Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

21 – Cuộc Tàn Sát Của Sa-tan: Tiếng Loa Thứ Sáu (Kh 9:13-21)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

Vị thiên sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đang cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát. Bốn vị thiên sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người. Số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe. Kìa trong sự hiện thấy, tôi thấy những ngựa và kẻ cỡi ra làm sao: những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu hoàng; đầu ngựa giống như dầu sư tử, và miệng nó có phun lửa, khói và diêm sanh. Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn đó, là lửa, khói, và diêm sanh ra từ miệng ngựa. Vì quyền phép của những ngựa ấy ở nơi miệng và đuôi nó; những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người. Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được. Chúng nó cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình nữa. (Kh 9:13-21)

Nhân loại nằm giữa hai bầu khí quyển thuộc linh đối ngược rất mạnh mẽ, mỗi bên đều tìm cách làm cho người ta thích nghi với chính bên mình. Không một ai trung lập trong chiến tranh vũ trụ; mọi người đều là một phần của “quyền của sự tối tăm” hoặc “nước của Con rất yêu dấu Ngài” (Co 1:13). Khi họ phục theo bên nầy hay bên kia, người ta trở thành bạn đồng hành của Đức Chúa Trời, hoặc các sứ của Sa-tan; những người đồng hành với các thiên sứ thánh, hoặc đồng hành với ma quỉ; bạn đồng hành với các thánh đồ, hoặc bạn đồng hành của hạng tội nhân.

E rằng bất cứ ai cũng có thể phạm phải sai lầm trầm trọng nhất, vì đưa ra sự chọn lựa sai lầm kết quả trong tai vạ đời đời. Đức Chúa Trời hiến cho người ta Tin lành ban sự sống của Đức Chúa Jêsus Christ; Sa-tan cùng các thế lực của địa ngục đưa người ta đến chỗ huỷ diệt của họ bằng cách treo lủng lẳng trước mặt họ “sự vui sướng của tội lỗi” (He 11:25). Tiếng nói vang vang của địa ngục luôn luôn muốn dập tắt, lấn át sự rao giảng của đạo Tin lành.

Sẽ có một ngày khi tiếng kêu gào của địa ngục sẽ lớn đến mức không thể cưỡng lại được. Người ta trong thời điểm đó sẽ bỏ qua lời giảng dạy đầy năng quyền và lặp đi lặp lại của Tin lành và lời cảnh cáo được chuyển tải bởi những sự phán xét khủng khiếp, tàn phá đến từ Đức Chúa Trời. Sau khi chối bỏ mọi sự ban hiến của ân điển và lòng thương xót, họ sẽ nhìn thấy sự chết giáng trên nhân loại qua các sự phán xét bằng tiếng loa và cái bát, là những điều mang lại cái chết trên quy mô chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, dầu khi ấy họ sẽ không chịu ăn năn; trên thực tế, họ sẽ rủa sả Đức Chúa Trời (đối chiếu 9:20-21; 16:9, 11). Người ta ở thời điểm đó sẽ đưa ra sự lựa chọn không đổi song hành với các thế lực của địa ngục.

Trong khi sẽ có những sự phán xét thiêng liêng trong suốt Kỳ Đại Nạn 7 năm, chúng sẽ leo thang trong ba năm rưỡi sau cùng — thời điểm Chúa Jêsus gọi là “hoạn nạn lớn” (Mat 24:21; đối chiếu Kh 7:14). Như đã bàn luận trong các chương trước đó, những sự phán xét này sẽ được mở ra tuần tự trong ba loạt chồng chéo lên nhau: những cái ấn, các tiếng loa, và mấy cái bát. Từ cái ấn thứ bảy ra 7 sự phán xét bằng tiếng loa, và từ tiếng loa thứ bảy mà có 7 sự phán xét bằng cái bát.

Giống như tiếng loa thứ năm (9:1-12), tiếng của tiếng loa thứ sáu báo hiệu một cuộc tấn công khác, dữ dội hơn nữa giáng trên nhân loại tội lỗi. Cuộc tấn công này, không giống như cuộc tấn công trước đó, đem lại sự chết chóc. Nó mở ra trong ba chặng: thả ma quỉ ra, sự trở lại của cái chết, và phản ứng thách thức.

MA QUỈ ĐƯỢC THẢ RA

Vị thiên sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đang cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát” (Kh 9:13-14)

Khi Giăng xây lại, vào thời điểm đã được ấn định, vị thiên sứ thứ sáu thổi loa. Ngay lập tức Giăng nghe có tiếng. Bản Hy-lạp sát nghĩa đọc là: “một giọng nói”, nhấn mạnh rằng Giăng đã nghe thấy một giọng đơn độc. Giọng nói ấy không được xác định, nhưng đó có thể là giọng của Chiên Con, là Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài được phác hoạ trước đó đang đứng gần bên ngai (5:6), khi Ngài cầm cuộn sách có đóng dấu 7 ấn từ tay Đức Chúa Cha (5:7) rồi mở mấy cái ấn đó ra (6:1), như vậy việc thả ra hàng loạt sự phán xét mà trong đó tiếng loa thứ sáu là một phần. Hoặc đây có thể là giọng của một thiên sứ mà Giăng nhìn thấy đang đứng gần ngai bằng vàng bàn thờ xông hương bằng vàng (8:3).

Trong khi xác định nguồn gốc của tiếng ấy là bất khả thi, vị trí của tiếng ấy là: tiếng ấy ra từ bốn cái sừng (sừng nhỏ nhô ra ở mỗi góc) của bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Giăng đã từng nhìn thấy bàn thờ này, một bản sao thiên thượng đối với bàn thờ xông hương thời Cựu Ước, hai lần trước sự mặc thị của ông. Trong đền tạm và đền thờ, bàn thờ này là chỗ xông hương, tượng trưng cho những lời cầu nguyện của dân sự xin sự thương xót bay lên Đức Chúa Trời. Nhưng trong sự mặc thị của Giăng, bàn thờ bằng vàng đã trở thành bàn thờ cầu thay, khi các thánh đồ đã tuận đạo ở đó nài xin Đức Chúa Trời báo thù cho những kẻ giết họ (6:9-11). Thế rồi ở 8:5, nó trở thành bàn thờ của sự phán xét, khi một thiên sứ cầm lấy “lư hương, dùng lửa nơi bàn thờ bỏ đầy vào, rồi quăng xuống đất“. Hành động của Ngài đề ra bối cảnh cho các phán xét bằng tiếng loa, là điều nối ngay theo sau.

Bàn thờ xông hương chính được mô tả chi tiết ở Xu 30:1-10:

Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn thờ bằng cây si-tim, để xông hương. Mặt bàn sẽ vuông, bề dài một thước, bề ngang một thước, và bề cao hai thước; bàn thờ sẽ có bốn sừng ló ra. Ngươi hãy bọc vàng ròng trên mặt, bốn cạnh chung quanh và các sừng; còn tứ vi chạy đường viền vàng. Dưới đường viền đó, nơi hai bên, hãy làm hai cái khoen bằng vàng, để xỏ đòn dùng đặng khiêng. Hãy chuốt đòn khiêng bằng cây si-tim, bọc vàng. Ngươi sẽ để bàn thờ đó trước bức màn che hòm bảng chứng đối cùng nắp thi ân trên hòm, là nơi ta sẽ gặp ngươi. Mỗi buổi sớm mai, khi A-rôn làm đèn, sẽ xông hương tại nơi đó. Vào lúc chiều tối, khi A-rôn thắp đèn, cũng sẽ xông hương: ấy là một thứ hương phải xông trước mặt Đức Giê-hô-va luôn luôn, trải qua các đời. Trên bàn thờ nầy chớ xông hương lạ, hoặc dâng của lễ thiêu, của lễ chay hay là lễ quán nào hết. Nhưng trải qua các đời, mỗi năm một lần, A-rôn sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tôi, bôi trên sừng bàn thờ nầy đặng chuộc tội cho nó. Ấy sẽ là một việc rất thánh cho Đức Giê-hô-va.

Như đã được lưu ý trong phần bàn luận ở 8:4-5 trong chương 18 của sách này, bàn thờ xông hương được đặt ngay trước bức màn phân biệt Nơi Chí Thánh, ở đó sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự, đối với Nơi Thánh. Không một ai trừ ra thầy tế lễ thượng phẩm có thể bước vào Nơi Chí Thánh và người chỉ vào nhằm Ngày Chuộc Tội. Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm được phép bước vào Nơi Thánh, và được truyền cho phải xông hương trên bàn thờ vào buổi sáng và buổi chiều. Trong khi các thứ của lễ thường không được dâng lên trên bàn thờ xông hương, thầy tế lễ thượng phẩm buộc mỗi năm một lần phải dâng của lễ chuộc tội. Điều đó minh hoạ cho lẽ thật quan trọng của Kinh Thánh cho rằng sự chuộc tội cung ứng cơ sở cho sự cầu nguyện, thờ phượng và thông công Đức Chúa Trời. Không một người nào mà tội lỗi của họ chưa được chuộc có được quyền tiếp cận với Đức Chúa Trời.

Ngạc nhiên thay, đã có những lời phán xét đến từ bàn thờ hiệp với sự thương xót. Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hay thương xót, giàu ơn và cảm thông, song “Thần của Ngài sẽ chẳng ở cùng với con người luôn đâu” (Sáng thế ký 6:3). Khi sự phán xét bằng tiếng loa này diễn ra, thời điểm dành cho lòng thương xót sẽ trôi qua; bàn thờ của sự thương xót sẽ trở thành bàn thờ của sự phán xét. Hạng người tội lỗi sau cùng sẽ chối bỏ hoàn toàn sự ban hiến ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Theo lời của tác giả thơ Hêbơrơ:

Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay! (He 10:28-31).

Tiếng ấy từ bề mặt bàn thờ ở giữa bốn góc nhô ra rõ ràng đã truyền cho vị thiên sứ thứ sáu thổi loa: “Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát”. Bốn thiên sứ đó bị trói chỉ ra rằng họ là ma quỉ (đối chiếu 20:1…; IIPhi 2:4; Giu 1:6), vì các thiên sứ thánh không có một chỗ nào trong Kinh thánh nói họ bị trói cả. Vì các thiên sứ thánh luôn luôn bày tỏ ra ý chỉ hoàn hảo của Đức Chúa Trời, chẳng cần cho Ngài phải kềm chế họ đi ngược lại ý muốn của Ngài. Sự tễ trị của Đức Chúa Trời đối với các thế lực ma quỉ là trọn vẹn — chúng bị trói hoặc thả đều theo mạng lịnh của Ngài. Thì phân từ hoàn thành được dịch là trói ngụ ý rằng bốn vị thiên sứ này bị trói trong quá khứ với những hậu quả liên tục; họ đã ở trong trạng thái hoặc tình trạng nô lệ cho đến khi thời điểm quyết định của Đức Chúa Trời đã đến cho họ được thả ra để thực thi chức năng của họ như là công cụ của sự phán xét thiêng liêng.

Bối cảnh tù đày của bốn vị thiên sứ rất là quen thuộc — sông cái Ơ-phơ-rát (đối chiếu Phu 1:7; Gios 1:4). Nhô lên từ các nguồn gần Núi A-ra-rát ở Thổ Nhĩ Kỳ, sông Ơ-phơ-rát chảy hơn 1.700 dặm trước khi đổ vào Vịnh Ba-tư. Đây là con sông dài nhất và quan trọng nhất ở vùng Trung Đông và nổi bật trong Kinh Cựu Ước. Đây là một trong bốn con sông trong đó con sông chảy ra từ Vườn Ê-đen (Sa 2:14). Chính gần sông Ơ-phơ-rát mà tội lỗi bắt đầu, lời nói dối đầu tiên đã được thốt ra, vụ giết người đầu tiên đã phạm phải, và tháp Ba-bên (nguồn gốc của sự phức tạp toàn bộ các tôn giáo giả mạo lan tải khắp thế gian) đã được dựng lên. Sông Ơ-phơ-rát là biên giới phía đông của Đất Hứa (Sa 15:18; Xu 23:31; Phu 11:24), và ảnh hưởng của Israel kéo dài tới sông Ơ-phơ-rát trong đời trị vì của David (I Sử ký 18:3) và Vua Solomon (IISu 9:26). Khu vực gần sông Ơ-phơ-rát là vị trí trung tâm của ba cường quốc thế giới đã lấn lướt Israel: A-si-ri, Ba-by-lôn và Mê-đi Ba-tư. Chính trên hai bờ sông Ơ-phơ-rát, Israel đã phải chịu đựng bảy mươi năm dài, cay đắng trong cảnh phu tù (Thi 137:1-4). Chính dòng sông nầy những kẻ thù của Đức Chúa Trời sẽ vượt qua để tham chiến trong chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn (16:12-16).

Cách sử dụng mạo từ xác định cho thấy rằng bốn vị thiên sứ này tạo thành một nhóm cụ thể. Lai lịch đặc biệt của họ không được tiết lộ, nhưng có thể họ là ma quỉ kiểm soát bốn đế chế chính trên thế giới của Ba-by-lôn, Mê-đi Ba-tư, Hy-lạp và Rô-ma. Đaniên 10 cung ứng cái nhìn sâu sắc về chiến tranh giữa các thiên sứ thánh và ma quỉ ảnh hưởng đến từng quốc gia. Trong câu 13, một thiên sứ thánh đã nói cho Đa-ni-ên biết rằng: “Song vua nước Phe-rơ-sơ đã ngăn trở ta trong hai mươi mốt ngày; nhưng, nầy Mi-ca-ên là một trong các quan trưởng đầu nhất, đã đến mà giúp đỡ ta, và ta ở lại đó với các vua Phe-rơ-sơ”. Thế rồi, trong câu 20, ông nói thêm: “Ngươi có biết tại sao ta đến cùng ngươi chăng? Bây giờ ta trở về để đánh trận cùng vua của Phe-rơ-sơ, và khi ta đi, kìa, vua của Gờ-réc sẽ đến”. Bất kể họ là ai, bốn vị thiên sứ sa ngã này kiểm soát một đạo binh ma quỉ khổng lồ chuẩn bị cho chiến tranh chống lại loài người sa ngã khi Đức Chúa Trời thả họ ra để làm công việc ấy. Các lực lượng của Sa-tan tưởng họ đang làm công việc của cấp lãnh đạo ma quỉ và ngăn trở các mục đích của Đức Chúa Trời, thật ra lại là các tôi tớ của Đức Chúa Trời đang làm chính xác những gì Ngài muốn thực thi.

SỰ TRỞ LẠI CỦA SỰ CHẾT

Bốn vị thiên sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người. Số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe. Kìa trong sự hiện thấy, tôi thấy những ngựa và kẻ cỡi ra làm sao: những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu hoàng; đầu ngựa giống như đầu sư tử, và miệng nó có phun lửa, khói và diêm sanh. Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn đó, là lửa, khói, và diêm sanh ra từ miệng ngựa. Vì quyền phép của những ngựa ấy ở nơi miệng và đuôi nó; những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người. (Kh 9:15-19)

Sự chết, là thứ đã có được một kỳ nghỉ dưới tiếng loa thứ năm (9:5-6), giờ đây trở lại với một sự báo thù. Bốn vị thiên sứ (các đấng bị trói ở sông Ơ-phơ-rát, câu 14) đã chực sẵn bởi Đức Chúa Trời đến giờ, ngày, tháng và năm ấy (đối chiếu Mat 24:36) được cổi trói. Đúng thời điểm chính xác vào năm, tháng, ngày và giờ chính xác đã định trước được kêu gọi theo chương trình tễ trị của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ thả bốn vị vua cao cấp này ra để Ngài có thể sử dụng họ trong sự phán xét thế gian của Ngài đang diễn ra.

Mục đích gây sốc, kinh khiếp cho việc thả cấp lãnh đạo ma quỉ nầy ra và các sứ của họ hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người (“dân sự trên đất”, 8:13). Sự phán xét của cái ấn thứ tư đã giết hết một phần tư dân số thế giới (6:8); điều này bổ sung một phần ba khiến số người chết từ hai lần phán xét cho thấy có đến hơn một nửa dân số đông đảo của đất. Tổng số đáng kinh ngạc đó chưa kể đến những người đã thiệt mạng trong những lần phán xét bằng cái ấn và tiếng loa khác nữa. Sự nhấn mạnh lặp đi lặp lại trong các lần phán xét bằng tiếng loa về một phần ba (đối chiếu 8:7-12) biểu hiện một cách thuyết phục rằng đây là những lần phán xét thiêng liêng chính xác được tễ trị, chớ không chỉ là thiên tai.

Việc tàn sát khủng khiếp sẽ phá hoại hoàn toàn xã hội loài người. Nan đề xử lý các xác chết sẽ không thể nào lường được. Mùi hôi thối của các xác chết đang phân hủy sẽ thấm sâu vào thế giới, và cần có một nỗ lực to lớn nơi phần của người sống sót lo chôn chúng trong các mộ địa tập thể hoặc thiêu đốt chúng. Cách thức ma quỉ gây ra sự chết chóc cụ thể được tiết lộ trong câu 18.

Để giết chết hơn một tỉ người sẽ đòi hỏi một lực lượng hùng mạnh không thể tưởng tượng được. Giăng tường trình rằng số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu. Đây có thể là một con số chính xác, hoặc nhiều thông số kỹ thuật, như các thông tin được sử dụng trong 5:11 và 7:9, đã được sử dụng. Khi ấy, giống như thể một số độc giả hoài nghi sẽ nghi ngờ rằng số lượng quá lớn, Giăng nhấn mạnh khẳng định vào độ chính xác của con số, ông làm chứng như sau: “Số đó tôi đã nghe”. Thêm vào với ma quỉ sống trên đất trong suốt lịch sử, “các thần dữ ở các miền trên trời vậy“ (Eph 6:12) mới vừa bị quăng xuống đất (đối chiếu 9:1; 12:4), và vô số ma quỉ bị trói được thả ra khỏi vực sâu khi nghe tiếng loa thứ năm trổi lên thì có một đạo binh 200.000.000 ma quỉ rất dữ dằn. Việc sử dụng đạo quân ở số nhiều có thể ngụ ý rằng lực lượng tấn công sẽ được chia thành bốn đạo quân, mỗi đạo quân được chỉ huy bởi một trong những con quỉ bị trói trước đây.

Có người cho rằng đây là đạo quân con người được đề cập đến trong 16:12 và do “các vua đông phương cầm đầu”, lưu ý rằng quân đội Trung Hoa Đỏ kê sổ báo cáo con số 200 triệu trong thập niên 1970. Nhưng không có một tham khảo nào được thực hiện với quy mô quân đội được lãnh đạo bởi các vua Đông phương cầm đầu. Hơn nữa, đạo quân đó đã đến với bối cảnh trong sự phán xét cái bát thứ sáu, diễn ra trong suốt tiếng loa thứ bảy chứ không phải thứ sáu. Mặc dù có lúc một đội quân hiện có với con số 200 triệu, tính bất khả thi trong việc cung cấp và vận chuyển một lực lượng rộng lớn như thế trên khắp thế giới hết thảy cũng luận lẽ chống lại số quân này là quân đội của con người. Ngôn ngữ biểu tượng thường mô tả bầy ngựa của quân đội này cho thấy đây là một lực lượng siêu nhiên thay vì lực lượng của con người, cũng như sự thực cho thấy rằng nó được chỉ huy bởi bốn con quỉ mới vừa được thả ra.

Trước khi mô tả bầy ngựa, các đại biểu thực sự của sự huỷ diệt, Giăng mô tả ngắn gọn những kẻ cỡi trên chúng. Ông lưu ý rằng những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu hoàng. Màu lửa là màu đỏ; màu tía, màu xanh đen hoặc đen như khói; màu của lưu huỳnh, màu vàng lưu huỳnh, mô tả loại đá, khi cháy, tạo ra ngọn lửa cháy và khí gas làm nghẹt thở. Đó là màu sắc và đặc điểm chính của địa ngục (đối chiếu 14:10; 19:20; 20:10; 21:8), và chúng tô vẽ một bức tranh kinh hoàng về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống trên thế gian tội lỗi bởi bầy quỉ này. Những sắc màu này gợi nhớ lại sự huỷ diệt Sô-đôm, Gô-mô-rơ, và các thành phố lân cận (Sa 19:24-28).

Ngựa thường được gắn với chiến tranh trong Kinh thánh (thí dụ, Xu 14:9…; Phu 11:4; 20:1; Gios 11:4; ISa 13:5; IISa 1:6; 8:4; Thi 33:17; Ch 21:31; Es 5:28; Gie 6:23; Exe 23:23–24; 38:4, 15; Da 11:40; Os 1:7; Gio 2:4; Na 3:2-3), nhưng rõ ràng đây không phải là thứ ngựa đích thực đâu. Sử dụng ngôn ngữ có tính cách mô tả trong sự mặc thị, Giăng lưu ý rằng đầu ngựa giống như đầu sư tử. Giống như bầy sư tử, lực lượng ma quỉ dữ dằn, không ngừng nghỉ, quyết đoán và tàn sát các nạn nhân của chúng. Giăng lưu ý ba cách thức bầy ngựa ma quỉ giết chết các nạn nhân của chúng, hết thảy mọi sự nầy phác hoạ sự giận dữ, tàn phá rất bạo lực của địa ngục. Chúng đốt họ bằng lửa, và gây cho họ phải ngạt thở bằng khói và diêm sanh. Giăng nhìn thấy hậu quả tàn phá của cuộc tấn công gây chết chóc này của ma quỉ là một phần ba loài người bị giết bởi tai nạn đó, là lửa, khói và diêm sanh ra từ miệng ngựa.

Cần phải lưu ý rằng từ ngữ tai nạn sẽ xuất hiện thường xuyên trong phần còn lại của sách Khải huyền (11:6; 15:1, 6, 8; 16:9, 21; 18:4, 8; 21:9; 22:18) như một thuật ngữ nói tới những sự phán xét sau cùng mang tính huỷ diệt. Giống như thể phần mô tả ông đã đưa ra rồi là chưa đáng sợ đủ, Giăng nhìn thấy nhiều điều nữa về sức mạnh gây chết người của ma quỉ. Ông được cho biết rằng không những chỉ có quyền phép ra từ miệng của ngựa, mà còn ở đuôi của chúng nữa. Sau khi ví đầu ngựa với loài sư tử hoang dã, Giăng lưu ý rằng những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người. Đuôi của con ngựa không phải là loài rắn đích thực đâu, bởi vì ngựa nầy chẳng phải là giống ngựa đích thực. Con ngựa được xức dầu với thế lực chiến tranh, sư tử với sức mạnh nguy hiểm, ác độc, con rắn có chất độc gây chết người. Những hình ảnh này mô tả tính cách chết chóc siêu nhiên của lực lượng ma quỉ này theo những thuật ngữ được hiểu phổ thông trong lãnh vực thiên nhiên. Không giống như nọc độc của loài bọ cạp gây ra trong cuộc tấn công của ma quỉ trước đây (9:5), sự rắn độc cắn do đạo binh nầy sẽ gây ra nhiều tử vong.

PHẢN ỨNG THÁCH THỨC

Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được. Chúng nó cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình nữa. (Kh 9:20-21)

Sự chết mất một phần ba dân số còn lại của địa cầu sẽ là tai hoạ thảm khốc nhất đánh vào địa cầu kể từ thời Nước Lụt. Tuy nhiên, trong một sự tỏ ra đáng kinh ngạc về sự cứng lòng, Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn. Thật là khó tưởng tượng, sau nhiều năm chịu khổ và chết chóc dưới những sự phán xét khủng khiếp đến từ Đức Chúa Trời, cùng với sự rao giảng Tin lành đầy năng quyền của 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái (7:1-8), hai chứng nhân (11:1-14), thiên sứ trên trời (14:6-7), và các tín đồ khác (Mat 24:14), những người sống sót vẫn từ chối không chịu ăn năn. Giống như những kẻ chối bỏ Chúa Jêsus xem khinh việc nhìn thấy các phép lạ của Ngài, không chịu nghe theo lời giảng dạy đầy năng quyền của Ngài và rao giảng về sự sống lại của Ngài, họ sẽ làm ứng nghiệm “lời nầy của đấng tiên tri Ê-sai: Lạy Chúa, ai đã tin lời giảng chúng tôi, Và cánh tay Chúa đã tỏ ra cho ai? Vả lại, chúng không thể tin, vì Ê-sai lại có nói rằng: Ngài đã khiến mắt họ mù, lòng họ cứng, Hầu cho mắt chẳng thấy, lòng chẳng hiểu, Không tự hối cải, Và ta chẳng chữa lành cho“ (Gi 12:38-40). Sau khi không chú ý đến lời cảnh báo của Kinh Thánh: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng“ (He 4:7), họ sẽ bị hư mất (Kh 16:9, 11). Đáng buồn thay, họ sẽ chọn thờ lạy con rồng và con thú (Anti-christ) thay vì Chiên Con (đối chiếu 13:4-8).

Khi ông kết luận câu chuyện nói tới sự mặc thị đáng kinh ngạc nầy, Giăng liệt kê ra năm tội lỗi tiêu biểu cho sự phản ứng của những người đã từ chối không chịu ăn năn. Thứ nhất, họ không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được (đối chiếu Phu 4:28; Thi 115:5-7; 135:15-17). Kể từ khi có Sự Sa Ngã, con người thực hành sự thờ lạy hình tượng, thờ lạy các công việc bởi tay chúng nó làm ra. Cụm từ này được sử dụng trong Kinh Thánh đề cập đến các hình tượng (đối chiếu Phu 27:15; 31:29; IIVua 19:18; 22:17; IISu 32:19; 34:25; Thi 135:15; Es 2:8; 17:8; 37:19; Gie 1:16; 25:6, 7, 14; 32:30; 44:8; Os 14:3; Mi 5:13; Ag 2:14; Cong 7:41). Trong những thời xa xưa (và ngay cả trong một số xã hội ngày nay), người ta thực sự thờ lạy các thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được (xem những lời lăng mạ khinh thường của Đức Chúa Trời về sự điên rồ tội lỗi như thế trong Thi 115:1-8; Es 40:19-20; 44:8-20; Gie 10:3-5; Da 5:23; đối chiếu Ro 1:18-32). Còn thờ lạy bất kỳ hình tượng hay tà thần giả dối nào cũng là thờ lạy ma quỉ (Phu 32:17; Thi 106:37). Bản Kinh Thánh 70, (bản dịch Cựu Ước tiếng Hy-lạp) đề cập đến Thi 96:5, chép như sau: “Vì những thần của các dân đều là hình tượng”. Sứ đồ Phao-lô tuyên bố rằng “nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ“ (ICo 10:20). Khi người ta thờ lạy hình tượng, những vị thần không tồn tại, ma quỉ tồn tại sẽ giả mạo các vị thần đó và giữ những kẻ thờ lại hình tượng làm phu tù cho quyền lực và sự lừa dối của ma quỉ. Các tôn giáo giả không phải là vô nghĩa về sự siêu nhiên đâu; họ đầy ắp nó — bởi vì họ là những cơ hội tốt nhất cho ma quỉ bắt linh hồn làm phu tù. Đây là những pháo đài của IICo 10:4-5, chúng phải bị tấn công bằng lẽ thật nếu linh hồn cần được giải phóng.

Ở một điểm tương lai trong lịch sử thế giới, sự thờ lạy hình tượng, hình thức huyền bí, hình thức tâm linh, hình thức của Sa-tan và tất cả các hình thức tôn giáo sai lầm khác sẽ trở thành đại dịch, vì ma quỉ dẫn người ta vào cách ăn ở hung dữ hơn. Sự gian ác không kiềm chế, ngày càng leo thang sẽ chạy êm ả như chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử nhân loại (đối chiếu ITi 4:1; IITi 3:1-5, 13). Kết quả là, thêm vào sự thờ lạy hình tượng, các loại tội phạm bạo lực như giết người sẽ tràn lan. Bị mất trí theo bất kỳ ý nghĩa đạo đức nào, hạng người gian ác không chịu ăn năn sẽ bắt chước tư dục làm đổ máu khi giết chóc của bầy ma quỉ. Những người tin theo Đức Chúa Trời chơn thật chắc chắn sẽ là mục tiêu hàng đầu của họ, khi họ chửi rủa tìm cách báo thù cho những tai hoạ mà Thiên Chúa đã giáng trên họ.

Giăng mô tả tội lỗi thứ ba mà sự mặc thị của ông tỏ ra sẽ là đặc điểm cho thời kỳ bi thảm đó là tà thuật, một từ Hy-lạp mà từ đó Anh ngữ có từ “pharmacy” [dược khoa] và “pharmaceuticals” [bào chế dược khoa]. Ma tuý đã và vẫn đang còn được tin tưởng để tạo ra một trạng thái tôn giáo cao hơn trong sự thông công với các thần. (Về sự bàn luận những thực tiễn như vậy, hãy xem Ephesians, MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1986], 229-34). Pharmak¯on cũng đề cập đến các chất độc, bùa mê thuốc lú, phù thủy, thần chú, phép thuật, liên hệ với đồng cốt, hoặc bất cứ vật gì gắn liền với sự thờ lạy hình tượng tà giáo để gợi lên ham muốn hoặc quyến rũ. Người ta sẽ chìm sâu xuống những bẫy dò của Sa-tan trong tôn giáo giả tạo.

Tội thứ tư mà từ đó người chưa được tái sanh sẽ từ chối không chịu xây lại là gian dâm. Porneia là từ gốc của từ “pornography” [khiêu dâm] trong tiếng Anh. Đây là thuật ngữ chung mô tả tội lỗi tình dục của từng loại, bao gồm gian dâm, ngoại tình, hãm hiếp, và đồng tính luyến ái. Những ảo giác tình dục không thể mô tả hết sẽ tràn ngập trong thời đó.

Sau cùng, người ta sẽ từ chối không chịu ăn năn về sự trộm cướp. Giống như đạo đức, sự trung thực sẽ không còn tồn tại, khi người ta cạnh tranh về nguồn cung lương thực, quần áo, nước uống, nơi ở và thuốc men ngày càng khan hiếm.

Dưới ảnh hưởng lớn lao của các thế lực ma quỉ, thế giới sẽ rơi vào tình trạng tôn giáo giả mạo, giết người, rối loạn về tình dục, và tội phạm chưa từng có trong lịch sử loài người. Thật là tỉnh táo khi nhận ra rằng một ngày kia Chúa sẽ đến “đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài” (Giu 1:15). Trong ánh sáng của sự phán xét hầu đến, đây là trách nhiệm của hết thảy những ai tin Chúa là phải trung tín rao giảng Tin lành cho những người chưa tin, qua đó “rút họ ra khỏi lửa“ (Giu 1:23).

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme