiểm soát, và sự bắt bớ ghê khiếp của Kỳ Đại Nạn, họ sẽ bước vào sống trong vương quốc ngàn năm. Nhóm thứ hai tránh thoát cơn thạnh nộ thiêng liêng (các câu 9-17) là những người sẽ phải tuận đạo và nhơn đó được dẫn vào sự yên nghỉ hạnh phước của thiên đàng, ở đó họ sẽ được bảo toàn. Sau các biến cố khủng khiếp của cái ấn thứ sáu, và trước khi mở ra cái ấn thứ bảy trong chương 8, Đức Thánh Linh cung ứng chương này như là một khúc dạo để cho độc giả làm chủ được hơi thở của mình. Đây cũng là một sự nhắc nhớ rằng ở giữa cơn thạnh nộ của Ngài, Đức Chúa Trời còn nhớ đến sự thương xót (đối chiếu Ha 3:2).

Cặp mặc thị nầy tương phản với sự chuẩn bị của những người tin Chúa, họ sẽ được cứu ra khỏi cơn thạnh nộ đó, với sự hoảng loạn và tàn diệt những kẻ không tin Chúa, họ sẽ chẳng sống nổi đâu. ITe 5:3 tuyên bố rằng: “tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu”. Trong thư thứ hai của ông gửi cho người thành Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô nói thêm: “và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi, trong khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài” (IITe 1:7-9). Sau đó, trong bức thư, vị sứ đồ đã viết: “Ấy vì thế mà Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều dối giả, hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, điều bị phục dưới sự phán xét của Ngài” (IITe 2:11-12). Kinh Thánh không cung ứng một hy vọng nào cho bất kỳ kẻ nào sống bất kỉnh trong Ngày đó sẽ thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời. Ngày của Đức Giê-hô-va cuối cùng sẽ tiêu diệt hết thảy kẻ bất kỉnh không nhìn biết Chúa và không vâng theo lẽ Tin lành của Đấng Christ.

Đức Chúa Trời sẽ bảo toàn dân sự của Ngài trong thời điểm phán xét là lẽ đạo quen thuộc trong Kinh Thánh. David hả hê trong đắc thắng: “Người công bình kêu cầu, Đức Giê-hô-va bèn nghe, và giải cứu người khỏi các sự gian truân. Đức Giê-hô-va ở gần những người có lòng đau thương, và cứu kẻ nào có tâm hồn thống-hối. Người công bình bị nhiều tai họa, nhưng Đức Giê-hô-va cứu người khỏi hết” (Thi 34:17-19). Trong Thi 91:3-10 tác giả Thi thiên nhắc lại lời hứa bảo toàn của Đức Chúa Trời đối với người tin kính:

Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim, và khỏi dịch lệ độc-hại. Ngài sẽ lấy lông Ngài mà che chở ngươi, và dưới cánh Ngài, ngươi sẽ được nương náu mình; Sự chân thật Ngài là cái khiên và cái can của ngươi. Ngươi sẽ chẳng sợ hoặc sự kinh khiếp ban đêm, hoặc tên bay ban ngày, hoặc dịch lệ lây ra trong tối tăm, Hay là sự tàn diệt phá hoại đang lúc trưa. Sẽ có ngàn người sa ngã bên ngươi, và muôn người sa ngã bên hữu ngươi. Song tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi. Ngươi chỉn lấy mắt mình nhìn xem, và sẽ thấy sự báo trả cho kẻ ác. Bước ngươi đã nhờ Đức Giê-hô-va làm nơi nương náu mình, và Đấng Chí cao làm nơi ở mình, nên sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến ngươi, cũng chẳng có ôn-địch nào tới gần trại ngươi.

Malachi mô tả sự yên ủi của Đức Chúa Trời cho lo sợ mình sẽ bị quét đi bởi những lần phán xét trong Ngày của Đức Giê-hô-va:

Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình. Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ phân biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài. Vì nầy, ngày đến, cháy như lò lửa. Mọi kẻ kiêu ngạo, mọi kẻ làm sự gian ác sẽ như rơm cỏ; Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ngày ấy đến, thiêu đốt chúng nó, chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành. Nhưng về phần các ngươi là kẻ kính sợ danh ta, thì mặt trời công bình sẽ mọc lên cho, trong cánh nó có sự chữa bịnh; các ngươi sẽ đi ra và nhảy nhót như bò tơ của chuồng …

Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến. Người sẽ làm cho lòng cha trở lại cùng con cái, lòng con cái trở lại cùng cha, kẻo ta đến lấy sự rủa sả mà đánh đất nầy” (Ma3:16-4:2, 5-6).

