Đoạn, tôi lại thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chân như trụ lửa. Người cầm nơi tay một quyền sách nhỏ mở ra: người để chân hữu mình trên biển, chân tả mình trên đất, và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư tử rống: khi kêu tiếng đó rồi thì bảy tiếng sấm rền lên. Lại khi bảy tiếng sấm rền lên rồi, tôi có ý chép lấy, nhưng tôi nghe một tiếng ở từ trời đến phán rằng: Hãy đóng ấn, những điều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi. Bấy giờ vị thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời, chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển, mà thề rằng không còn có thì giờ nào nữa; nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời, lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất. Vậy, tôi đi tới vị thiên sứ và xin người cho tôi quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật. Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên sứ và nuốt đi; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng. Có lời phán cùng tôi rằng: Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa. (Kh 10:1-11)
Một thắc mắc đã làm cho dân sự của Đức Chúa Trời phải bối rối trong suốt lịch sử, ấy là tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép điều ác trên thế gian. Kẻ ác thường tỏ ra họ thịnh vượng. Tội lỗi dường như đi hoang và không ai kiểm soát được. Ai nấy đều thắc mắc, tại sao Đức Chúa Trời chưa chấm dứt mọi vụ giết chóc, đồi bại, và hỗn loạn trên thế gian? Tại sao Ngài lại để cho con cái của Ngài phải chịu khổ chứ? Khi nào thì sự công bình thiêng liêng sẽ thắng hơn và người công bình sẽ được giải cứu và kẻ ác sẽ bị hình phạt?
Ở giữa những thử thách của ông, Gióp đã than phiền rằng: “Trại của kẻ cướp được may mắn, những kẻ chọc giận Đức Chúa trời ở bình an vô sự … Cớ sao kẻ gian ác sống, trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?” (Giop 12:6; 21:7). Tác giả Thi thiên thường thắc mắc tại sao Đức Chúa Trời lại dung chịu hạng người gian ác. Trong Thi 10:1-5, tác giả Thi thiên đã thắc mắc với Đức Chúa Trời:
Đức Giê-hô-va ôi! vì cớ gì Ngài đứng xa, Lúc gian truân tại sao Ngài ẩn mình đi? Kẻ ác, vì lòng kiêu ngạo, hăm hở rượt theo người khốn cùng; Nguyện chúng nó phải mắc trong mưu chước mình đã toan. Vì kẻ ác tự khoe về lòng dục mình; Kẻ tham của từ bỏ Đức Giê-hô-va, và khinh dể Ngài. Kẻ ác bộ mặt kiêu ngạo mà rằng: Ngài sẽ không hề hạch hỏi. Chẳng có Đức Chúa Trời: kìa là tư tưởng của hắn. Các đường hắn đều may mắn luôn luôn; Sự đoán xét của Chúa cao quá, mắt hắn chẳng thấy được.
A-sáp than vãn: “Đức Chúa Trời ôi! kẻ cừu địch sẽ nói sỉ nhục cho đến chừng nào? Kẻ thù nghịch há sẽ phạm danh Chúa hoài sao? Sao Chúa rứt tay lại, tức là tay hữu Chúa? Khá rút nó ra khỏi lòng, và tiêu diệt chúng nó đi!” (Thi 74:10-11). Ở một Thi thiên khác, A-sáp khẫn cầu: “Đức Chúa Trời ôi! xin chớ làm thinh. Đức Chúa Trời ôi! xin chớ nín lặng, chớ đứng yên. Vì, kìa, các kẻ thù nghịch Chúa náo loạn, và những kẻ ghét Chúa ngước đầu lên” (Thi 83:1–2). Trong Thi 94:3-4 một tác giả Thi thiên than phiền với Đức Chúa Trời: “Hỡi Đức Giê-hô-va, kẻ ác sẽ được thắng cho đến chừng nào? Chúng nó buông lời nói cách xấc xược. Những kẻ làm ác đều phô mình”.
Đồng thanh với tiếng kêu của Tác giả Thi thiên, Giê-rê-mi cầu nguyện:
Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biện luận cùng Ngài, Ngài thật công bình; dầu vậy, tôi còn muốn biện luận cùng Ngài. Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng? Sao những người gian trá được yên ổn? Ngài đã vun trồng họ; họ đã đâm rễ, lớn lên và ra trái. Miệng họ ở gần Ngài, song lòng họ cách xa Ngài. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài biết tôi, thấy tôi, thử xem lòng tôi đối với Ngài thể nào. Xin kéo những người ấy như con chiên bị dắt đến chỗ giết, biệt riêng họ ra cho ngày đánh giết! (Gie 12:1-3)
Ha-ba-cúc khẳng định: “Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi?” (Ha 1:13). Các thánh đồ tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn ở trên trời kêu gào với Đức Chúa Trời: “Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?” (Kh 6:10).
