“Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con. Vả, hết thảy thiên sứ đứng vòng chung quanh ngôi và chung quanh các trưởng lão cùng bốn con sanh vật, sấp mặt xuống trước ngôi, và thờ lạy Đức Chúa Trời, mà rằng: A-men! Sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng! A-men. Bấy giờ một trưởng lão cất tiếng nói với tôi rằng: những kẻ mặt áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến? Tôi thưa rằng: Lạy chúa, chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng: Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con. Ấy vì đó mà chúng được ở trước ngôi Đức Chúa Trời, và ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài; còn Đấng ngồi trên ngôi sẽ che chở chúng dưới trại Ngài. Chúng sẽ không đói không khát nữa; cũng không có mặt trời, hoặc cơn nắng gắt nào hại đến mình. Vì Chiên Con ở giữa ngôi sẽ chăn giữ và đưa chúng đến những suối nước sống; Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng” (Kh 7:9-17).
Đã có nhiều sự đáp ứng rất tốt đối với Tin lành trong suốt lịch sử, bao gồm sự ra đời của Hội thánh vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Cải chánh ở Châu Âu vào thế kỷ XVI, và Cơn Tỉnh Thức Lớn Lao ở Mỹ vào thế kỷ 18. Trong những phong trào mạnh mẽ của ân điển cứu rỗi đó, hàng ngàn người đã đến với đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Dân sự của Đức Chúa Trời đã từng cầu nguyện xin Đức Chúa Trời đem lại những mùa gặt linh hồn lớn lao như thế, và thường Ngài đã trả lời.
Nhưng trong tương lai sẽ có một phản ứng trên toàn thế giới đối với Tin lành sẽ trỗi hơn bất kỳ suy tưởng nào khác trong lịch sử và có lẽ mọi suy tưởng khác kết hợp lại. Phản ứng ấy sẽ quét lên toàn cầu chỉ trong vài năm ngắn ngủi và tạo ra vô số những người được cứu chuộc từ tất cả các nước, biến nó thành phong trào lớn lao nhất của quyền phép cứu rỗi của Đức Chúa Trời mà thế gian sẽ nhìn thấy.
Sự mong đợi cơn “phấn hưng” lớn lao đó phù hợp với sự thực Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hay thương xót, giàu ơn, bởi bổn tánh của Ngài là Đấng Cứu Thế và muốn cho mọi người đều được cứu. ITi 2:4 tuyên bố rằng Ngài: “muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật”. IIPhi 3:9 thêm: “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (thí dụ, Thi 106:21; Es 43:3, 11; 45:15, 21; 49:26; 60:16; 63:8; Os 13:4; Lu 1:47; 2:11; ITi 2:3; IITi 1:10; Tit 1:3; 2:10, 13; 3:4, 6; IIPhi 1:1).
Trong ITi 4:10 Đức Chúa Trời ấn định Ngài là “là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ”. Ngài là “Cứu Chúa của mọi người” theo một ý nghĩa tạm thời, thuộc thể (thường là ân điển); nghĩa là, Ngài để cho hạng tội nhân xứng đáng với cái chết và địa ngục ngay tức khắc khi họ cứ tiếp tục sống ở trên đất. Kỳ thực, Ngài không tiêu diệt họ trong địa ngục ngay lập tức khi họ phạm tội cho thấy ý định của Ngài. Tuy nhiên, Ngài là Đấng Cứu Thế của những người tin, theo một ý nghĩa thuộc linh và đời đời. Đối với những ai tiếp nhận Tin lành, Ngài ban cho sự sống và thiên đàng đời đời trong sự vinh hiển của nó cho đến đời đời.
Trong tương lai, Đức Chúa Trời sẽ đặt ơn cứu rỗi thuộc linh và đời đời của Ngài hiển nhiên vào một thời điểm bất ngờ nhất. Thực vậy, Ngài sẽ làm thế vào thời điểm tồi tệ nhất trong toàn bộ lịch sử của con người. Có thể đó là thời điểm giận dữ nhất của Sa-tan, khi hắn cùng các quỉ sứ hắn hoành hành thế gian. Có thể đó là thời điểm gian ác không chi sánh được, khi Đức Thánh Linh dở bỏ ảnh hưởng kềm chế của Ngài (IITe 2:7). Có thể đó sẽ là thời điểm khi sự cai trị kinh khiếp khắp thế gian của Anti-christ đang diễn ra kèm theo với sự đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và Ngày của Đức Giê-hô-va trong một loạt phán xét gây tàn phá không tưởng được. Có thể điều đó nằm giữa thời kỳ kinh khiếp và sợ hãi, Đức Chúa Trời sẽ cứu người ta ở một cấp độ không lường được.
Công tác giải cứu của Đức Chúa Trời trong thì tương lai ấy sẽ có hai phần. Thứ nhứt, đó sẽ là thời điểm sự cứu rỗi cho cả dân Do-thái, là thời điểm mà Xachari (Xa 12:10…) trong Cựu Ước và Phaolô (Ro 11:25-27) trong Tân Ước đã dự ngôn. Bông trái đầu mùa sự cứu rỗi của Israel sẽ là 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái (7:1-8), họ sẽ rao giảng Tin lành cả cho đồng bào của họ và cho các dân Ngoại.
Đây là ơn cứu rỗi của các dân Ngoại đó, được đặt trong nhận định ở 7:9–17 — một ơn cứu rỗi đã được hứa cho trong Kinh Thánh. Giao ước với Ápraham, trong đó Đức Chúa Trời đã hứa chúc phước cho Israel, cũng hứa ơn cứu rỗi cho các dân Ngoại nữa:
“Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sa 12:1-3).
Đức Chúa Trời từ buổi sáng thế đã chọn Israel làm một ống dẫn qua đó các ơn phước cứu rỗi của Ngài sẽ tuôn tràn ra khắp thế gian. Lẽ thật ấy đã được khẳng định trong nhiều phân đoạn Cựu Ước. Trong Thi thiên 67, tác giả Thi thiên đã cầu nguyện: “Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng tôi, và ban phước cho chúng tôi, soi sáng mặt Ngài trên chúng tôi.” (câu 1). Song phước hạnh ấy chưa dừng lại với họ đâu; tác giả Thi thiên đã nài xin Đức Chúa Trời chúc phước cho Israel “để đường lối Chúa được biết trên đất, và sự cứu rỗi của Chúa được biết giữa các nước … Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho chúng tôi, và các đầu cùng đất đều sẽ kính sợ Ngài” (các câu 2, 7). Thi thiên 98:3 tuyên bố: “Ngài đã nhớ lại sự nhân từ và sự thành tín của Ngài đối cùng nhà Y-sơ-ra-ên; Các đầu đất đã thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng tôi”. Được chọn để trở thành công cụ của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi cho các nước, Israel đã thất bại thê thảm trong sứ mệnh đó. Hội thánh đã xen vào và là ống dẫn ấy trong kỷ nguyên nầy.
Trong tương lai, Đức Chúa Trời sẽ giàu ơn ưng ban cho Israel cơ hội thứ nhì để trở nên một dân làm chứng cho Ngài, và vào thời điểm đó họ sẽ không thất bại nữa. Được lãnh đạo bởi 144.000 nhà truyền đạo (đối chiếu 7:1–8), Israel sẽ là sự sáng cho các nước trong giờ tăm tối nhất của lịch sử địa cầu. Lời hứa chúc phước của Đức Chúa Trời cho các nước trong thế gian qua dòng dõi của Ápraham sẽ được ứng nghiệm ở một cấp độ rất lớn lao.
Khi nói tới thì cứu rỗi các dân Ngoại trong tương lai, Êsai viết: “Xảy ra trong ngày đó, rễ Y-sai đứng lên làm cờ cho muôn dân, các nước đều tìm đến Ngài, nơi an nghỉ của Ngài sẽ được vinh hiển” (Es 11:10). Trong Es 49:6, Đức Chúa Trời đã hứa với Người Tôi Tớ (là Đức Chúa Jêsus Christ) rằng dân sự từ các nước sẽ được thêm vào bầy chiên của Ngài: “Ngài có phán cùng ta rằng: Ngươi làm tôi tớ ta đặng lập lại các chi phái Gia-cốp, và làm cho những kẻ được gìn giữ của Y-sơ-ra-ên lại được trở về, còn là việc nhỏ; ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại, hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất”. Trong Es 45:22 Đức Chúa Trời truyền lịnh: “Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu!” Es 52:10 thêm: “Đức Giê-hô-va đã tỏ trần cánh tay thánh Ngài trước mắt mọi nước; mọi đầu cùng đất đã thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta!” Trong một phân đoạn tương tự, được Phierơ trưng dẫn trong bài giảng của ông vào ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong 2:17-21), Giôên cũng nói về ơn cứu rỗi trong tương lai cho các nước:
“Sau đó, ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri; những người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao, những kẻ trai trẻ các ngươi sẽ xem sự hiện thấy. Trong những ngày đó, dầu những đầy tớ trai và đầy tớ gái, ta cũng đổ Thần ta lên. Ta sẽ tỏ những sự lạ ra trong các từng trời và trên đất: tức là máu lửa, và những trụ khói. Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến. Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức Giê-hô-va, thì ở trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem, sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có kẻ mà Đức Giê-hô-va kêu gọi” (Gio 2:28-32).
Chúa Jêsus đã dạy rằng trước khi Ngài tái lâm vào cuối Kỳ Đại Nạn “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Mat 24:14). Gi 11:50-52 ghi lại một trong những lời tiên tri bất thường nhất trong Kinh Thánh (vì lời tiên tri nầy đã được tỏ ra qua một kẻ thù cay đắng lắm của Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe):
“Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất. Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết; và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn”.
“Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa” (Ro 3:29).
Kh 7:9-17 mô tả số người đông đảo từ các nước trên thế gian, họ đã được cứu trong kỳ Đại Nạn hầu đến. Số người nầy bao gồm cả người Do-thái đã được cứu trong sự rao giảng của 144.000 người. Không có thuật ngữ nào trong phân đoạn loại trừ người Do-thái. Thay vì thế, cụm từ “mọi dân tộc” có thể bao gồm cả họ nữa.
Tám chữ chìa khoá giới thiệu nhóm nầy: phần mô tả, địa điểm, hành động, sự hội hiệp, nguồn gốc, chức năng, sự bảo hộ, và sự tiếp trợ.
PHẦN MÔ TẢ
Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; … mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là (Kh 7:9a,c)
Như trong Khải huyền (đối chiếu 4:1; 7:1; 15:5; 18:1; 19:1), cụm từ sự ấy đoạn giới thiệu một sự khải thị mới, khác với sự khải thị ở 7:1-8. Tiếng hoan hô kìa tỏ ra sự mặc thị nầy là một sự mặc thị gây sốc đáng giật mình, sửng sốt đối với Giăng. Vị sứ đồ cao tuổi, là nhân vật còn sống sau cùng trong 12 sứ đồ, đã cảm thấy mình bị cô lập và cô đơn trong sự tù đày của mình trên đảo Bát-mô. Ông đã nhìn thấy các dân Ngoại đến với Đấng Christ, qua chính chức vụ của ông trong xứ Tiểu Á và qua các chức vụ của Phao-lô, Ti-mô-thê, Tít cùng nhiều người khác nữa. Các Hội thánh dân Ngoại đã được thiết lập, song phần lớn là các Hội thánh nhỏ, bị bao vây và bắt bớ. Hơn nữa, năm trong bảy Hội thánh ở Tiểu Á mà Chúa đã viết thư gửi cho họ trước đó trong quyển sách vĩ đại này (2:1–3:22) đã sa vào những hình thức đe doạ nghiêm trọng và nguy hiểm của tội lỗi. Nhìn thấy trong sự mặc thị đó, một đoàn dân đông người được chuộc ca hát ngợi khen Đức Chúa Trời là một kinh nghiệm sâu sắc đối với Giăng, ông là người đã nhìn thấy các thất bại nặng nề của những Hội thánh trong xứ Tiểu Á cùng những lời đe dọa phán xét đến từ Đức Chúa Trời (các chương 2-3). Sự khải thị nầy chắc chắn đã làm mới lại niềm vui và hy vọng của ông, khi ông nhận ra rằng Hội thánh sẽ tồn tại và đến cuối cùng, dân sự từ các nước sẽ được cứu với số lượng rất lớn.
Nhóm ấy đã được giới thiệu trong đoạn này phân biệt với 144.000 người (7:1-8) rõ ràng là từ một vài sự xem xét. Thứ nhứt, như đã nói ở trên, cụm từ sự ấy đoạn trình bày một sự mặc thị mới. Thứ hai, nhóm này được mô tả như là vô số người, không ai đếm được; không một con số cụ thể nào được nhắc tới. Thứ ba, nhóm 144.000 người nầy ra từ 12 chi phái Israel (7:4-8); nhóm người này bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra (đối chiếu 5:9). Nó mô tả đám đông con người, vượt qua mọi rào cản và những dòng phân biệt. Sau cùng, 144.000 người vượt quá tầm với của những kẻ bắt bớ vì họ đã được đóng ấn để được bảo hộ khỏi bị bắt bớ ở trên đất (7:3); nhóm này vượt quá tầm với của những kẻ chuyên bắt bớ vì họ đã có mặt rồi ở trên trời. Câu 14 mô tả và xác định họ: “Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con”.
Người được chuộc mặc áo dài trắng. Leukos (màu trắng) mô tả một màu trắng sáng láng, lấp lánh, rực rỡ. Trong các thời kỳ cổ đại, người ta mặc loại y phục ấy để dự các lễ hội và lễ lạc. Áo dài ra từ chữ stol¯e, là chữ mô tả một chiếc áo choàng dài, thật dài. Loại áo dài trắng rực rỡ này cũng là loại áo mà những kẻ tuận đạo đã mặc ở 6:9-11. Sự thực ấy cho thấy nhóm người theo nhận định của phân đoạn này là một phần của nhóm những người tuận đạo. Khi Kỳ Đại Nạn diễn ra, số người tuận đạo sẽ tăng lên, cũng như số lượng những người tin Chúa chết theo cách tự nhiên hoặc do bạo lực, cuối cùng tích hợp thành đám đông vô số, không thể đếm được, được mô tả ở trên trời trong phân đoạn này. Áo dài trắng là biểu tượng thay vì theo nghĩa đen, một khi các thánh đồ chưa có loại thân thể phục sinh (6:9; 20:4). Loại áo dài trắng đặc biệt phác hoạ sự cao trọng đắc thắng và vui mừng của họ. Loại áo dài trắng đó, cũng tượng trưng cho sự thánh khiết, được dành riêng cho Đấng Christ (Mat 17:2; Mac 9:3), các thiên sứ (Mat 28:3; Mác 16:5) và Hội thánh đã được tôn vinh hiển (19:8, 14).
Các thánh đồ cũng cầm nhành chà là trong tay họ. Các nhành chà là được kết hợp trong Kinh thánh với việc kỷ niệm, giải cứu và vui mừng. Đặc biệt, chúng nổi bật lên trong Ngày Lễ Lều Tạm, lễ lạc trong Cựu Ước kỷ niệm sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời cho dân Israel trong suốt cuộc phiêu bạt trong đồng vắng của họ (Le 23:40), chúng được sử dụng trong việc dựng lên các túp lều để dân sự sống trong kỳ lễ ấy (Ne 8:15-17). Trong lần vào thành đắc thắng của Chúa Jêsus đoàn dân đông phấn khởi kia đã vẫy những nhánh chà là khi họ hoan nghênh Ngài tiến vào thành Jerusalem, họ hô to: “Hô-sa-na! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên!” (Gi 12:13). Các nhánh chà là ở trong tay của các thánh đồ đã được chuộc nầy là một biểu tượng thích nghi cho sự tiếp trợ bất xứng về ơn cứu rỗi đối với thế gian, Sa-tan, Anti-christ, tội lỗi, sự chết, và địa ngục được tiếp trợ cho họ bởi Đức Chúa Jêsus Christ.
ĐỊA ĐIỂM
chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con (Kh 7:9b)
Giăng đã nhìn thấy đám đông các thánh đồ đắc thắng, vui mừng không thể đếm đặng đứng trước ngôi của Đức Chúa Trời ở trên trời (đối chiếu 4:2). Họ cũng đứng trong sự hiện diện của Chiên Con, là Đấng Giăng đã nhìn thấy trong sự mặc thị thứ nhứt đứng gần ngôi (5:6). Nhiều người đã chịu chết nơi tay của Anti-christ (đối chiếu 20:4, ở đó “bị chặt đầu” nói tới cái chết rất bạo lực) vì từ chối không chịu nhận lấy dấu hiệu của hắn hoặc không chịu thờ lạy hắn. Họ không còn được thấy ở dưới bàn thờ cầu xin sự báo thù nữa (đối chiếu 6:9-11), là điều đã được khởi sự rồi, nhưng đắc thắng đứng trước ngôi của Đức Chúa Trời: “các linh hồn người nghĩa được vẹn lành” (He 12:23).
HÀNH ĐỘNG
“cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con” (Kh 7:10)
Giống như mọi sự ở trên trời, người được chuộc tuận đạo thường xuyên cất tiếng lớn kêu (đối chiếu 5:12; 6:10; 11:12, 15; 12:10; 14:7; 16:1; 19:1; 21:3) trong sự thờ phượng vui vẻ, hớn hở. Chúa mong muốn sự ngợi khen lớn tiếng (Thi 66:1; 100:1). Những lời cầu thay của họ đã thôi và họ đang ngợi khen và dâng sự vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời, là Đấng chịu trách nhiệm về sự đắc thắng của họ. Sự cứu rỗi là lẽ đạo sự thờ lạy của họ, như vốn có trong suốt sách Khải huyền. Trong sự mặc thị của ông về ngai của Đức Chúa Trời đã được ghi lại ở 5:8–10 Giăng lưu ý:
“Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh. Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất”.
Trong 12:10, Giăng “nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi”. Ở 19:1 Giăng viết: “Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta”. Như trong sự thờ phượng đã được ghi lại ở 5:13…, sự hiện hữu của những kẻ ấy ở trên trời là là ngợi khen liên tục, đời đời của Đức Chúa Trời Toàn Năng (quyền tễ trị của Ngài được chỉ ra bởi lời bình cho rằng Ngài đang ngồi trên ngai) và Chiên Con. Họ xác định Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của chúng ta, xưng nhận, như hết thảy người được chuộc xưng nhận, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của chính họ.
SỰ HỘI HIỆP
“Vả, hết thảy thiên sứ đứng vòng chung quanh ngôi và chung quanh các trưởng lão cùng bốn con sanh vật, sấp mặt xuống trước ngôi, và thờ lạy Đức Chúa Trời, mà rằng: A-men! Sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng! A-men” (Kh 7:11-12)
Vô số những người tin Chúa đứng trước ngai của Đức Chúa Trời không chỉ có một mình trong sự thờ lạy lớn tiếng của họ đâu. Nhóm thứ nhứt được xác định cùng với họ trong sự ngợi khen là hết thảy thiên sứ đứng vòng chung quanh ngôi. Số lượng họ, cũng vậy, không thể đếm được đối với Giăng. Trong sự mặc thị trước về ngai của Đức Chúa Trời, Giăng chỉ có thể mô tả con số các thiên sứ là “vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn” (5:11). Phu 33:2 chép: “Đức Giê-hô-va đã đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, chiếu sáng từ núi Pha-ran, đến từ giữa muôn vàn đấng thánh”. Trong một sự hiện thấy về Đức Chúa Trời ngồi trên ngai của Ngài ở trên trời, Đaniên đã nhìn thấy “ngàn ngàn hầu hạ Ngài và muôn muôn đứng trước mặt Ngài” (Da 7:10). Tác giả thơ Hêbơrơ cũng nhìn thấy “muôn vàn thiên sứ nhóm lại” ở trên trời (He 12:22). Giu-đe 15 nói tới “muôn vàn thánh”. Các thiên sứ hiệp với những linh hồn của các thánh đồ trên trời trong việc ngợi khen Đức Chúa Trời không phải là ngạc nhiên đâu, vì họ được dựng nên để thờ lạy và hầu việc Ngài (Thi 103:20; Co 1:16).
Hạng tội nhân khốn khổ, bất xứng có thể tự do trộn lẫn với các thiên sứ nguyên sơ, thánh thiện là một thắng lợi của ân điển Đức Chúa Trời khiến cho các thiên sứ dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời nhiều hơn nữa. Những kẻ này đã quay lưng lại với Đức Chúa Trời, họ từ chối Tin lành (hoặc trong một số trường hợp không hề nghe Tin lành ấy), và không phải là một chi thể của Hội thánh, họ đã bỏ lỡ sự Cất Lên. Vì vậy, ở giữa cơn thạnh nộ và phán xét của Đức Chúa Trời trong suốt Kỳ Đại Nạn, Ngài sẽ nhớ lại lòng thương xót và nhóm họ lại với chính mình Ngài. Sự kỳ diệu của ơn cứu rỗi bởi ân điển của Đức Chúa Trời (một đề tài mà hàng thiên sứ lấy làm tò mò, họ chưa hề kinh nghiệm ơn ấy bao giờ; đối chiếu IPhi 1:12) được tỏ ra trước mặt các thiên sứ kích thích họ ngợi khen và thờ lạy Ngài (đối chiếu Eph 3:8-10). Mặc dù các thiên sứ không kinh nghiệm ơn cứu rỗi, họ vui mừng nơi ơn cứu rỗi của con người (Lu 15:7,10).
Các thiên sứ vây chung quanh ngôi uy nghi, vinh hiển của Đức Chúa Trời (đối chiếu 4:1-6; 5:1, 6) cũng được vây quanh bởi hai nhóm khác tham dự vào sự thờ lạy Đức Chúa Trời, các trưởng lão cùng bốn con sanh vật. Hai mươi bốn trưởng lão được xem như là đại biểu của Hội thánh được cất lên (xem phần bàn luận trong chương 11 của sách này). Trong 5:8-10, họ hát lên bài ca cứu chuộc, trong khi ở đây họ được thấy là đang ngợi khen Đức Chúa Trời của sự cứu chuộc. Như đã lưu ý trong phần thảo luận của chương 11, bốn con sanh vật là chê-ru-bin, một đẳng cấp thiên sứ được tôn trọng. Hai nhóm này thường xuất hiện chung với nhau (đối chiếu 5:6, 8, 11, 14; 14:3; 19:4).
Bị phủ lút bởi sự oai nghi, sự vinh hiển, và sự rực rỡ ở chung quanh ngôi của Đức Chúa Trời, hết thảy những ai đang hiện diện đều sấp mặt xuống trước ngôi và thờ lạy Đức Chúa Trời. Đấy là phản ứng thích hợp của tất cả các tạo vật, bao gồm những ai là thánh và vẹn lành, họ sấp mình xuống trong sự sùng bái khiêm tốn trước sự hiện diện vinh hiển không chi sánh được và oai nghi của Đức Chúa Trời thánh khiết, chơn thật có một (đối chiếu 4:10; 5:8, 14; 11:16; 19:4; Sa 17:3; Le 9:24; Gios 5:14; Cac 13:20; IVua 18:39; IIVua 20:18; Exe 1:28; 3:23; Mat 17:6; Phi 2:9-10). Khi ấy, việc công nhận sự tễ trị, oai quyền, sự thánh khiết, và oai nghi của Đức Chúa Trời, những người thờ lạy trong sự mặc thị của Giăng đã thốt ra một lời chúc phước trước và sau với lời khẳng định nghiêm túc amen, nghĩa là “nguyện sẽ được như vậy”. Lời cầu nguyện của họ, ấy là sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng! (đối chiếu 4:11; 5:12).
Thờ phượng là công việc liên tục của những kẻ ở trên trời. Đã có lời ngợi khen trong các chương 4 và 5, trước khi những cái ấn được mở ra và sự phán xét bắt đầu. Bấy giờ, khi những sự phán xét sau cùng về khí hậu đến gần, lại có lời ngợi khen nữa, ngợi khen không phải vì sự phán xét đã được lường trước mà vì sự phán xét đã được nhìn biết. Sự ngợi khen kết thúc bắt đầu với bốn con sanh vật, sau đó lớn lên khi hai mươi bốn trưởng lão, các thiên sứ và ngày càng nhiều các tử đạo hoạn nạn tham gia. Cuối cùng, tất cả thiên đàng đều ngợi khen Thiên Chúa.
Đỉnh cao của sự ngợi khen bắt đầu với bốn con sanh vật, rồi lớn dần khi hai mươi bốn trưởng lão, các thiên sứ, và số lượng ngày càng tăng những người tuận đạo trong kỳ đại nạn hiệp vào cùng. Sau cùng, cả thiên đàng vang dội với sự ngợi khen dành cho Đức Chúa Trời.
Cụm từ đời đời vô cùng cho thấy, cũng như lời chúc phước 5:13…, rằng lời ngợi khen này không phải là tạm thời hay thoáng qua đâu, mà là kéo dài cho đến đời đời. Những gì được mô tả ở đây là sự thờ phượng sẽ không bao giờ chấm dứt qua cõi đời đời vô tận.
NGUỒN GỐC
“Bấy giờ một trưởng lão cất tiếng nói với tôi rằng: những kẻ mặt áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến? Tôi thưa rằng: Lạy chúa, chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng: Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con” (Kh 7:13-14)
Giăng trở thành một người dự phần tích cực trong sự mặc thị khi một trong hai mươi bốn trưởng lão hỏi ông: “những kẻ mặt áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến?” Vị trưởng lão không hỏi han thông tin vì ông không biết, nhưng để nhấn mạnh mục đích của ông ấy cho Giăng và tất cả độc giả của Giăng biết. Tiến sĩ Robert Thomas bình luận về tầm quan trọng câu hỏi của vị trưởng lão: “Điều nầy minh hoạ cách trao đổi được sử dụng hết lúc nầy đến lúc khác để truyền tải một lời giải thích về sự mặc thị” (đối chiếu Gie 1:11, 13; Am 7:8; 8:2; Xa 4:2, 5). Công cụ này cho thấy những sự khải thị không được ban ra vì mục đích tỏ ra sự ngoạn mục, nhưng để truyền tải sự mặc thị, những chi tiết trong đó không thể bị bỏ sót” (Revelation 1–7: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1992], 493). Câu hỏi của vị trưởng lão chỉ rõ và nhấn mạnh sự thật người ta sẽ được cứu trong thời kỳ đại nạn ghê khiếp. Có người nghi ngờ rằng, khi nhắm tới cường độ sự phán xét của Đức Chúa Trời trong thời gian kinh khủng ấy. Rồi sẽ tới một điểm trong kỳ Đại Nạn khi những kẻ tiếp tục chối bỏ Tin lành sẽ được khẳng định trong sự chối bỏ đó. Kh 9:20-21 chép: “Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được. Chúng nó cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình nữa”.
Kh 16:9 gợi lại lẽ thật ấy: “Loài người bị lửa rất nóng làm sém, chúng nó nói phạm đến danh Đức Chúa Trời là Đấng có quyền trên các tai nạn ấy, và chúng nó cũng không ăn năn để dâng vinh hiển cho Ngài”. Phao-lô viết về những ai sẽ “hư mất, vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi. Ấy vì thế mà Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều dối giả, hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, điều bị phục dưới sự phán xét của Ngài” (IITe 2:10-12).
Có người cho rằng những người được chuộc tuận đạo trong kỳ Đại Nạn và những người khác được thấy ở trên trời sẽ là những người chưa bao giờ sống trong kỷ nguyên Hội thánh. Tuy nhiên, điều đó có thể không đúng, vì lý do cho thấy rõ ràng rằng một khi Kỳ Đại Nạn kéo dài trong 7 năm (Da 9:27) và phân nửa kỳ Đại Nạn đó (Kh 11:2-3; 12:6; 13:5), hết thảy họ đều phải trẻ hơn bảy năm của kỷ nguyên. Những người khác thì cho rằng đây là những người chưa hề nghe Tin lành trong suốt đời sống họ và đã nhận được cơ hội ăn năn sau khi chết. Sự giải thích đó cũng bất khả thi “vì theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét“ (He 9:27; đối chiếu Gi 8:21-24). Người ta có cơ hội để ăn năn và tin đạo Tin lành chỉ trong suốt đời sống của họ; đây là những người mà trọn cuộc đời của họ sẽ kéo dài qua Sự Cất Lên cho đến Kỳ Đại Nạn.
Câu trả lời bối rối của Giăng đối với vị trưởng lão là câu trả lời nhấn mạnh: “Lạy chúa, chúa biết điều đó“, và vừa là một lời thú nhận về sự thiếu hiểu biết và nài xin thêm về phần mặc thị. Sự Giăng gọi vị trưởng lão là chúa không gán thần tánh cho người nầy; ông đã sử dụng từ kurios (chúa) theo cách phổ thông như là một phẩm tước đáng tôn trọng. Đây là loại tôn trọng mà Giăng tỏ ra cho các hữu thể ở trên trời trong 19:10 và 22:8-9. Giăng đã được Chúa dạy cho biết rằng có ít người sẽ được cứu (Mat 7:13-14; 22:14) và đã nhìn thấy nhiều Hội thánh suy tàn, hầu cho đám đông rất lớn kẻ được chuộc nầy sẽ không thể hiểu được ông. Câu trả lời của vị trưởng lão trên trời đã khẳng định lai lịch của các tín đồ nầy là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn (đối chiếu Mat 24:21). Họ đã sống trong đó, đã được chuộc trong đó, và giờ đây đã ra khỏi đó qua sự chết vì bạo lực, là nguyên nhân tự nhiên và tuận đạo. Cụm từ những kẻ ra khỏi dịch thì hiện tại phân từ của động từ erchomai. Nó mô tả một tiến trình kéo dài; nhóm này sẽ tiếp tục phát triển khi người ta cứ tiếp tục chết trong kỳ Đại Nạn (đặc biệt là phân nửa sau cùng, Kỳ Đại Nạn). Vì lẽ đó, sự Cất Lên của Hội thánh không được xem xét trong câu này, một khi đây là biến cố duy nhất, tức thời và thình lình (đối chiếu ICo 15:51-52). Phần mô tả của vị trưởng lão về những tín đồ này đã ra khỏi cơn đại nạn rõ ràng phân biệt họ với bất kỳ nhóm được chuộc nào khác trong lịch sử. Thuật ngữ cơn đại nạn đề cập đến một khoảng thời gian cụ thể trong tương lai độc nhất trong cả lịch sử loài người. Nó đề cập đến ngày tận thế trong tương lai của sự phán xét thiêng liêng ngay trước khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm để thiết lập vương quốc trần gian của Ngài. Mọi sự phán xét được mô tả trong thời kỳ này, từ cái ấn thứ sáu qua những lần phán xét bằng tiếng kèn và cái bát không có phần tương ứng nào trong lịch sử loài người. Chưa hề có sự tàn phá như thế xảy ra trên toàn thế giới. Thuật ngữ đại nạn không thể mô tả sự tàn phá thành Jerusalem vào năm 70SC hay bất kỳ biến cố nào khác trong lịch sử. Thuật ngữ này phải mô tả một thời kỳ trong tương lai về sự sửa phạt thiêng liêng giáng trên toàn thế giới sa ngã; “ngày thạnh nộ lớn” của Đức Chúa Trời và Chiên Con (6:17). Chính mình Đức Chúa Jêsus đã đặt ra cụm từ “kỳ đại nạn” (Mat 24:21) và giới hạn nó đến phân nửa thứ hai của Tuần lễ thứ bảy mươi của Ða-ni-ên (Mat 24:13-22; Mac 13:14-20; đối chiếu Da 9:27). Giới hạn của nó sẽ là bốn mươi hai tháng hoặc 1.260 ngày (11:2-3). Về thời kỳ nầy Thomas viết:
Đây là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của thử thách qua đó tất cả những kẻ nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời phải vượt qua ngay trước lần đến thứ hai của Đấng Christ. Các tôi tớ của Đức Chúa Trời sẽ không gánh chịu những ảnh hưởng trực tiếp cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Họ sẽ không bị chạm đến bởi nó (Hòn Đá). Tuy nhiên, các thánh đồ trên đất sẽ không được miễn trừ khỏi sự giận dữ của kẻ thù Đức Chúa Trời trong giai đoạn này. Trong cả hai Đại Nạn và ba năm rưỡi khổ nạn trước đó, họ sẽ gánh chịu những đau khổ gây ra bởi những thù hận chống lại Đức Chúa Trời. Cường độ sự bắt bớ sẽ là một dấu hiệu tăng cao so với những gì đã kinh nghiệm trước khi kỳ tận thế xảy đến và sẽ gia tăng một lần nữa khi thời kỳ bảy năm đi đến điểm giữa của nó. Có người sẽ tuận đạo theo phần cuối của cái ấn thứ sáu (đối chiếu 6:9-11) và nhiều người khác sẽ bị bắt bớ bằng những phương thức khác. (Revelation 1-7, 497).
Nếu những tín đồ này là chi thể của hội thánh, tại sao vị trưởng lão lại không nhận ra họ? Dường như có ít lý do để phân biệt nhóm này với các nhóm khác trong Hội thánh nếu Hội thánh đang ở trên đất cả trước và trong Kỳ Đại Nạn. Nếu đấy là trường hợp, vị trưởng lão chỉ đề cập đến họ là Hội thánh.
Vị trưởng lão mô tả thêm các tín đồ được chuộc trong kỳ Đại Nạn ở trên trời, làm thế nào họ kiếm được đặc ân sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và các thiên sứ thánh. Sở dĩ như thế là vì họ mặc áo dài trắng mà họ đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con. Loại áo dài rực rỡ, sáng láng của họ đã được nhắc đến trước tiên trong câu 9, ở đó chúng làm biểu tượng chủ yếu cho lễ kỷ niệm, sự đắc thắng, và sự tôn cao; ở đây chúng chủ yếu nhấn mạnh sự công bình, sự thánh khiết, và sự tinh sạch. Loại áo xống bẩn thỉu trong Kinh Thánh tiêu biểu cho sự dơ dáy của tội lỗi (đối chiếu Es 64:6; Xa 3:3), và ơn cứu rỗi thường được phác hoạ như một sự giặt giũ (đối chiếu 22:14; Thi 51:7; Es 1:18; Tit 3:5). Bất cứ thứ gì có thể được thanh tẩy bằng cách rửa nó trong huyết xem qua có vẻ lạ lùng, nhưng không lạ lùng đối với người nào đã quen thuộc với Kinh Cựu Ước. Đối với họ, việc giặt giũ như vậy bị đòi hỏi cho việc làm sạch về mặt thuộc linh; phải có một của lễ bằng huyết mới thanh tẩy con người ra khỏi tội lỗi của họ. Huyết của con sinh trong Cựu Ước không cung ứng sự thanh tẩy hết tội lỗi (Hê-bơ-rơ 10:4), nhưng phác hoạ ra nhu cần của một của lễ có thể – của lễ thanh tẩy ra khỏi tội lỗi một lần đủ cả; huyết của Chiên Con. Đấy là phép ẩn dụ thường thấy có trong Kinh thánh vì sự chết hy sinh của Đấng Christ trên thập tự giá cung ứng việc thanh tẩy ra khỏi tội lỗi cho từng người tin Chúa trong mọi thời đại (đối chiếu 1:5; 5:9; 12:11; Mat 26:28; Cong 20:28; Ro 3:25; 5:9; Eph 1:7; 2:13; Co 1:20; He 9:12-14; 10:19; 13:12; IPhi 1:2, 19; IGi 1:7). Sự chết mang tính thay thế của Đấng Christ đã chuộc tội cho những người tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn, và bởi đức tin ăn năn họ được xưng công bình và được phục hòa lại với Đức Chúa Trời (Ro 5:10; IICo 5:18-21).
CHỨC NĂNG
Ấy vì đó mà chúng được ở trước ngôi Đức Chúa Trời, và ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài (Kh 7:15a)
Lý do những tín đồ trong kỳ Đại Nạn này được phép đứng trước ngôi Đức Chúa Trời, ấy là họ đã được thanh tẩy và đã giặt sạch khỏi tội lỗi của họ bởi sự hy sinh của Chiên Con Đức Chúa Trời vì ích cho họ. Vì vậy, họ được phép đứng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời để họ có thể ngày đêm hầu việc Ngài. Hầu việc ra từ chữ latreu¯o, thường được sử dụng để mô tả công việc tế lễ (đối chiếu Lu 2:37; He 8:5; 13:10); họ đề cập đến “sự thờ phượng phải lẽ” (Ro 12:1) đối với Đức Chúa Trời. Ngày đêm là một thành ngữ chỉ ra công việc liên tục của họ; không có ngày đêm thực sự nào trong thiên đàng đời đời của Đức Chúa Trời (22:3-5). Vị trí của sự hầu việc đó là trong đền Ngài (đối chiếu 11:19; 14:15,17; 15:5-8; 16:1, 17). Hiện có một đền thờ ở trên trời, và sẽ có một đền thờ ở trên đất trong vương quốc ngàn năm của Đấng Christ trên đất (đối chiếu Ê-xê-chi-ên 40–48). Tuy nhiên, ở trạng thái đời đời, sẽ không còn cần đến một đền thờ nữa: “vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành” (Kh 21:22). Đền thờ trên trời hiện nay là lãnh địa thánh, ở đó sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự ở bên ngoài vũ trụ đã sa ngã, nhưng điều đó sẽ không còn cần thiết trong trời mới đất mới, ở đó tội lỗi đã được bôi xóa đời đời. Sẽ chẳng còn một toà nhà nào dùng làm đền thờ nữa, vì Đức Chúa Trời sẽ chiếm hết mọi nơi, và hết thảy người tin Chúa khắp mọi nơi trong tình trạng đời đời sẽ tiếp tục thờ lạy và phục vụ Ngài cho đến đời đời.
SỰ BẢO HỘ
còn Đấng ngồi trên ngôi sẽ che chở chúng dưới trại Ngài (Kh 7:15b)
Trong một hình ảnh thật kỳ diệu, đầy sự yên ủi, Đức Chúa Trời, được mô tả như Đấng ngồi trên ngôi (đối chiếu 4:1–3; 5:1, 13; 7:10) hứa sẽ che chở chúng dưới trại Ngài (đối chiếu 21:3), về sự hiện diện Shechinah của Ngài trên các tín đồ đã bị bắt bớ nầy. Trại là một từ mà Giăng thích sử dụng (đối chiếu 13:6; 15:5; 21:3; động từ được dịch là “ngồi” xuất hiện trong Gi 1:14) phản ánh sự hiện diện kín giấu của Chúa. Nó tương ứng với các lời hứa trong Cựu Ước về sự hiện diện có tính cách bảo hộ của Đức Chúa Trời (đối chiếu Le 26:11-12; Exe 37:27; Xa 2:10-11; 8:3, 8). Những tín đồ này đã chứng kiến những ghê khiếp đau khổ không thể diễn tả được khi những sự phán xét của Đức Chúa Trời đổ ra trên thế gian. Họ đã gánh chịu sự bắt bớ khủng khiếp nơi tay của Anti-christ và những kẻ theo hắn. Nhưng khi họ bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, họ sẽ đến với một nơi thánh thiên thượng, là chỗ an toàn nhất. Ở đó họ sẽ nhận được nơi ẩn náu tránh những ghê khiếp của thế giới sa ngã hầu đến khi Đức Chúa Trời tiếp tục thả ra các sự phán xét gây tàn phá và huỷ diệt của Ngài.
SỰ TIẾP TRỢ
Chúng sẽ không đói không khát nữa; cũng không có mặt trời, hoặc cơn nắng gắt nào hại đến mình. Vì Chiên Con ở giữa ngôi sẽ chăn giữ và đưa chúng đến những suối nước sống; Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng. (Kh 7:16-17)
Lời hứa đầy sự yên ủi này về sự tiếp trợ được rút ra từ và gần như giống với lời lẽ của Es 49:10. Khi họ trải qua những nỗi kinh hoàng của Kỳ Đại Nạn, những người chịu khổ nầy từ cơn đại nạn phải chịu đựng đói, khát và hơi nóng khi mặt trời nhằm hại họ, một hiện tượng sẽ xảy ra trong Kỳ Đại Nạn (16:9). Nhưng mọi yếu tố hành hại về phần xác và thuộc linh của đời nầy mà họ sẽ không còn kinh nghiệm nữa, thay vì thế họ sẽ thưởng thức sự thoả lòng cho đến đời đời, Vì Chiên Con ở giữa ngôi (đối chiếu 5:6) sẽ chăn giữ và đưa chúng đến những suối nước sống; Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng. Hình ảnh của Đức Chúa Trời giống như Đấng Chăn Chiên của dân sự Ngài là một trong những hình ảnh thân thương và phổ biến nhất trong Cựu Ước (đối chiếu Thi thiên 23; 80:1; Es 40:11; Exe 34:23), và Chúa Jêsus được mô tả là Đấng Chăn dân sự Ngài trong Tân Ước (Gi 10:11…; He 13:20; IPhi 2:25; 5:4). Thú vị thay, ba lần sử dụng khác về poimain¯o (chăn) ở Khải huyền (2:27; 12:5; 19:15; “cai trị” hay “chăn bầy” trong cả ba trường hợp) tỏ ra Đấng Christ trong một kiểu cách huỷ diệt, chà nát hạng tội nhân bằng một cây gậy sắt, như trong Thi 2:9. Đấng Chăn Chiên Trưởng sẽ đưa bầy chiên của Ngài đến những suối nước sống (đối chiếu 21:6; 22:1,17). Ngài cũng sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng (đối chiếu 21:4; Es 25:8), vì ở trên trời sẽ không còn có đau khổ, buồn rầu và nỗi khổ gây ra cho họ nữa.
Trong thời đại này, khi Cơ đốc giáo đang chịu bao vây bốn phía, dường như cái nắm bắt của nó về lẽ thật thiêng liêng rồi hướng tới sự thất bại, thật là yên ủi khi được tái khẳng định về sự đắc thắng tối hậu của ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ở giữa tình huống thậm chí tồi tệ hơn nữa trong tương lai trước sự tái lâm của Đấng Christ, Đức Chúa Trời sẽ chuộc lấy dân sự Ngài. Tư tưởng ấy sẽ mang lại sự yên ủi rất lớn cho các tín đồ trong thời hiện tại và động viên mọi người ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự vĩ đại trong chương trình cứu chuộc của Ngài. Và tối hậu, trong trạng thái đời đời, hết thảy các lời hứa nầy sẽ thành ra sự thật cho hết thảy những người tin Chúa.