Khi Đức Chúa Trời huỷ diệt thế gian bởi Nạn Lụt, Ngài đã bảo toàn Nô-ê cùng gia đình của ông. Khi Ngài huỷ diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, Ngài đã bảo toàn Lót cùng các con gái của ông. Khi Ngài tiêu diệt thành Giê-ri-cô, Ngài đã bảo toàn Ra-háp cùng người nhà của nàng. Và khi Ngài huỷ diệt xứ Ai-cập, Ngài đã bảo toàn dân tộc Do-thái.

Kỳ Đại Nạn được bày ra để trở thành một thời điểm phán xét, tai vạ và chết chóc. Nhưng nó cũng sẽ là thời điểm của ơn cứu rỗi. Một số trong những người được cứu chuộc ra khỏi cơn Đại Nạn đã được nhắc đến rồi gắn với cái ấn thứ năm (6:9-11). Họ là những người tuận đạo, bị giết vì cớ sự trung tín của họ đối với Lời của Đức Chúa Trời và với Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu 7:9-17). Nhiều người tin Chúa chắc chắn sẽ chết từ những chiến cuộc, đói kém và các tai vạ (6:3-8, 12-14) mà Đức Chúa Trời giáng ra trên đất. Vô số những người khác sẽ ngã chết như một hậu quả sự bắt bớ của Anti-christ (13:7-10; 14:12-13; 17:6; 20:4). Tuy nhiên, những cái chết về phần xác của họ không phải là kết quả cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (ITe 1:10; 5:9) hơn bất kỳ tín đồ nào ngã chết hôm nay. Những sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên thế gian và sự bắt bớ của Anti-christ chỉ là những phương tiện bởi đó Đức Chúa Trời đưa họ vào trong sự hiện diện của Ngài.

Tuy nhiên, có nhiều người sẽ không chết đâu, mà sẽ sống sót để sống trong vương quốc ngàn năm. Chúa Jêsus đã dạy dỗ lẽ thật ấy trong phần mô tả của Ngài về sự phán xét chiên và dê (Mat 25:31…). Dê (người chưa được cứu) sẽ bị quăng vào địa ngục (các câu 41–46), còn chiên (người đã được cứu) Chúa Jêsus sẽ phán: “Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất” (câu 34). Những người tin Chúa nào còn sống lúc sự tái lâm của Chúa sẽ sống trong Vương quốc trần gian của Ngài.

Phần nhiều người trong số những kẻ bước vào sống trong vương quốc ngàn năm sẽ là các dân Ngoại (đối chiếu Es 2:2-4; Mi 4:1-5; Xa 8:20-23). Nhưng Kỳ Đại Nạn cũng là thời điểm cứu rỗi cho cả dân Do-thái, các vị tiên tri cũng có nhắc tới. Phần mô tả chi tiết nhất về biến cố đó được thấy trong lời tiên tri của Xachari:

“Ta sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu long. Trong ngày đó, sẽ có sự thương khóc lớn tại Giê-ru-sa-lem, như là sự thương khóc của Ha-đát-Rim-môn ở trong đồng bằng Mê-ghi-đô. Đất nầy sẽ thương khóc, mỗi họ riêng phần mình: họ của nhà Đa-vít riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Na-than riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Lê-vi riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; Họ Si-mê-i riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; phàm những họ còn sót lại, mỗi họ riêng ra, và những vợ chúng nó riêng ra. Trong ngày đó sẽ có một suối mở ra cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, vì tội lỗi và sự ô uế…

“Đức Giê-hô-va phán rằng: Xảy ra trong khắp đất, hai phần của nó sẽ bị diệt và mất song một phần ba sẽ được còn lại. Ta sẽ đem một phần ba ấy vào lửa, ta sẽ luyện nó như luyện bạc, thử nó như thử vàng; chúng nó sẽ kêu cầu danh ta, và ta sẽ nhậm lời nó; ta sẽ phán rằng: Ay là dân ta đây. Và nó sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời tôi” (Xa 12:10-13:1, 8-9)

Đây là thời điểm mà sứ đồ Phaolô nhắc tới khi ông viết: “vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: ‘Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp” (Ro 11:26).

Kh 7:1-8 giới thiệu nhóm người sống sót (về các chỗ khác hãy xem 12:16-17), được bảo toàn ở giữa lốc xoáy của Kỳ Đại Nạn, họ đã được chuộc vào một thời điểm nào đó, giống như đòn chí mạng sau cùng, được biệt riêng ra cho sự phục vụ đặc biệt và được ban cho sự bảo hộ đặc biệt.

Sự mặc thị của Giăng về nhóm người đặc biệt nầy có ba đặc điểm: cơn thạnh nộ bị kềm lại, các thánh đồ được đóng ấn, và dân Do-thái được xác định.

CƠN THẠNH NỘ BỊ KỀM LẠI

Sau việc ấy, tôi thấy bốn vị thiên sứ đứng ở bốn góc đất, cầm bốn hướng gió lại, hầu cho không gió nào thổi trên đất, trên biển hay là trên cây nào. (Kh 7:1)

Cụm từ sau việc ấy và “sau những việc nầy”, thường được nối theo sau bởi một hình thức của động từ eidon (“thấy”), được sử dụng mấy lần trong sách Khải huyền để giới thiệu một sự mặc thị mới (đối chiếu 4:1; 7:1; 7:9; 15:5; 18:1; 19:1, “đã nghe”). Cách sử dụng sau việc ấy trong phân đoạn nầy cho thấy rằng sự hiện thấy cái ấn thứ sáu đã kết thúc và Giăng sắp sửa nhìn thấy một sự mặc thị mới. Điều nầy cũng cho thấy rằng sự mặc thị mới nầy mô tả các biến cố xảy đến sau cái ấn thứ sáu theo thứ tự niên đại. Giờ đây, bối cảnh nhấn mạnh từ sự phán xét giáng trên kẻ bất kỉnh đến sự bảo hộ đặc biệt dành cho người tin kính.

Khi sự mặc thị mở ra, trước tiên Giăng nhìn thấy bốn vị thiên sứ. Các vị thiên sứ thường được gắn trong Kinh thánh với sự phán xét của Đức Chúa Trời (đối chiếu 8:2…; 9:1…; 11:15–19; 14:15…; 15:1…; 16:1…; 18:1…; 19:17-18; IISa 24:16-17; IIVua 19:35; Thi 78:49; Mat 13:39-42, 49-50; 16:27; 25:31; IITe 1:7-8). Bốn vị này được ban cho quyền hạn trên các yếu tố thiên nhiên (đối chiếu 14:18; 16:5); họ được nhìn thấy khi đang đứng ở bốn góc đất, cầm bốn hướng gió lại, (đối chiếu Gie 49:36; Mat 24:31). Những kẻ chuyên hoài nghi, họ không tưởng được rằng phần tham khảo theo thể thơ của Giăng đối bốn góc đất phản ánh một khái niệm nguyên thủy cho rằng trái đất thì phẳng và vuông. Nhưng cụm từ thực sự đề cập đến toàn bộ địa cầu bằng cách chỉ ra bốn điểm chính trên bản đồ (đông, tây, nam, bắc), từ các vị thế đó bốn hướng gió (nghĩa là, các ngọn gió) thổi trên đất bắt nguồn. Tiến sĩ Henry M.Morris bình luận:

Từ lâu câu này đã bị chế giễu như là phản ánh một khái niệm “tiền-khoa học” về cấu trúc địa cầu, một khái niệm xem địa cầu là bằng phẳng với bốn góc. . . . Trong thuật ngữ kỷ thuật hiện đại, nó tương đương với điều mà một thuỷ thủ hoặc nhà địa chất học gọi là bốn góc tọa độ của la bàn, hoặc bốn hướng. Điều này cũng được biểu hiện rõ ràng qua việc nhắc tới “bốn hương gió”, theo cách sử dụng thông thường, là những cơn gió theo hướng đông, tây, nam, bắc.

Các phép đo trắc địa hiện đại chính xác trong những năm gần đây đã chứng minh rằng địa cầu thực sự có bốn “góc”. Đó là những chỗ lồi tạo ra từ “geoid” cơ bản, nghĩa là hình cầu cơ bản của địa cầu. Trái đất không thực sự một hình cầu hoàn hảo, nhưng hơi dẹt ở hai cực. Chỗ xích đạo phồng ra của nó có thể được hình thành bởi sự quay của trục trái đất, và bốn góc của nó nhô ra từ đó. (The Revelation [Wheaton, Il .: Tyndale, 1983], 126)

Từ những vị trí chủ chốt trên địa cầu, các thiên sứ mạnh sức này bảo đảm rằng không gió nào thổi trên đất, trên biển hay là trên cây nào. Bốn ngọn gió thường được kết hợp trong Kinh thánh với sự phán xét của Đức Chúa Trời (đối chiếu Gie 49:36; Da 7:2; Os 13:15). Trong khoảng thời gian diễn ra cuộc thảo luận được mô tả trong chương 7, sự phán xét sẽ bị cầm lại khi các thiên sứ ngắt động cơ thiết yếu của bầu khí quyển địa cầu. Sẽ không có một ngọn gió, dù là gió nhẹ, không có sóng vỗ vào bờ, không có chuyển động của những đám mây trên bầu trời; mọi sự sẽ đứng yên một chỗ. Đó là một sự bày tỏ đáng kinh ngạc về sức mạnh, một khi

lưu thông khí quyển là một động cơ mạnh mẽ, được điều khiển bởi năng lượng từ mặt trời và từ vòng quay của trái đất. Năng lượng lớn lao gắn với hoạt động này đặc biệt trở nên rõ ràng khi chúng được hiển thị dưới dạng các bão tố, lốc xoáy và cuồng phong. Những cơn gió nầy trên địa cầu làm cho cuộc sống trên đất ra khả thi qua chu kỳ thủy văn, việc vận chuyển nước từ đất liền đến đại dương để tưới địa cầu. Tuy nhiên, các thiên sứ — chỉ có bốn — đã ngắt động cơ khổng lồ này. (Morris, The Revelation Record, 126)

Cầm lại ra từ chữ krate¯o, một từ ngữ mạnh mẽ chỉ ra các ngọn gió đang phấn đấu để luồn ra khỏi chỗ kềm chế chúng. Sự kềm chế của thiên sứ đối với gió cũng biểu hiện việc cầm giữ các dịch lệ gắn với những sự phán xét qua tiếng kèn thổi (8:5…). Vì thế, cụm từ kế tiếp nói tới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời bị cầm lại trong một thời gian ngắn. Các ngọn gió phán xét đang thâu sức mạnh lại, không bao lâu nữa sẽ được thả ra.

CÁC THÁNH ĐỒ ĐƯỢC ĐÓNG ẤN

Tôi lại thấy một vị thiên sứ khác, từ phía mặt trời mọc mà lên, cầm ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Người cả tiếng kêu bốn vị thiên sứ đã được quyền làm hại đất cùng biển, và bảo rằng: Chớ làm hại đất, biển và cây cối, cho đến chừng nào chúng ta đã đóng ấn trên trán những tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta” (Kh 7:2-3)

Lý do cho sự kềm chế tạm thời sự phán xét của Đức Chúa Trời trở nên rõ ràng khi Giăng nhìn thấy một vị thiên sứ khác ngoài bốn thiên sứ đang cầm lại các ngọn gió. Có người xác định thiên sứ này là Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng điều đó không thích ứng vì allos (khác) có nghĩa là khác trong một hệ số khác, một dạng khác giống như bốn vị thiên sứ đầu tiên. Mặc dầu Đấng Christ xuất hiện trong Cựu Ước là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, thực ra Ngài tự nhiên không phải là một thiên sứ. Thêm nữa, bằng cách sử dụng nhân xưng đại danh từ số nhiều “chúng ta” trong câu 3 là thiên sứ thứ năm xác định với bốn vị đầu tiên trong công tác đóng ấn các tôi tớ của Đức Chúa Trời.

Giăng đã nhìn thấy vị thiên sứ từ phía mặt trời mọc mà lên. Đấy là lối theo thể thơ văn từ phương Đông, là điểm trong la bàn cho thấy mặt trời mọc từ chỗ đó. Từ nhận định của Giăng trên đảo Bát-mô, phía Đông sẽ hướng về đất Do-thái, là đất mà ơn cứu rỗi Đức Chúa Trời hứa cho đã đến qua Chúa Jêsus Đấng Mêsi, và từ đó 12 chi phái Israel xuất hiện — các thuộc viên trong số những thánh đồ sắp sửa được đóng ấn.

Thiên sứ cầm ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Sphragis (ấn) thường đề cập đến chiếc nhẫn mang dấu hiệu. Bậc vua chúa hoặc các quan chức khác sẽ sử dụng loại nhẫn đó để đóng dấu vào sáp gắn trên các tài liệu hoặc các thứ khác, nhơn đó khẳng định tính xác thực và bảo đảm an ninh cho chúng (đối chiếu Sa 41:42; Et 3:10; 8:2, 8; Da 6:17; Mat 27:66). Một cái ấn chỉ ra quyền sở hữu và sự bảo hộ (đối chiếu Gi 6:27; IICo 1:22; Eph 1:13; 4:30).

Ngược lại với những cái ấn của bậc vua chúa cai trị trên thế gian, cái ấn mà thiên sứ đưa ra là của Đức Chúa Trời hằng sống. Kinh Thánh thường xác định Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hằng sống (đối chiếu 4:9-10; 10:6; 15:7; Phu 5:26; Gios 3:10; ISa 17:26; IIVua 19:4; Thi 42:2; 84:2; Gie 10:10; 23:36; Da 6:20; Os 1:10; Mat 16:16; Ro 9:26; IICo 3:3; 6:16; ITi 3:15; 4:10; He 3:12; 9:14; 10:31; 12:22) để phân biệt Ngài với hình tượng chết mà những người không tin Chúa đang thờ lạy. Sự vĩnh hằng của Ngài bảo đảm rằng Ngài sẽ hoàn tất mọi ý chỉ của Ngài. Tà thần giả hình nổi bật nhất trong kỳ Đại Nạn, là Anti-christ, sẽ đóng ấn những kẻ chạy theo hắn (13:16-17; 14:9-11; 16:2; 19:20; 20:4), và Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống sẽ đóng ấn những kẻ thuộc về Ngài. Kh 14:1 xác định con dấu của dấu ấn Đức Chúa Trời giống như danh xưng của Đấng Christ và của Đức Chúa Cha.

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đánh dấu Israel với huyết bôi trên mày cửa của họ để buông tha họ khi Ngài giết con đầu lòng của xứ Ai-cập. Ngài đánh dấu Ra-háp với sợi chỉ màu đỏ điều để giữ nàng và những kẻ thuộc về nàng không bị giết chết. Nhưng phần minh hoạ tương xứng nhất là phân đoạn hiện tại ra từ Exe 9:3-6:

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên bèn dấy lên khỏi chê-ru-bin, là nơi thường ngự, mà đến ngạch cửa nhà; Đức Giê-hô-va gọi người mặc vải gai, lưng đeo sừng mực mà phán rằng: Hãy trải qua giữa thành tức giữa Giê-ru-sa-lem, ghi dấu trên trán những người nào than thở khóc lóc về mọi sự gớm ghiếc đã phạm giữa thành nầy. Rồi Ngài phán cùng những người kia cách như cho tôi nghe rằng: Hãy qua trong thành đằng sau nó, và đánh; mắt ngươi chớ đoái tiếc, và đừng thương xót. Nào già cả, nào trai trẻ, nào gái đồng trinh, nào con nít, đàn bà, hãy giết hết; nhưng chớ lại gần một kẻ nào là kẻ đã có ghi dấu; và khá bắt đầu từ nơi thánh ta. Vậy các người ấy bắt đầu từ các người già cả ở trước mặt nhà”.

Người nào với dấu hiệu của Đức Chúa Trời đặt trên họ sẽ được buông tha trong sự huỷ diệt hầu đến về thành Jerusalem. Tương tự, các tôi tớ nầy của Đức Chúa Trời mà thiên sứ sẽ đánh dấu với cái ấn của Đức Chúa Trời sẽ được bảo hộ khỏi và được gìn giữ qua những lần phán xét hầu đến (đối chiếu 9:4).