Mọi đau đớn, đau khổ, khổ sở mà điều ác trong thế gian gây ra cho người tin kính khiến cho họ phải ao ước Đức Chúa Trời can thiệp. Một ngày sẽ đến khi Ngài sẽ phá vỡ sự im lặng của Ngài, một ngày khi mọi mục đích của Đức Chúa Trời liên quan đến con người và thế gian sẽ được hoàn thành. Vào thời điểm đó, Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm và thiết lập vương quốc trên đất của Ngài. Người sẽ trị vì một cách công bình, với “cây gậy sắt” (Thi 2:9), và “thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển” (Es 11:9). Hết thảy những ai vô thần, những ai không có ý thức, cùng những kẻ nhạo báng họ chế nhạo tư tưởng cho rằng Đấng Christ sẽ tái lâm (IIPhi 3:3-4) sẽ phải câm nín đi. Nhiều thập kỷ tội lỗi, dối trá, trộm cắp, giết người, chiến tranh, bắt bớ và sự tuận đạo của dân sự Đức Chúa Trời sẽ kết thúc. Sa-tan cùng các sứ nó sẽ bị trói lại và quăng vào vực sâu trong một ngàn năm (Kh 20:1-3), không còn có khả năng cám dỗ, hành hại, hoặc cáo giác những người tin Chúa nữa. Sa mạc sẽ trở thành một khu vườn trổ đầy hoa (đối chiếu Es 35:1; 51:3; Exe 36:34-35), người ta sẽ sống đời sống rất thọ (Es 65:20), sẽ có sự hoà bình giữa những cựu thù ở mọi cấp độ xã hội — và ngay cả trong vương quốc của động vật (Es 11:6-8). Sự tàn phá của tội lỗi — nhiều tấm lòng tan vỡ, các mối quan hệ gãy đổ, những cuộc hôn nhân tan nát, nhiều gia đình không còn nữa, mơ ước tan tành, con người đổ vỡ — sẽ được chữa lành. Buồn rầu, khổ sở, than khóc và đau đớn sẽ tan biến đi như lớp sương lúc sáng mai trước mặt trời lúc giữa trưa (Kh 7:17; 21:4).
Tiếng loa thứ bảy thổi lên, loan báo sự tái lâm và tễ trị tức thì của Đức Chúa Jêsus Christ, sẽ báo hiệu cho cái ngày đã được chờ đợi lâu nay đó: “Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời” (11:15). Tiếng loa thứ bảy sẽ mở ra những sự phán xét bằng bảy cái bát với lửa lan thật nhanh ngay trước khi Đấng Christ tái lâm trên đất (16:1–21).
Nhưng trước khi tiếng loa thứ bảy trổi lên, sẽ có khoảng thời gian xen giữa từ 10:1 đến 11:14, cho phép Giăng (và độc giả hôm nay) phải dừng lại và thu thập những sự thật đáng kinh ngạc vừa được tiết lộ cho ông. Khoảng trống giữa tiếng loa thứ sáu và thứ bảy tương tự như khoảng thời gian xen giữa trong những sự phán xét của cái ấn và cái bát. Giữa những cái ấn thứ sáu và thứ bảy là khoảng thời gian xen giữa của chương 7; giữa những cái bát thứ sáu và thứ bảy có khoảng thời gian ngắn xen giữa 16:15. Những khoảng thời gian xen giữa nầy khuyến khích dân sự Đức Chúa Trời đang sống giữa cơn thạnh nộ và kinh hoàng của sự phán xét thiêng liêng, và nhắc cho họ nhớ rằng Đức Chúa Trời vẫn đang tễ trị trên mọi biến cố. Trong suốt những khoảng thời gian xen giữa đó, Đức Chúa Trời yên ủi dân sự của Ngài với sự hiểu biết rằng Ngài đã không quên họ, và sau cùng họ sẽ đắc thắng.
Điều này đặc biệt là sự thật: khoảng thời gian dài nhất (với số lượng dành cho nó) trong ba khoảng thời gian xen giữa, khoảng thời gian nầy ở giữa các tiếng loa thứ sáu và thứ bảy (10:1-11:14). Những người tin Chúa còn sống trong thời gian đó sẽ chịu đựng những kinh khiếp không tưởng được của một thế giới điên rồ vì tội lỗi, bị tấn công bởi ma quỉ. Giống như những người tin Chúa trong thời của Ma-la-chi (đối chiếu Ma 3:16-17), họ lo sợ mình bị quét sạch bởi những sự phán xét thiêng liêng đang tàn phá địa cầu. Đức Chúa Trời sẽ an ủi và tái khẳng định với họ rằng Ngài đã không quên họ và rằng Ngài vẫn tễ trị trên mọi biến cố và đang bảo hộ dân sự Ngài.
Chương 10 mô tả các biến cố khai mào của khoảng thời gian xen giữa nầy sửa soạn cho tiếng loa sau cùng trổi lên. Sự việc xảy ra như thế do phần mô tả năm đặc điểm bất thường: một thiên sứ, một hành động, một câu trả lời, một lời tuyên bố, và một sự phân công.
MỘT THIÊN SỨ BẤT THƯỜNG
“Đoạn, tôi lại thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chân như trụ lửa. Người cầm nơi tay một quyển sách nhỏ mở ra” (Kh 10:1-2a)
Như có chép trong sách Khải huyền (xem 4:1; 7:1, 9; 15:5; 18:1; 19:1), eidon (tôi thấy) đánh dấu phần mở đầu của một sự mặc thị mới. Theo sự mặc thị của ông về sáu tiếng loa đầu tiên (8:6 – 9:21), Giăng đã có một sự hiện thấy về một đấng mà trước đó ông không nhìn thấy. Vị thiên sứ có sức mạnh này khác biệt với bảy thiên sứ trổi bảy tiếng loa lên. Sau khi ghi nhận sự tương đồng giữa phần mô tả của ông và phần mô tả của Đấng Christ trong 1:12-17, và Ngài, giống như Đấng Christ, từ trên trời xuống trong đám mây (đối chiếu 1:7), có người xác định thiên sứ này là Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng có một vài yếu tố chống lại việc xác nhận ấy.
Thứ nhất, việc sử dụng allos (khác cùng loại) nhận dạng thiên sứ nầy là một thiên sứ chính xác như các thiên sứ thổi loa đã được nhắc đến trước đây. Nếu Đấng Christ được đề cập đến ở đây, chữ heteros (khác không cùng loại) đáng trông mong, một khi Đấng Christ về bản chất thì khác với các thiên sứ. Đấng Christ không thể được mô tả như một thiên sứ chính xác giống như các thiên sứ khác, một khi họ được dựng nên còn Ngài là Đức Chúa Trời đời đời, là Đấng không được dựng nên.
Thứ hai, bất cứ khi nào Đức Chúa Jêsus Christ xuất hiện trong sách Khải huyền, Giăng cung ứng cho Ngài một tước hiệu không thể nhầm lẫn. Ngài được gọi là “Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian” (1:5), con người (1:13), Đấng trước hết và là Đấng sau cùng (1:17), Đấng Sống (1:18), Con Đức Chúa Trời (2:18), Đấng thánh, chân thật (3:7), Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời (3:14), sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít (5:5), Chiên Con (6:1, 16; 7:17; 8:1), Đấng Trung Tín Và Chân Thật (19:11), Lời Đức Chúa Trời (19:13), và Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa (19:16). Thật là hợp lý khi cho rằng nếu Đấng Christ là vị thiên sứ ở đây thì Ngài sẽ được nhận diện rất khác biệt.
Thứ ba, các thiên sứ có sức mạnh khác, rõ ràng không thể được đồng hóa với Đấng Christ xuất hiện trong Khải huyền (5:2; 18:21). Một khi các thiên sứ khác được xác định như vậy, không có một lý do thuyết phục nào để liên kết tước hiệu đó với Đức Chúa Jêsus Christ. Hơn nữa, trong khi Đấng Christ trước khi hoá thân thành nhục thể xuất hiện trong Cựu Ước trong vai trò Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Tân Ước không có một chỗ nào đề cập đến Ngài là một thiên sứ cả.
Thứ tư, không thể tưởng tượng là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, có thể đưa ra lời thề mà vị thiên sứ này đưa ra ở các câu 5 và 6: “Bấy giờ vị thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời, chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển”. Một khi Ngài là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jêsus Christ phục sinh, được tôn vinh hiển sẽ chỉ chính mình mà thề (đối chiếu He 6:13).
Cuối cùng, vị thiên sứ này đã từ trời xuống. Để xác nhận Ngài là Đấng Christ thì phải thêm một sự hiện đến khác của Đấng Christ trên đất không thấy có ở một chỗ nào khác trong Kinh Thánh, là điều không phù hợp với những phần mô tả của Kinh thánh về Lần Đến Thứ Hai (Mat 24:30; 25:31; IITe 1:7-8).
Các thiên sứ khác được mô tả trong Kinh thánh có cùng một vẻ rực rỡ mà thiên thần này có. Exe 28:11-15 mô tả bề ngoài thiên sứ vinh hiển của Lucifer trước sự loạn nghịch của hắn chống lại Đức Chúa Trời:
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy: Hỡi con người, hãy làm một bài ca thương về vua Ty-rơ và nói cùng người rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi gồm đủ tất cả, đầy sự khôn ngoan, tốt đẹp trọn vẹn. Ngươi vốn ở trong Ê-đen, là vườn của Đức Chúa Trời. Ngươi đã có đầy mình mọi thứ ngọc báu, là ngọc mã não, ngọc vàng lợt, ngọc kim cương, ngọc thủy thương, ngọc sắc biếc, ngọc bích, ngọc sắc chàm, ngọc sắc xanh, ngọc thông hành, cùng vàng nữa. Nghề làm ra trống cơm ống sáo thuộc về ngươi; từ ngày ngươi mới được dựng nên đã sắm sẵn rồi. Ngươi là một chê-ru-bin được xức dầu đang che phủ; ta đã lập ngươi lên trên hòn núi thánh của Đức Chúa Trời; ngươi đã đi dạo giữa các hòn ngọc sáng như lửa. Đường lối ngươi trọn vẹn từ ngày ngươi được dựng nên, cho đến lúc thấy sự gian ác trong ngươi”.
Đaniên đã có sự hiện thấy về một thiên sứ, ông mô tả Ngài là “một người mặc vải gai, chung quanh lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha. Mình người như bích ngọc; mặt người như chớp, và mắt như đuốc cháy; tay và chân như đồng đánh bóng, và tiếng nói như tiếng đám đông” (Da 10:5-6). (Thiên sứ trong sự hiện thấy của Đaniên không phải là Đấng Christ trước khi hoá thân thành nhục thể rất rõ ràng từ sự thực Ngài yêu cầu sự vùa giúp của Mi-ca-ên để đánh trận với ma quỉ, câu 13).
Sau khi giới thiệu vị thiên sứ có sức mạnh này, Giăng mô tả bộ trang phục ngoạn mục của Ngài. Ngài có đám mây bao bọc lấy, mặc lấy chiếc áo choàng của bầu trời trên hai vai mạnh sức của Ngài. Điều đó làm biểu tượng cho quyền phép, sự oai nghi và vinh hiển, và sự thực cho thấy Ngài đến đem theo sự phán xét. Đám mây liên quan đến lần đến thứ hai của Đấng Christ trong sự phán xét ở 1:7; 14:14-16; Mat 24:30; Mac 13:26; 14:62; và Lu 21:27.
Giăng cũng nhìn thấy trên đầu Ngài có cái mống. Iris (cái mống) là nữ thần Hy-lạp được nhân cách hoá bằng cái mống, và phục vụ trong vai trò một sứ giả của các thần. Iris trong tiếng Hy-lạp cổ được sử dụng để mô tả bất kỳ quầng sáng nào ở xung quanh vật thể khác, chẳng hạn như vòng tròn xung quanh con mắt trên đuôi của con công, hoặc mống mắt của con mắt (Marvin R.Vincent, Word Studies in New Testament [Reprint, Grand Rapids : Eerdmans, 1946], 2: 477). Ở đây nó mô tả cái mống rực rỡ, nhiều màu sắc ở xung quanh đầu vị thiên sứ phản chiếu vẻ huy hoàng rực rỡ của Ngài. Cũng một từ đó được sử dụng ở 4:3 để mô tả cái mống vòng quanh ngai của Đức Chúa Trời.
Trong khi đám mây làm biểu tượng cho sự phán xét, cái mống tiêu biểu cho lòng thương xót theo giao ước của Đức Chúa Trời ở giữa sự phán xét (như đã xảy ra trong 4:3). Sau Nước Lụt, Đức Chúa Trời đã ban cái mống làm dấu hiệu cho lời hứa của Ngài không bao giờ phá hủy thế gian bằng nước lụt nữa (Sa 9:12-16). Cái mống mà vị thiên sứ đội sẽ tái bảo đảm với dân sự của Đức Chúa Trời về lòng thương xót của Ngài giữa những phán xét hầu đến. Ma 3:16-4:2 trình bày chính hai mặt này trong lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời về lòng thương xót đối với dân sự Ngài ở giữa sự phán xét:
Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình. Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ phân biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài. Vì nầy, ngày đến, cháy như lò lửa. Mọi kẻ kiêu ngạo, mọi kẻ làm sự gian ác sẽ như rơm cỏ; Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ngày ấy đến, thiêu đốt chúng nó, chẳng để lại cho chúng nó hoặc rễ hoặc nhành. Nhưng về phần các ngươi là kẻ kính sợ danh ta, thì mặt trời công bình sẽ mọc lên cho, trong cánh nó có sự chữa bịnh; các ngươi sẽ đi ra và nhảy nhót như bò tơ của chuồng”.
Chuyển sang mô tả bộ dạng của thiên sứ, Giăng lưu ý trước hết là mặt Ngài giống như mặt trời (đối chiếu 18:1). Sự vinh hiển, sáng láng của Ngài, vượt xa Môi-se (đối chiếu Xu 34:29-35), chiếu sáng cả đất như mặt trời lúc giữa trưa (đối chiếu 18:1). Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy cũng chỉ là một sự phản chiếu nhạt nhòa sự vinh hiển Shechinah của Đức Chúa Trời, là Đấng “ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được“ (ITi 6:16) vì, như Ngài đã phán cùng Môi-se rằng: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà còn sống“ (Xu 33:20). Chính sự vinh hiển thuần khiết đã vụt sáng lên từ gương mặt của Chúa Jêsus đã được tôn cao ở 1:16.
Tiếp theo, Giăng mô tả bàn chân và hai chân của vị thiên sứ như trụ lửa vững chắc, ổn định, không di động. Điều đó tiêu biểu cho sự thánh khiết bất khuất của Ngài trong việc đóng dấu sự phán xét của Ngài trên đất, được mô tả ở đây là lửa thiêu đốt kẻ bất kỉnh (đối chiếu Ma 4:1).
Có người cho rằng việc sử dụng biblaridion (quyển sách nhỏ) trong câu 2 phân biệt quyển sách này với biblion (“quyển sách”) của 5:1. Nhưng cách lý luận đó bỏ qua sự thực biblaridion là hình thức biblion thu nhỏ lại, và biblion cũng được dùng để chỉ quyển sách nhỏ ở 10:8. Thay vì phân biệt quyển sách này với quyển sách ở chương 5, hình thức thu nhỏ chỉ thêm một phần mô tả chi tiết hơn về nó trong sự mặc thị nầy. Quyển sách cần được thu nhỏ lại vì cớ tính cách biểu tượng của sự mặc thị nầy, một khi Giăng đã ăn lấy nó. Việc sử dụng thì phân từ hoàn thành h¯ene¯ogmenon (đã được mở ra) nhấn mạnh ý tưởng cuộn giấy đã được mở ra; sau khi đã được mở ra, nó vẫn còn được giữ mở ra như vậy. Việc nầy xác định nó với cuộn giấy chưa mở ra ở 5:1. Quyển sách nhỏ nằm mở ra trong bàn tay của thiên sứ bất thường này chỉ ra mọi sự kinh khiếp trong sự phán xét thiêng liêng sắp xảy tới.
MỘT HÀNH ĐỘNG BẤT THƯỜNG
“người để chân hữu mình trên biển, chân tả mình trên đất, và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư tử rống: khi kêu tiếng đó rồi thì bảy tiếng sấm rền lên” (Kh 10:2b-3)
Vị thiên sứ ấy đặt một chân trên biển và chân kia trên đất cho thấy kích thước khổng lồ của Ngài từ quan điểm sự mặc thị của Giăng. Một khi chẳng có giới hạn nào được đưa ra trong việc mô tả biển và đất, hành động này của thiên sứ chứng tỏ thẩm quyền tối thượng của Đức Chúa Trời khi phán xét cả đất (đối chiếu 7:2; Xu 20:4, 11; Thi 69:34), là thứ Ngài sẽ sớm lấy lại từ tay kẻ chiếm đoạt, là Sa-tan. Phaolô viết: “bởi chưng đất và mọi vật chứa trong đất đều thuộc về Chúa“ (I Côrinhtô 10:26). Hành động của thiên sứ về mặt biểu tượng loan báo trước những sự phán xét sắp tới của tiếng loa thứ bảy và bảy cái bát trên cả đất.
Trong việc giữ lấy tầm thước khổng lồ của mình, vị thiên sứ và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư tử rống. Tiếng kêu lớn của Ngài phản ánh sức mạnh, sự oai nghi và uy quyền của Đức Chúa Trời. Các vị tiên tri trong Cựu Ước cũng kết nối một tiếng gầm lớn, như sư tử với sự phán xét. Giêrêmi đoán trước việc ấy
“Đức Giê-hô-va quát tháo từ nơi cao; phát tiếng từ chỗ ở thánh Ngài; quát tháo to nghịch cùng chuồng chiên; trổi tiếng kêu như những kẻ đạp trái nho, nghịch cùng hết thảy dân cư trên đất” (Gie 25:30)
Ôsê viết rằng: “Đức Giê-hô-va, Ngài gầm thét như sư tử; Ngài sẽ gầm thét” (Os11:10), đang khi trong lời tiên tri của Giôên: “Đức Giê-hô-va gầm thét từ Si-ôn; Ngài làm cho vang tiếng mình ra từ Giê-ru-sa-lem; các từng trời và đất đều rúng động” (Gio 3:16). Amốt cũng mô tả giọng kêu phán xét lớn tiếng (Am 1:2; 3:8). Điều nầy không có ý nói rằng giọng của thiên sứ đã hét lên không mạch lạc. Thay vì thế, Ngài đang phán rõ ràng nhưng với sức phát âm thật lớn để thu hút sự chú ý và gây ra sợ hãi. Những gì vị thiên sứ thực sự đã phán được ghi lại ở 10:6.
Sau khi vị thiên sứ kêu lên một việc lạ lùng đã xảy ra: bảy tiếng sấm rền lên. Số Bảy nói tới sự trọn vẹn, rốt ráo và hoàn hảo. Sấm thường là dấu hiệu nói tới sự phán xét trong Kinh thánh (đối chiếu 8:5; 11:19; 16:18; ISa 2:10; IISa 22:14; Thi 18:13; Gi 12:28-30). Xu 9:23 ghi lại rằng “Môi-se bèn giơ gậy mình lên trời, Đức Giê-hô-va làm cho sấm động, mưa đá sa, lửa chạy trên mặt đất. Vậy, Đức Giê-hô-va khiến mưa đá sa trên xứ Ê-díp-tô”. ISa 7:10: “Trong ngày đó Đức Giê-hô-va khiến sấm sét nổ vang trên dân Phi-li-tin, làm cho thua vỡ chạy, và chúng nó bị đánh bại trước mặt Y-sơ-ra-ên”. Êsai chép: “Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ dùng sấm sét, động đất, tiếng ầm, gió lốc, bão, và ngọn lửa thiêu nuốt mà thăm phạt nó” (Es 29:6). Bảy tiếng sấm rền, làm lay động, mạnh mẽ kêu lên xin sự báo thù và phán xét cả đất tội lỗi. Sấm được phân biệt với giọng nói của vị thiên sứ và có thể được tiêu biểu cho tiếng của Đức Chúa Trời (đối chiếu ISa 7:10; Thi 18:13). Văn mạch không nói những gì sấm đã nói, nhưng sau khi nghe tiếng sấm ấy chắc chắn nó được thêm vào với sự kinh khiếp của bối cảnh phán xét (đối chiếu 8:5; 11:19; 16:18).
MỘT CÂU TRẢ LỜI BẤT THƯỜNG
Lại khi bảy tiếng sấm rền lên rồi, tôi có ý chép lấy, nhưng tôi nghe một tiếng ở từ trời đến phán rằng: Hãy đóng ấn, những điều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi. (Kh 10:4)
Bảy tiếng sấm rền không những tạo ra một tiếng ồn thật lớn, mà còn truyền đạt thông tin Giăng có ý chép lấy. Trong sự vâng theo các mạng lịnh của Đức Chúa Trời, Giăng đã chép rồi nhiều điều về những gì ông đã nhìn thấy trong sự mặc thị của ông. Trong chương 1, Giăng nói rằng ông “được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa, rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê“ (1:10-11). Sau đó trong chương ấy, Đức Chúa Jêsus Christ đã được phục sinh vinh hiển truyền cho Giăng: “Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến“ (1:19). Giăng cũng được chỉ thị riêng phải viết từng bức thư cho 7 Hội thánh (2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14). Sau đó trong sách Khải huyền, một lần nữa Giăng được truyền cho phải chép những gì ông đã nhìn thấy trong sự mặc thị của ông (14:13; 19:9; 21:5).
Nhưng trước khi Giăng có thể ghi chép sứ điệp của bảy tiếng sấm rền kia, ông đã nghe một tiếng ở từ trời (đối chiếu câu 8; 11:12; 14:2, 13; 18:4) đến phán rằng: Hãy đóng ấn, những điều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi. Trong trường hợp tiếng nói ấy là của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Jêsus Christ, hay một thiên sứ thì không được tiết lộ. Tuy nhiên, mạng lịnh này rõ ràng có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời — chính Đấng đã truyền cho Giăng ghi chép (đối chiếu 22:10). Lý do Giăng bị cấm không được ghi chép sứ điệp của bảy tiếng sấm rền không được tiết lộ. Có thể rằng sự phán xét mà chúng thốt ra cũng rất là ghê khiếp không cho phép lậu ra. Bất kỳ suy đoán nào đối với nội dung cụ thể sứ điệp của chúng đều là vô nghĩa cả; nếu Chúa muốn cho ai nấy đều nhìn biết, Ngài sẽ không cấm Giăng ghi chép đâu.
Đaniên cũng bị cấm không được ghi lại các yếu tố nào đó trong sự hiện thấy của ông. Ở Da 8:26, ông được truyền cho: “Vả, sự hiện thấy về các buổi chiều và các buổi mai mà đã nói đến là thật. Nhưng ngươi hãy giữ kín sự hiện thấy đó, vì nó quan hệ với sau nhiều ngày”. Sau đó ông được truyền cho: “Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi; bởi vì những lời nầy đã đóng lại và đóng ấn cho đến kỳ cuối cùng” (Da 12:9). Sứ đồ Phaolô “được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra” (IICo 12:4).
Có một số lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã chọn không tiết lộ: “Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy” (Phu 29:29); “Đức Chúa Trời phát tiếng và sấm rền ra lạ kỳ; Ngài làm những công việc lớn lao mà chúng ta hiểu không nổi?” (Giop 37:5). Lời lẽ của bảy tiếng sấm rền rơi vào phạm trù đó. Chúng là lời lẽ duy nhứt trong sách Khải huyền đã bị đóng ấn.
LỜI CÔNG BỐ BẤT THƯỜNG
“Bấy giờ vị thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời, chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển, mà thề rằng không còn có thì giờ nào nữa; nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri” (Kh 10:5-7)
Trong một hành động trang trọng, vị thiên sứ mà Giăng đã thấy đứng trên biển và trên đất [câu 2], giơ tay hữu (quyển sách nhỏ nằm ở tay trái của Ngài, câu 2) lên trời (nơi Đức Chúa Trời ngự) — tư thế chuẩn cho việc đưa ra một lời thề long trọng (đối chiếu Phu 32:40; Da 12:7). Đưa ra một lời thề như thế là khẳng định trước mặt Đức Chúa Trời rằng có một việc sẽ nói ra lẽ thật. Lời thề đó cho thấy rằng những gì vị thiên sứ sắp sửa nói ra đều có tầm quan trọng tối hậu và trung thực nhất.
Có người cho rằng hành động của thiên sứ vi phạm lệnh cấm, do Đức Chúa Jêsus Christ ban ra trong Ma-thi-ơ 5:34-35, chống lại việc thề thốt: “Song ta phán cùng các ngươi rằng đừng thề chi hết: đừng chỉ trời mà thề, vì là ngôi của Đức Chúa Trời; đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Đức Chúa Trời; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là thành của Vua lớn“. Nhưng rõ ràng là một hữu thể thánh khiết trọn vẹn không thể làm bất cứ điều gì trái với các mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Kinh thánh không cấm việc thề thốt, nhưng thay vì thế việc thề thốt với dự tính dối gạt (như các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si đã thề, đối chiếu Mat 23:16-22). Kinh thánh ghi lại các lời thề của hạng người tin kính như Áp-ra-ham (Sa 21:25-31), Y-sác (Sa 26:26-31), David (ISa 20:12-17) và sứ đồ Phaolô (Cong 18:18). Hơn nữa, Kinh Thánh ghi nhận rằng chính mình Đức Chúa Trời đã đưa ra các lời thề (thí dụ, Sa 22:16-18; Lu 1:73; Cong 2:30; He 6:13). (Để thảo luận thêm về vấn đề thề thốt, xem sách Giacơ, MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1998], 263ff).
Thiên sứ đưa ra lời thề trong danh của Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển. Sự nhơn danh Đức Chúa Trời đó nhấn mạnh đến sự đời đời của Ngài (như trong 1:18; 4:9-10; 15:7) và quyền phép tễ trị của Ngài trong và trên mọi vật trong sự sáng tạo của Ngài. Nó xác định Đức Chúa Trời là tác nhân tối hậu của muôn vật. Phaolô và Ba-na-ba đã kêu lên với đám đông ở Lít-trơ nhằm tìm cách giải thích cho họ: “Hỡi các bạn, sao làm điều đó? Chúng ta chỉ là loài người giống như các ngươi; chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó“ (Cong 14:15). Với các triết gia theo tà giáo ở Hy-lạp trên đồi Mars ở A-thên Phaolô tuyên bố:
“Bấy giờ, Phao-lô đứng giữa A-rê-ô-ba, nói rằng: Hỡi người A-thên, phàm việc gì ta cũng thấy các ngươi sốt sắng quá chừng. Vì khi ta trải khắp thành các ngươi, xem xét khí vật các ngươi dùng thờ phượng, thì thấy một bàn thờ có chạm chữ rằng: THỜ CHÚA KHÔNG BIẾT. Vậy, Đấng các ngươi thờ mà không biết đó, là Đấng ta đang rao truyền cho. Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu. Ngài cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài dường như có cần đến sự gì, vì Ngài là Đấng ban sự sống, hơi sống, muôn vật cho mọi loài. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở” (Cong 17:22-26)
Trong cả hai trường hợp, Phao-lô xác định với các dân ngoại theo tà giáo Đức Chúa Trời là nguồn gốc và là tác nhân đầu tiên của vũ trụ được dựng nên. Do đó, ông đã trả lời cho thắc mắc hấp dẫn nhất của con người trải qua các thế đại — thắc mắc về nguồn cội. Việc xác nhận Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa vang dội bài ca ngợi khen của hai mươi bốn trưởng lão được ghi lại ở 4:11: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên“. Lời công bố toàn diện cho rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển cho thấy rằng phạm vi quyền phép sáng tạo của Đức Chúa Trời là bao quát toàn bộ (đối chiếu Sa 1:1; Xu 20:11; Thi 33:6; 102:25; 115:15; 124:8; 134:3; 146:5-6; Es 37:16; 42:5; Gie 32:17; 51:15). Mục đích của Ngài trong sự sáng tạo của Ngài sẽ được hoàn thành qua việc phán xét, đổi mới, hủy diệt, và tái tạo.
Nội dung cụ thể lời thề của vị thiên sứ là không còn có thì giờ nào nữa, đáp trả cho thắc mắc của những kẻ tuận đạo: “Cho đến chừng nào?” (6:10), và những lời cầu nguyện của các thánh đồ trong 8:3-5. Cụm từ này nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa cho thấy rằng sự phán xét của tiếng loa thứ bảy sắp sửa tới và rằng đây chẳng phải là một biến cố đơn độc đâu, nhưng bao gồm rất nhiều ngày — cho thấy một khoảng thời gian. Khoảng thời gian nầy bao gồm những sự phán xét qua bảy cái bát (16:1-21), có vẻ như sẽ cần đến vài tuần hoặc vài tháng để mở ra. Vì vậy, tiếng loa thứ bảy đem lại sự phán xét cuối cùng được mô tả trong mấy cái bát thạnh nộ đổ ra trên trái đất. Thời gian kiên nhẫn của Đức Chúa Trời được xem là đã kết thúc; thời gian cho các hành động sau cùng của sự phán xét được xem là đã gần rồi. Thời gian dự kiến trong các thắc mắc của các môn đồ được ghi lại trong Mat 24:3 và Cong 1:6 đã đến. Những lời cầu nguyện của hết thảy các thánh đồ thuộc mọi thời đại vì đích đến của vương quốc Đức Chúa Trời đã được giải đáp (đối chiếu 6:9-11; Mat 6:9-10). Khi thiên sứ thứ bảy thổi loa: “nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời“ (11:15).
Vào thời điểm ấy, sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. Sự mầu nhiệm trong Kinh thánh đề cập đến những lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã giấu kín và sẽ tiết lộ vào đúng thời điểm của Ngài. Phaolô đã viết:
Ngợi khen Đấng có quyền làm cho vững chí anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng Đức Chúa Jêsus Christ, theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẽ đã giấu kín từ mọi đời trước, mà bây giờ được bày ra, và theo lịnh Đức Chúa Trời hằng sống, bởi các sách tiên tri, bày ra cho mọi dân đều biết, đặng đem họ đến sự vâng phục của đức tin (Ro 16:25-26)
Lẽ mầu nhiệm đã giấu kín trong quá khứ mà Tân Ước tỏ ra bao gồm “những điều mầu nhiệm của nước thiên đàng” (Mat 13:11), lẽ mầu nhiệm về sự cứng lòng của dân Israel (Ro 11:25), lẽ mầu nhiệm về “Đấng Christ và Hội thánh” (ICo 15:51), “lẽ mầu nhiệm về điều bội nghịch” (IITe 2:7), “lẽ mầu nhiệm của Đấng Christ” (Eph 3:4) và lẽ mầu nhiệm về “Đấng Christ và Hội thánh” (Eph 5:32), lẽ mầu nhiệm về Đấng Christ nơi người tin Chúa (Co 1:26-27), và mầu nhiệm về sự hoá thân thành nhục thể (ITi 3:16). Phaolô tự coi mình là một “viên quản gia” hay người giám hộ và là người giải quyết các lẽ mầu nhiệm nầy (ICo 4:1), “phân phát” những lẽ mầu nhiệm này “đã được giấu kín trong Đức Chúa Trời” (Eph 3:9).
Sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời (đối chiếu ICo 2:7; Co 2:2), là điều thiên sứ nói đến đó là “hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất“ (Eph 1:10). Đây là tuyệt đích trong chương trình của Đức Chúa Trời trong việc đưa vương quốc vinh hiển của Ngài trong Đấng Christ đến chỗ hoàn thành. Nó bao gồm ơn cứu rỗi của người được chọn và chỗ của họ trong vương quốc vinh hiển của Ngài và mọi sự kèm theo với vương quốc ấy. Nó bao gồm sự phán xét con người và ma quỉ. Sự mầu nhiệm trước đây bị giấu kín đề cập đến tất cả các chi tiết chưa được biết được tỏ ra từ thời điểm này đến phần cuối của sách Khải huyền, khi trời mới và đất mới được dựng nên. Đức Chúa Trời đã rao giảng sự mầu nhiệm ấy (không có những chi tiết được tỏ ra trong Tân Ước) cho các tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri trong Cựu Ước, và những người như Đa-ni-ên, Ê-xê-chi-ên, Ê-sai, Giê-rê-mi, Giô-ên, A-mốt, và Xa-cha-ri đã chép về các biến cố thuộc thời kỳ tận thế. Tuy nhiên, phần lớn các chi tiết đã được giấu kín và không được tiết lộ cho đến khi có Tân Ước (thí dụ: trong Mathiơ 24, 25, và IITe 1:5-2:12), và đặc biệt hơn trong các chương đứng trước trong sách Khải huyền. Đối với những người tin Chúa sống vào thời kỳ ấy trong một thế giới bị tàn phá bởi ma quỉ, giết người, phi luân về tình dục, lạm dụng ma túy, trộm cắp, và thiên tai vô song, sự nhận biết chương trình vinh hiển của Đức Chúa Trời đã diễn tiến đúng theo kế hoạch, vương quốc được hứa cho đang đến gần, khi “sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp đất như nước đầy tràn biển” (Ha 2:14), sẽ mang lại sự yên ủi và hy vọng rất lớn ở giữa sự phán xét.
SỰ PHÂN CÔNG BẤT THƯỜNG
“Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời, lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất. Vậy, tôi đi tới vị thiên sứ và xin người cho tôi quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật. Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên sứ và nuốt đi; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng. Có lời phán cùng tôi rằng: Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa” (Kh 10:8-11)
Tiếng mà Giăng đã nghe đến từ trời (câu 4) cấm ông ghi chép lời lẽ của bảy tiếng sấm rền lại phán cùng ông một lần nữa. Như ông đã có trước đó (đối chiếu 1:17; 4:1; 5:4–5; 7:13–14), một lần nữa Giăng trở thành một người tham gia tích cực vào sự mặc thị này. Ông rời khỏi chỗ của một người đứng quan sát để trở thành một diễn viên trong vở kịch. Tiếng ấy phán cùng ông: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất. Phần tham khảo thứ ba nầy nhắm vào vị trí của vị thiên sứ nhấn mạnh vào thẩm quyền bất thường mà Ngài có trên đất. Khi ấy, trong một minh hoạ nói tới phản ứng thích đáng nơi phần của người tin Chúa đối với sự phán xét sắp tới của Đức Chúa Trời, Giăng được truyền cho: “Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật“. Vị thiên sứ biết rõ đâu là phản ứng của Giăng đối với lẽ thật này. Vâng lời, giống như Ê-xê-chi-ên ở trước mặt Ngài (Exe 2:9-3:3), Trong sự mặc thị, về mặt biểu tượng Giăng đã lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên sứ và nuốt đi. Y như vị thiên sứ đã nói trước, trong miệng [Giăng] nó ngọt như mật, nhưng khi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng.
Hành động ăn cuộn giấy làm biểu tượng cho sự hấp thụ và tiêu hoá Lời của Đức Chúa Trời (đối chiếu Thi 19:10; Gie 15:16; Exe 3:1-3). Khi Giăng nắm lấy lời thiêng liêng liên quan đến các sự phán xét còn lại y như Chúa đã nắm lấy cơ nghiệp trong vũ trụ, ông thấy lời lẽ được viết trong cuộn sách nhỏ kia nó ngọt như mật và đắng. Ngọt vì Giăng, giống như tất cả những người tin Chúa, họ muốn Chúa hành động trong sự phán xét để lấy lại địa cầu thuộc về Ngài rất hợp lệ rồi được tôn cao, được tôn vinh và được làm cho vinh hiển y như Ngài đáng được. Nhưng sự nhận biết số phận khủng khiếp đang chờ đợi những người không tin Chúa đã biến vị ngọt kia thành ra đắng.
Hết thảy những người nào kính mến Đức Chúa Jêsus Christ có thể liên kết với tư tưởng mâu thuẫn của Giăng. Những người tin Chúa khao khát Đấng Christ trở lại trong sự vinh hiển, vì Sa-tan sẽ bị huỷ diệt, và vương quốc vinh hiển của Chúa chúng ta sẽ được dựng lên trên đất, Ngài sẽ cai trị trong đó với thẩm quyền và sự vinh hiển rộng khắp trong khi thiết lập trong thế gian sự công bình, lẽ thật và sự bình an. Nhưng họ, giống như Phao-lô (Ro 9:1-3), than khóc cay đắng trước sự phán xét kẻ bất kỉnh.
Trong khi giữ lấy kinh nghiệm vừa ngọt vừa đắng kia của Giăng: Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa“. Nữa cho thấy Giăng sắp được uỷ thác lần thứ hai (đối chiếu 1:19) để ghi chép phần còn lại của lời tiên tri mà Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông. Những gì ông sắp tiếp thu sẽ tàn phá hơn bất cứ thứ gì được tỏ ra — và vinh hiển hơn nhiều. Ông phải trung thành với nhiệm vụ ghi lại mọi lẽ thật mà ông đã nhìn thấy và sẽ sớm nhìn thấy. Những lời tiên tri mà Giăng sẽ nhận lãnh được sẽ liên quan đến tất cả mọi người (tóm tắt trong bốn nhóm người ở 5:9 và 7:9) ở khắp mọi nơi. Vì vậy, Giăng cần phải cảnh báo về hết thảy các sự phán xét cay đắng đang đến trong tiếng loa thứ bảy và bảy cái bát. Là kẻ phu tù trên đảo Bát-mô (1:9), ông không có một cơ hội nào để rao giảng cho tất cả các nước, song ông cần phải viết ra các lời tiên tri và phân phát chúng, làm vậy để cảnh báo mọi người về sự cay đắng của sự phán xét hầu đến, về sự chết và địa ngục. Hạng tội nhân ở khắp mọi nơi có thể nhìn biết vì Giăng đã ghi chép lại những lời tiên tri nầy, trong khi sự phán xét hiện đang bị kềm lại, một ngày trong tương lai sẽ đến khi vị thiên sứ thứ bảy sẽ thổi tiếng loa của mình lên và sự thống trị của tội lỗi sẽ bị phá vỡ, sự tự do của Sa-tan và các sứ nó đi đến chỗ kết thúc, hạng người không tin kính sẽ bị phán xét, và những người tin Chúa sẽ được vinh hiển. Chương này trình bày một khoảng thời gian xen vào giữa của hy vọng với sự cay đắng, nó nhắc nhở hết thảy Cơ đốc nhân về trách nhiệm truyền bá Tin lành của họ để cảnh cáo thế gian trong thời buổi ấy.