Khẫn cấp, có quyền, vị thiên sứ thứ năm cả tiếng kêu bốn vị thiên sứ đã được quyền làm hại đất cùng biển, và bảo rằng: Chớ làm hại đất, biển và cây cối, cho đến chừng nào chúng ta đã đóng ấn trên trán những tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta”. Sự tàn phá gây “hại” hoặc thiệt hại sẽ giáng trên đất, biển và cây cối sẽ xảy ra khi bốn vị thiên sứ bất ngờ thả ra sự phán xét (làm biểu tượng bởi các ngọn gió) mà họ đang cầm lại. Nhưng sự phán xét đó (và những lần phán xét qua tiếng kèn và cái bát) phải chờ đợi cho tới khi các thiên sứ đã đóng ấn trên trán những tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta. Nghĩa là họ được đề cập đến là tôi tớ cho thấy rằng họ đã được cứu chuộc rồi. Họ cứ giữ lòng trung tín với Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus, và có lẽ đã rao giảng mạnh mẽ và hiệu quả Lời của Ngài ở giữa những hỗn loạn của sáu cái ấn đầu tiên. Vào thời điểm này, họ cần phải được bảo vệ hầu cho họ có thể tiếp tục rao giảng Lời của Đức Chúa Trời và lẽ thật nói tới Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ trong những thời điểm gay gắt nhất. Sau khi việc đóng ấn hoàn tất, những sự phán xét có thể bắt đầu, rồi từ đó những người được đóng ấn sẽ được miễn trừ.

Kh 14:1-5 mô tả bản chất thanh sạch, không tì vít về mặt đạo đức của họ, sự họ tin kính đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Họ là hạng tôi tớ trung tín, trung thành, tỉ mỉ, thánh khiết của Đức Chúa Trời trong suốt thời buổi tối tăm nầy; họ là phần tinh tuý của vụ mùa. Họ cũng được mô tả là được “chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con” (14:4). Họ cũng sẽ là hạng giáo sĩ hiệu quả nhất mà thế gian đã từng nhìn thấy, và sẽ trở thành đồ dùng trong sự biến đổi trong chính xứ sở của họ và của các nước nữa.

ISRAEL ĐƯỢC XÁC ĐỊNH

Tôi lại nghe số người được đóng ấn là: Mười bốn vạn bốn ngàn người được đóng ấn từ trong các chi phái dân Y-sơ-ra-ên; Trong chi phái Giu-đa, một vạn hai ngàn người được đóng ấn; Trong chi phái Ru-bên, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Gát, một vạn hai ngàn; Trong chi phái A-se, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Nép-ta-li, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Ma-na-se, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Si-mê-ôn, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Lê-vi, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Y-sa-ca, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Sa-bu-lôn, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Giô-sép, một vạn hai ngàn; Trong chi phái Bên-gia-min, một vạn hai ngàn đều được đóng ấn. (Kh 7:4-8)

Những tín đồ và giáo sĩ người Do-thái là bông trái của Y-sơ-ra-ên, như một dân sẽ được chuộc trước khi Đấng Christ tái lâm (Xa 12:10-13:1, 8-9; Ro 11:26). 144.000 người không phải là tín hữu Do-thái, mà là một nhóm duy nhất được chọn để rao giảng Tin lành trong thời buổi ấy (đối chiếu 12:17; 14:1–5). Mặc dù phân đoạn Kinh Thánh nói rõ rằng một trăm bốn mươi bốn ngàn người sẽ được đóng ấn từ trong các chi phái dân Israel, nhiều người khăng khăng xác định họ là Hội thánh. Họ trích dẫn vài phân đoạn Tân Ước xác định Hội thánh là Israel để hỗ trợ cho phần việc giải thích đó. Nhưng, việc nhận dạng Israel với Hội thánh trong các phân đoạn này là mong manh và bị tranh cãi. Do đó, họ không thể đưa ra sự hỗ trợ nào cho việc nhận dạng như vậy trong phân đoạn hiện tại. Sự thực cho thấy rằng “không một trường hợp rõ ràng nào về Hội thánh được gọi là ‘Israel’ có trong Tân Ước hoặc trong một vài tác phẩm của Hội thánh xưa cho đến năm 160SC. Sự thực này đang làm tê liệt bất kỳ nỗ lực nào để xác định Israel là Hội thánh trong Khải huyền 7:4” (Robert L. Thomas, Khải huyền 1–7:An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1992], 476). Hơn nữa, “một nỗ lực như vậy trở nên lố bịch bởi vì nó đòi hỏi cách giải thích về loại hình phân chia Hội thánh thành mười hai chi phái trùng với danh sách trong Kh 7:5-8, thậm chí với tất cả những thất thường bản trong danh sách đó” (Thomas, Revelation 1-7, 476). Thuật ngữ Israel phải được diễn giải phù hợp cách sử dụng thường lệ trong Cựu và Tân Ước như một tham khảo đến các dòng dõi theo phần xác của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Cũng không có lý do chú giải nào giải thích con số 144.000 và 12.000 người theo nghĩa đen.

Có 12.000 người được đóng ấn từ từng chi phái dân Y-sơ-ra-ên; nói tới mục đích tuyển chọn của Đức Chúa Trời. Sự lựa chọn ngẫu nhiên về con người sẽ không đạt tới một sự phân chia như vậy đâu. Trong khi danh sách chi phái bị lạc mất khi người La-mã chiếm lấy thành Jerusalem vào năm 70SC, Đức Chúa Trời biết rõ ai thuộc về từng chi phái. Phân đoạn này cũng dạy về điều được gọi là “mười chi phái bị mất”, thực sự họ không bao giờ bị mất (đối chiếu 21:12; Mat 19:28; Lu 22:30; Gia 1:1). Thay vì thế, các đại biểu từ mười chi phái phía Bắc đã nhập về phía Nam và trộn lẫn với hai chi phái miền Nam (đối chiếu IISu 30:1-11; 34:1-9) và nhơn đó được bảo tồn.

Tên cụ thể các chi phái trong bản danh sách này làm dấy lên một số thắc mắc rất thú vị. Tuy nhiên, trước tiên, cần phải lưu ý rằng không có một tiêu chuẩn nào để liệt kê mười hai chi phái. Có ít nhất mười chín cách khác nhau để liệt kê họ trong Cựu Ước, không một cái nào phù hợp với danh sách được liệt kê ra ở đây:

Trong các danh sách của Cựu Ước, đôi khi phải theo thứ tự ra đời (Sa 29:32-35:18). Ở các chỗ khác, đó là thứ tự chúc phước của Gia-cốp dành cho họ (Sa 49:3-27), thứ tự của sự đóng trại (Dan 2:3-31), thứ tự tu bộ trước khi đánh chiếm xứ Canaan (Dan 26:4-51), thứ tự chúc phước và rủa sã (Phu 27:12-13), thứ tự chúc phước của Môi-se (Phu 33:6-25), thứ tự “các vua” (Dan 1:5-15), thứ tự cơ nghiệp (Gios 13:7-22:34), thứ tự theo những người vợ và nàng hầu (ISu 2:1-8:40), và thứ tự những cái cổng thành (Exe 48:31-34). (Thomas, Revelation 1–7, 479)

Mặc dù Ru-bên là con đầu lòng (Sa 46:8), Giu-đa được liệt kê trước nhứt. Ru-bên đã mất quyền thừa kế của mình như là án phạt đối với hành vi sai trái về tình dục của ông với nàng hầu của cha mình (ISu 5:1). Sự bỏ sót chi phái Đan để ưu ái với chi phái tế lễ Lê-vi cũng là điều bất thường. Đan rõ ràng đã bị bỏ sót do thái độ thờ ơ của chi phái trước việc thờ lạy hình tượng (đối chiếu Phu 29:18–21 -— thậm chí còn tồi tệ hơn cả phần còn lại của dân tộc (đối chiếu Các Quan Xét 18; Am 8:14). Trong khi Đan sẽ dự vào ơn phước ngàn năm (Exe 48:1-2, 32) chi phái sẽ không được chọn cho nhiệm vụ này cũng không được bảo vệ trong Kỳ Đại Nạn. Tương tự, tên của Ép-ra-im bị bỏ sót vì sự ưu ái của Giô-sép cha ông vì Ép-ra-im đã tẻ tách ra khỏi nhà cầm quyền Giu-đa (Es 7:17). Ép-ra-im, cũng như Đan, đã bị thiêu đốt với sự thờ lạy hình tượng (Os 4:17). Ma-na-se, anh của Ép-ra-im, được kể đến bởi vì ông là người con trung thành của Giôsép.

Phân đoạn Kinh Thánh quan trọng này củng cố chân lý Kinh thánh mà Đức Chúa Trời không phải thông qua với dân Israel (đối chiếu Rô-ma 9-11). Mặc dù Israel thất bại trong sứ mệnh của nó trở thành một dân chứng nhân trong Cựu Ước, điều đó sẽ không phải là trường hợp trong tương lai. Từ người Do-thái sẽ có một lực lượng giáo sĩ lớn lao nhứt mà thế gian từng biết đến. Kết quả nỗ lực của họ sẽ là một dân Israel được chuộc, như Đức Chúa Trời đã hứa, và nhiều dân Ngoại vô số được cứu.

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme