Vị thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng: Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời. Hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi ở trước mặt Đức Chúa Trời, trên ngai mình, đều cúi mình sấp mặt xuống, thờ lạy Đức Chúa Trời, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, là Đấng Hiện Có, Trước Đã Có, chúng tôi cảm tạ Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị vì. Các dân tộc vốn giận dữ, nhưng cơn thạnh nộ của Ngài đã đến: giờ đã tới, là giờ phán xét kẻ chết, thưởng cho tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri, thưởng cho các thánh và các người kính sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn, và hủy phá những kẻ đã hủy phá thế gian. Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn. (Kh 11:15-9)
Tiếng của loa thứ bảy đánh dấu cột mốc quan trọng trong sách Khải huyền. Nó dẫn đến một loạt các biến cố cuối cùng dẫn đến sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ và sự thiết lập vương quốc ngàn năm trên đất của Ngài. Kh 10:7 nói tới phần cuối của tiếng loa thứ bảy: “nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri“. Sự mầu nhiệm đó là toàn bộ sách Khải huyền nói tới sự hoàn thành chương trình của Đức Chúa Trời. Lẽ mầu nhiệm ấy được nói trước bởi các tiên tri trong Cựu Ước, nhưng sự đầy đủ của nó chưa hề được tiết lộ cho đến khi có sách Khải huyền. Những sự phán xét bằng bảy cái bát, tiêu biểu cho sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, được gộp vào trong tiếng loa thứ bảy rất rõ ràng từ 15:1: “Tôi thấy một điềm khác ở trên trời, vừa lớn vừa lạ: bảy thiên sứ cầm bảy tai nạn sau cùng, vì bởi các tai nạn nầy làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời“. “Bảy tai nạn” hoàn tất cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là những sự phán xét qua bảy cái bát: “Bấy giờ, tôi nghe một tiếng lớn từ trong đền thờ ra, phán với bảy vị thiên sứ rằng: Hãy đi, trút bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất“ (16:1). Một khi cả hai: tiếng loa thứ bảy và bảy cái bát được cho là hoàn tất cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, những cái bát đó phải là một phần của sự phán xét qua tiếng loa thứ bảy.
Ba trong số bảy lần phán xét qua tiếng loa cuối cùng thật khủng khiếp đến nỗi chúng được gọi là khốn nạn. Trong 8:13, Giăng “nghe chim phụng hoàng bay giữa trời, kêu tiếng lớn rằng: Khốn thay! Khốn thay! Khốn thay! cho những dân sự trên đất, vì cớ tiếng loa mà ba vị thiên sứ khác còn phải thổi nữa“. Sau tiếng loa thứ năm Giăng viết: “Nạn thứ nhất đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó“ (9:12). Trước khi tiếng loa thứ bảy, ông nói thêm: ““Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng“ (11:14).
Tiếng loa thứ bảy dẫn đến sự hoàn tất sau cùng chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời dành cho thế giới trong hiện tại. Trong khoảng thời gian đó, cơn thạnh nộ sau cùng của những sự phán xét Ngày của Đức Giê-hô-va sẽ đến (16:1-21), vụ thu hoạch phán xét cuối cùng trên đất (11:18; 16:19) và sự thất bại trước Chiên Con của các vua trên đất (17:12-18), lên đến đỉnh điểm trong chiến thắng cuối cùng của Đấng Christ ở Ạt-ma-ghê đôn (19:11-21). Tiếng của loa thứ bảy báo hiệu sự đáp trả của Đức Chúa Trời đối với lời cầu nguyện: “Nước Cha được đến; Ý Cha được nên, ở đất như trời!” (Ma-thi-ơ 6:10). Câu trả lời đó quét qua các chương 12-22 khi Đức Chúa Trời hoàn tất công tác mạnh mẽ của Ngài đòi lại sự sáng tạo khỏi tay kẻ chiếm đoạt, là Sa-tan.
Cần phải lưu ý rằng mặc dù tiếng loa thứ bảy là tiếng loa sau cùng trong chuỗi phán xét qua bảy tiếng loa, nó không được sánh với “tiếng loa cuối cùng” mà Phao-lô đề cập đến trong ICo 15:52: “trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa” (đối chiếu ITe 4:16). Như đã nêu ở trên, tiếng loa thứ bảy bao phủ một khoảng thời gian dài, do đó phân biệt nó đối với sự kiện “tức thời ” (“trong giây lát, trong nháy mắt”) của “tiếng kèn chót”.
Thay vì kêu gọi cho thời điểm Cất Lên của Hội thánh, khi “tiếng kèn chót” trổi lên, tiếng loa thứ bảy kêu gọi các làn sóng nặng nề giáng trên kẻ bất kỉnh. Nó không song song với tiếng kèn của ICo 15:52, nhưng song song với tiếng kèn của Gio 2:1-2: “Hãy thổi kèn trong Si-ôn; hãy thổi vang ra trên núi thánh ta! Hết thảy dân cư trong đất khá đều run rẩy! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đến, ngày ấy đã gần: tức là ngày mờ mịt và tối tăm”.
Tiếng loa thứ bảy không những loan báo sự phán xét nặng nề giáng trên những kẻ vô tín, mà còn là sự đăng quang của Đức Chúa Jêsus Christ. Trong Cựu Ước, tiếng kèn thường được trổi lên trong lễ đăng quang của một vị vua. Trong suốt cuộc đảo chính chống lại David cha mình: “Áp-sa-lôm sai những kẻ do thám rao lịnh nầy khắp trong các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Thoạt khi anh em nghe tiếng kèn, thì hãy nói: Áp-sa-lôm làm vua tại Hếp-rôn!” (IISa 15:10). Tại lễ đăng quang của Solomon, người kế nhiệm thật sự của David: “Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Đền tạm, và xức cho Sa-lô-môn. Người ta thổi kèn, cả dân sự đều hô lên rằng: Vua Sa-lô-môn vạn tuế!” (IVua 1:39). Tiếng kèn cũng vang lên tại các lễ đăng quang của Vua Giê-hu (IIVua 9:13) và Vua Giô-ách (IIVua 11:12, 14).
Tiếng loa thứ bảy cũng đánh dấu phần kết thúc của khoảng thời gian xen giữa theo sau tiếng loa thứ sáu (10:1 – 11:14). Như đã lưu ý trong các chương đứng trước của bài giảng này, từng loạt trong ba loạt phán xét (cái ấn, loa và bát) đều có một khoảng thời gian xen giữa các biến cố thứ sáu và thứ bảy. Giữa cái ấn thứ sáu và ấn thứ bảy là khoảng thời gian xen giữa của chương 7; giữa cái bát thứ sáu và bát thứ bảy sẽ có khoảng thời gian xen giữa ngắn ở 16:15. Các khoảng thời gian nầy góp phần yên ủi và khích lệ những người tin Chúa ở giữa những ghê khiếp của các sự phán xét của Đức Chúa Trời, tái bảo đảm với họ rằng Ngài đã không quên họ (đối chiếu Ma 3:16 – 4:2).
Mặc dù tiếng loa thứ bảy trổi lên ở 11:15, những sự phán xét kết hiệp với nó không được mô tả cho đến chương 15. Các chương 12-14 là một việc ngoài lề, đưa độc giả trở lại qua Kỳ Đại Nạn đến thời điểm của tiếng loa thứ bảy bằng một con đường khác. Chúng mô tả Kỳ Đại Nạn không phát xuất từ nhận định của Đức Chúa Trời, mà là từ Sa-tan. Các chương 4-11 tập trung vào việc Đấng Christ lấy lại những gì là hợp pháp thuộc về Ngài bằng phương tiện những sự phán xét bằng cái ấn và loa. Các chương 12-14 tập trung vào kẻ chiếm đoạt cuối cùng của con người, Anti-christ cuối cùng, sự nghiệp của hắn kéo dài trong khoảng thời gian giống như các sự phán xét bằng cái ấn và và tiếng kèn.
Bối cảnh khi tiếng loa thứ bảy trổi lên ở bốn chặng: Ngợi khen vì sự tễ trị, cực điểm của cơn thạnh nộ, chương trình dành cho sự phán xét, và lời hứa về sự giao thông.
NGỢI KHEN VÌ SỰ TỄ TRỊ
Vị thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng: Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời. Hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi ở trước mặt Đức Chúa Trời, trên ngai mình, đều cúi mình sấp mặt xuống, thờ lạy Đức Chúa Trời, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, là Đấng Hiện Có, Trước Đã Có, chúng tôi cảm tạ Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị vì. (Kh 11:15-17)
Mặc dù các hiệu quả của nó trên đất đã bị trì hoãn (như với cái ấn thứ bảy, 8:2-5), đã có một phản ứng ngay lập tức trên trời khi vị thiên sứ thứ bảy thổi loa. Biểu lộ niềm vui vào những gì sắp diễn ra, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng: “Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời“. Lời công bố ấn tượng này rõ ràng được nối với các tác dụng của tiếng loa thứ bảy. Có sự vui mừng không kềm được, vì quyền lực của Satan đã bị phá vỡ mãi mãi, và Đức Chúa Jêsus Christ là nhân vật tễ trị tối cao như Vua của các Vua và Chúa của các chúa. Với sự thất bại của kẻ chiếm đoạt, thắc mắc về sự tễ trị trên thế gian sẽ được an định vĩnh viễn. Những gì Chúa Jêsus đã từ chối không nắm lấy chiếu theo thuật ngữ của Sa-tan (xem Lu 4:5-8) Ngài sẽ lấy theo các thuật ngữ của chính mình Ngài. Thiên đàng mừng vui vì cuộc nổi dậy lâu nay của thế gian chống lại Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Jêsus Christ sắp kết thúc. Việc dựng lên vương quốc được chờ đợi lâu nay của Đấng Christ là đỉnh cao của lịch sử cứu chuộc.
Việc sử dụng cụm thuật ngữ số ít Nước Của Thế Gian thay vì số nhiều “các vương quốc” trình bày một lẽ thật quan trọng. Tất cả các nhóm dân tộc, chính trị, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo đa dạng của thế gian trong thực tế là một vương quốc dưới quyền một vì vua. Vị vua đó được biết đến trong Kinh thánh bằng nhiều danh xưng và tước hiệu, bao gồm kẻ kiện cáo (Kh 12:10), kẻ thù nghịch (IPhi 5:8), Bê-ên Xê-bun (Mat 12:24), Bê-li-an (IICo 6:15), con rồng (Kh 12:3, 7, 9), “điều ác” (Gi 17:15), chúa đời nầy (IICo 4:4), vua cầm quyền chốn không trung (Eph 2:2), sư tử rống (IPhi 5:8), chúa quỉ (Mac 3:22), vua chúa thế gian này (Gi 12:31), con rắn đời xưa (Kh 12:9: 20:2), kẻ cám dỗ (ITe 3:5), và, thường là ma quỷ (Mat 4:1) và Sa-tan (ITi 5:15). Dù có tan rãi vương quốc nầy tại tháp Ba-bên (Sa 11: 1-9), Sa-tan vẫn thống trị nhiều mảnh nhỏ từng thuộc vương quốc thống nhất. Trong khi Đức Chúa Trời chỉ đạo cho các bậc cầm quyền về hạnh phúc của con người (Ro 13:1), chính các bậc cầm quyền nầy từ chối không phục theo Ngài hay không chấp nhận quyền tễ trị của Ngài (Cong 4:26).
Họ là một phần quan trọng trong vương quốc của Sa-tan.
Chúa Jêsus khẳng định rằng Sa-tan, mặc dù là kẻ chiếm đoạt chớ không phải là nhà vua hợp pháp, là chúa hiện nay của thế gian. Khi đáp trả với những kẻ đã cáo giác cách xúc phạm Ngài có liên kết với Sa-tan, Chúa Jêsus đã hùng hồn hỏi như sau: “Nếu quỉ Sa-tan trừ quỉ Sa-tan, ấy là tự nó chia xé nhau; thì nước nó làm sao còn được ư?” (Mat 12:26). Ba lần trong sách Tin lành Giăng, Chúa Jêsus đã gọi Sa-tan là “chúa của thế gian” (Gi 12:31; 14:30; 16:11). GIống như Ngài đã làm tại tháp Ba-bên, Satan sẽ cai trị trong tương lai đối với nhân loại sa ngã thống nhất trong một vương quốc hiển nhiên dưới quyền lãnh đạo của Anti-christ (Con Thú ở 13:1–4).
Sa-tan sẽ không buông vương quốc của hắn mà không có một sự phấn đấu. Trong một nỗ lực quyết liệt và tuyệt vọng hầu duy trì quyền kiểm soát thế giới, Đức Chúa Trời sẽ cho phép hắn điều hành thế giới với lũ ma quỷ trong các sự phán xét qua tiếng loa thứ năm và thứ sáu (9:1-19). Nhưng mọi nỗ lực của hắn sẽ không giữ được Nhà Vua chơn thật không trở lại và thiết lập vương quốc trên đất của Ngài (đối chiếu 19:11–21; 20:1–3,10). Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm ngồi trên ngôi của Đa-vít, tổ phụ Ngài (IISa 7:12-16) và lấy lại toàn thế giới khỏi những kẻ đã kiểm soát theo hệ thống của Sa-tan, họ hiện đang nắm giữ nó. Đây thực sự là đề tài của sách Khải huyền — sự đắc thắng của Đức Chúa Trời đối với Sa-tan khi tội lỗi bị tẩy sạch khỏi thế gian và Đấng Christ trở thành nhà vua thánh của nó.
Thì của động từ dịch đã trở thành là những gì các nhà văn phạm Hy-lạp đề cập đến như là một sự biết trước bất định. Nó mô tả một biến cố trong tương lai chắc chắn đến nỗi nó có thể được nói đến như thể nó đã diễn ra rồi. Nhận định của thì động từ nhắm vào một điểm sau hành động của tiếng loa thứ bảy sẽ khởi động đường chạy của nó. Mặc dù biến cố này còn trong tương lai từ một điểm trong tiến trình xảy ra theo thứ tự thời gian trong một chuỗi biến cố, song chắc chắn là thì động từ được sử dụng đã xem nó như một sự kiện đã xảy ra rồi vậy (đối chiếu Lu 19:9). Thiên đàng vô hạn vui mừng giống như thể một ngày thật dài đã dự kiến trước lúc Đấng Christ thiết lập vương quốc của Ngài đã đến rồi, mặc dù một thời gian trên đất phải trôi qua trước khi điều đó thực sự xảy ra. Cụm từ thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, nhấn mạnh đến hai thực tại. Kurios (Chúa) thường đề cập đến Chúa Jêsus trong suốt Tân Ước, trong khi ở sách Khải huyền nó thường đề cập đến Đức Chúa Cha hơn, nhơn đó nhấn mạnh đến sự đồng đẳng về bổn tánh của họ. Cụm từ này cũng mô tả vương quốc theo nghĩa rộng nhất của nó, nhắm vào sự cai trị thiêng liêng trên sự sáng tạo và sự sáng tạo mới. Không có sự khác biệt được thực hiện giữa vương quốc ngàn năm trên đất và vương quốc đời đời, thí dụ như Phao-lô nói trong ICo 15: 24-28. Ở phần cuối ngàn năm, vương quốc thiên hi niên sẽ kết hợp với vương quốc đời đời, trong đó Đấng Christ sẽ trị vì đời đời. Một khi triều đại của Đấng Christ khởi sự, nó sẽ thay đổi hình thức, nhưng không bao giờ kết thúc hay bị gián đoạn.
Lẽ thật vinh hiển nói rằng Đức Chúa Jêsus Christ một ngày kia sẽ trị vì trên đất dầm thấm trong Kinh Thánh. Ở chương 15 sách Khải huyền Giăng
thấy như biển bằng pha ly lộn với lửa, những kẻ đã thắng con thú và hình tượng nó cùng số của tên nó, đứng bên biển pha ly đó mà nâng đàn cầm của Đức Chúa Trời. Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra” (các câu 2–4).
Họ hát “bài ca của Môi-se” (đối chiếu Xu 15:1-18) chỉ ra rằng Ngũ kinh đã lường trước thời khắc khi Đức Chúa Jêsus Christ sẽ trở thành Vua của thế gian.
Thi thiên 2, một sứ điệp nói tới Đấng Mê-si, hình ảnh và ngôn ngữ của Ngài dầm thấm phân đoạn nầy của sách Khải huyền (đối chiếu câu 18; 12:5; 14:1; 16:14; 17:18; 19:15, 19), cũng nói trước sự đến tễ trị trên đất hầu đến của Đấng Christ:
Dầu vậy, ta đã lập Vua ta Trên Si-ôn là núi thánh ta. Ta sẽ giảng ra mạng lịnh: Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Ngươi là Con ta; Ngày nay ta đã sanh Ngươi. Hãy cầu ta, ta sẽ ban cho Con các ngoại bang làm cơ nghiệp, Và các đầu cùng đất làm của cải. Con sẽ dùng cây gậy sắt mà đập bể chúng nó; Con sẽ làm vỡ nát chúng nó khác nào bình gốm (các câu 6–9).
Các vị tiên tri cũng nhìn tới trước thời điểm đó khi Đấng Mê-si sẽ thiết lập sự tễ trị trên đất của Ngài. Về thời buổi vinh hiển đó, Êsai đã viết:
Sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt, núi của nhà Đức Giê-hô-va sẽ được lập vững trên đỉnh các núi, cao hơn các đồi. Mọi nước sẽ đổ về đó, và nhiều dân tộc sẽ đến mà nói rằng: Hãy đến; chúng ta hãy lên núi Đức Giê-hô-va, nơi nhà Đức Chúa Trời của Gia-cốp: Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài, chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài. Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, lời Đức Giê-hô-va sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem (Es 2:2-3)
Đaniên đã viết về chính ngày ấy:
“Vua nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào bàn chân bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát. Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó; nhưng hòn đã đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất” (Da 2:34–35)
“Trong đời các vua nầy, Chúa trên trời sẽ dựng nên một nước không bao giờ bị hủy diệt, quyền nước ấy không bao giờ để cho một dân tộc khác; song nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các nước trước kia, mà mình thì đứng đời đời; Theo như vua đã xem thấy hòn đá đục ra từ núi, chẳng phải bởi tay, đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng. Đức Chúa Trời lớn đã cho vua biết sự sau nầy sẽ đến. Điềm chiêm bao nầy là thật, và lời giải nó là chắc chắn” (Da 2:44–45)
Các đế quốc từng khoe khoang khoác lác trong lịch sử thế giới (bức tượng) sẽ bị tan rãi đi bởi vương quốc của Đấng Mê-si (hòn đá không do tay người ta tạo ra); họ sẽ tan ra thành tro bụi và bị gió thổi bay đi, nhưng nước của Ngài sẽ kéo dài cho đến đời đời. Trong một sự hiện thấy khác, được ghi lại ở Đaniên chương 7, Đaniên
“nhìn xem trong những sự hiện thấy ban đêm, nầy, có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời; người tới đến Đấng Thượng Cổ và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước; hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi, và nước người không bao giờ phải hủy phá” (các câu 13–14)
“Nhưng các thánh của Đấng Rất Cao sẽ nhận lấy nước, và được nước làm của mình đời đời, cho đến đời đời vô cùng … cho tới khi Đấng Thượng Cổ đã đến, sự xét đoán đã ban cho các thánh của Đấng Rất Cao và thì giờ đã đến, là khi các thánh được nước làm của mình” (các câu 18, 22)
“Bấy giờ nước, quyền thế, và sự tôn đại của muôn nước ở dưới cả trời, sẽ được ban cho dân các thánh của Đấng Rất Cao. Nước Ngài là nước đời đời, và hết thảy các quyền thế đều hầu việc và vâng lời Ngài” (câu 27)
Nhìn tới vương quốc của Đấng Mêsi, Mi-chê viết:
“Xảy ra trong những ngày sau rốt, núi của nhà Đức Giê-hô-va sẽ lập lên trên chót các núi, và sẽ được nhắc cao lên hơn các đồi. Các dân sẽ chảy về đó; và nhiều nước sẽ đi đến đó, mà rằng: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô-va, nơi nhà của Đức Chúa Trời Gia-cốp! Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài, và chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài. Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, lời của Đức Giê-hô-va từ Giê-ru-sa-lem. Ngài sẽ làm ra sự phán xét giữa nhiều dân, đoán định các nước mạnh nơi phương xa; và họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm; nước nầy chẳng giá gươm lên nghịch cùng nước khác, và cũng không tập sự chiến tranh nữa” (Mi 4:1–3)
Khi tóm tắt phần bàn bạc thật dài về Ngày của Đức Giê-hô-va cùng sự đến của Vương quốc trên đất của Đấng Christ, Xachari đã viết: “Đức Giê-hô-va sẽ làm vua khắp đất; trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ là có một, và danh Ngài cũng sẽ là có một” (Xa 14:9).
Khi thiên sứ Gáp-ri-ên loan báo sự ra đời của Chúa Jêsus với Mary, Ngài nói cho nàng biết rằng một ngày kia Ngài sẽ trở thành Nhà Vua cao cả trị vì trên đất: “Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng” (Lu 1:31–33).
Khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử cứu chuộc đã được dự đoán trong các lời tiên tri của Cựu Ước, trong việc loan báo sự ra đời của Đấng Christ, trong việc xem trước sự vinh hiển ở lần đến thứ hai của Đấng Christ nơi Sự Hoá Hình, nơi sự dạy và các phép lạ của Đấng Christ, nơi các lời hứa giao ước với Israel, nơi lời hứa với những người tin Chúa rằng họ sẽ đồng trị với Đấng Christ, nơi lời hứa với mười hai môn đồ rằng họ sẽ xét đoán mười hai chi phái Israel, và nơi lời hứa của Chúa Jêsus rằng Ngài sẽ tái lâm trong sự vinh hiển sắp tới đây. Và điều đó sẽ khiến cả thiên đàng ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự kỳ diệu của chương trình tối thượng của Ngài cho rằng Đấng Christ sẽ trị vì.
Sau khi nhắm tới một nhóm đặc biệt đang dâng lên lời ngợi khen ở trên trời, Giăng lưu ý rằng Hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi ở trước mặt Đức Chúa Trời, trên ngai mình, đều cúi mình sấp mặt xuống (đối chiếu 5:8, 14; 7:11; 19:4) thờ lạy Đức Chúa Trời. Là những đại biểu của Hội thánh được làm cho vinh hiển, được cất lên (xem phần bàn bạc trong chương 11 của tập sách này), các trưởng lão này đã háo hức chờ đợi Đấng Christ lấy địa cầu lại khỏi tay kẻ chiếm đoạt. Tiếng kêu ngợi khen hoan hỷ vui vẻ của họ tràn ngập lòng biết ơn: “Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, là Đấng Hiện Có, Trước Đã Có, chúng tôi cảm tạ Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị vì“, và phản ánh sự hân hoan của họ khi họ cầu thay cho vương quốc hầu đến (đối chiếu Mat 6:10) đã được nhậm.
Lời ngợi khen của các trưởng lão tựu trung vào ba thuộc tánh của Đức Chúa Trời. Pantokrat¯or (Toàn Năng) mô tả quyền phép tối cao, toàn năng vô địch của Đức Chúa Trời. Chín trong mười lần sử dụng trong Tân Ước đều có trong sách Khải huyền (đối chiếu 1:8; 4:8; 15:3; 16:7,14; 19:6,15; 21:22). Nó nhận định Đức Chúa Trời đang thực hiện ý muốn bao trùm toàn bộ, tất cả của Ngài qua các phương tiện quyền phép vô song của Ngài.
Cụm từ Đấng Hiện Có, Trước Đã Có nói tới sự đời đời của Đức Chúa Trời. Là Đức Chúa Trời hằng sống (đối chiếu 7:2; Phu 5:26; Gios 3:10; ISa 17:26; IIVua 19:4, 16; Thi 42:2; 84:2; Gie 10:10; Mat 16:16; IICo 3:3; He 12:22), Đức Chúa Trời không có khởi đầu và không có kết thúc. Ngài đã hiện diện trong đó, Ngài đã tồn tại từ quá khứ đời đời; Ngài đang ở trong đó, Ngài hiện đang tồn tại và cho cả cõi tương lai đời đời. Cách diễn tả sự đời đời của Đức Chúa Trời như thế này đã được sử dụng ba lần trước đây trong sách Khải huyền (1:4, 8; 4:8). Điều đáng chú ý, ba lần xuất hiện trước đó thêm vào cụm từ “là Đấng sẽ đến”. Một khi phân đoạn hiện tại xem Đấng Christ như đã đến rồi và thiết lập vương quốc của Ngài, cụm từ đó không lặp lại ở đây (đối chiếu 16:5). Anti-christ được mô tả bằng những thuật ngữ tương tự, khi Sa-tan cố nguỵ biện nỗ lực bắt chước nghèo nàn về Vua đời đời của vũ trụ (17:8).
Các trưởng lão cũng ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự tễ trị của Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị vì. Thì hoàn thành của động từ dịch cụm từ Ngài đã cầm quyền loan báo sự thường trực quyền tễ trị tối thượng của Đức Chúa Trời. Lời lẽ của Thi 24:1: “Đất và muôn vật trên đất, Thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va” được nhận biết khi Đấng Christ tễ trị trong quyền phép và thẩm quyền tuyệt đối trên đất.
Mọi nỗ lực để sánh sự tễ trị vinh hiển nầy của Đấng Christ trên cả đất với bất kỳ biến cố nào trong quá khứ hoặc với Hội thánh hoàn toàn là lạ lùng và mâu thuẫn với sự dạy rõ ràng về thuyết mạt thế của Kinh thánh, đặc biệt bao gồm phân đoạn Kinh Thánh này. Không có cách nào để phân đoạn nầy được ứng nghiệm, trừ ra sự trị vì bao quát của Đức Chúa Jêsus Christ trên cả đất — y như các vị tiên tri đã dự đoán từ lâu.
CỰC ĐIỂM CỦA CƠN THẠNH NỘ
Các dân tộc vốn giận dữ (Kh11:18a)
Sự mặc thị tiếng loa thứ bảy cho thấy rằng, không còn có sợ hãi nữa (đối chiếu 6:15-17), các dân tộc không biết ăn năn vốn giận dữ và đầy thách thức nơi viễn cảnh vương quốc của Đấng Christ sẽ được thiết lập trên cả đất. Động từ được dịch là vốn giận dữ cho thấy một sự thù địch sâu sắc lâu nay đang diễn ra.
Đây không chỉ là một cảm giác nóng nảy về tình cảm trong khoảnh khắc đâu, mà còn là một sự oán giận cứ nung nấu trong lòng muốn chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Chắc chắn là họ sẽ tập trung quân đội lại hầu chống nghịch Đức Chúa Trời (16:14, 16; 20:8-9). Chẳng có một sự mong muốn ăn năn tội chi hết, sự tức tối giận dữ và sự thù nghịch chống lại thiên đàng (16:11) sẽ khiến cho các dân tộc nhóm nhau lại cho sự huỷ diệt của họ tại Ạt-ma-ghê-đôn (đối chiếu Thi 2:1, 5, 12; Cong 4:24-29).
Những sự phán xét thiêng liêng mà người ta sẽ kinh nghiệm trong Kỳ Đại Nạn sẽ khiến cho họ phải xây khỏi tội lỗi mình rồi phục theo Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, buồn thay, thậm chí ở dưới sự phán xét đáng kinh sợ và những lời cảnh báo về địa ngục đời đời, hầu hết họ sẽ từ chối không chịu ăn năn và thay vì thế sẽ làm cho lòng mình ra cứng cỏi (đối chiếu Ro 2:1-10), ở đây dạy rằng con người ta không chịu ăn năn (bất chấp sự nhơn từ của Đức Chúa Trời). Họ sẽ giống như Pha-ra-ôn, là người cứ giữ lấy sự cứng lòng (Xu 8:15, 19, 32; 9:7, 34; ISa 6:6) cho đến thời điểm khi Đức Chúa Trời xét đoán đích đáng tấm lòng của người trong tình trạng cứng lòng đó (Xu 10:1; 11:10).
Thế giới vô tín này rõ ràng sẽ đạt đến điểm đó nơi sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong suốt các biến cố của tiếng loa thứ bảy (đối chiếu 16: 9, 11). Sự giận dữ và thù địch của họ đối với Đức Chúa Trời sẽ lên tới cơn sốt thật đỉnh, rồi họ sẽ tập trung lại để chiến đấu chống nghịch Ngài trong cuộc chiến tại vùng đồng bằng Mê-ghi-đô: “Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng … Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn” (16:14, 16). Sau đó, họ sẽ vượt quá thời của ân điển; sẽ chẳng có một sự cứu rỗi nào hết tại Ạt-ma-ghê-đôn. Nỗ lực tuyệt vọng lúc sau cùng của thế gian hầu giữ cho Đấng Christ không thiết lập vương quốc của Ngài tất nhiên sẽ thất bại, và họ sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn:
Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. (19:19–21)
Những kẻ chối bỏ vô tín này sẽ mất đi cơ hội của họ để ăn năn nơi những gì họ thừa nhận là những sự phán xét của Đức Chúa Trời (đối chiếu 6:15–17). Thay vì thế, họ sẽ lao sâu vào sự thù nghịch và chối bỏ rồi bị trừng phạt trong địa ngục đời đời.
CHƯƠNG TRÌNH DÀNH CHO SỰ PHÁN XÉT
nhưng cơn thạnh nộ của Ngài đã đến: giờ đã tới, là giờ phán xét kẻ chết, thưởng cho tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri, thưởng cho các thánh và các người kính sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn, và hủy phá những kẻ đã hủy phá thế gian. (Kh11:18b)
Cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời đã đến, giống như sự xuất hiện của vương quốc Đấng Christ (câu 15), chắc chắn đến nỗi nó có thể được rao giảng giống như thể nó đã đến rồi vậy. Động từ được dịch là đã đến là một thì bất định (xem phần thảo luận về “đã trở thành” trong câu 15 ở trên), mô tả một biến cố trong tương lai như là một sự thực đã được thực hiện rồi. Người nào nghĩ rằng một Đức Chúa Trời yêu thương sẽ không đổ cơn thạnh nộ của Ngài ra giáng trên họ đang bám lấy một niềm hy vọng giả dối và nguy hiểm.
Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ phán xét những kẻ vô tín là một lẽ đạo khăng khăng trong Kinh Thánh. Ê-sai đã có nhiều điều để nói tới việc nầy về một ngày trong tương lai:
Hỡi dân cư trên đất, sự kinh hãi, hầm và bẫy đến trên ngươi. Kẻ nào trốn khỏi tiếng kinh hãi, sẽ sa xuống hầm; nếu lên khỏi hầm, sẽ mắc vào lưới. Vì các cửa sổ trên trời đều mở ra, các nền dưới đất đều rung rinh. Đất đều tan nát, đất đều vỡ lở, đất đều rúng động. Đất lay động như người say; lỏng chỏng như cái võng, tội lỗi chất lên trên nặng trĩu, nó sẽ đổ xuống và không dậy được nữa! Xảy ra trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ phạt các cơ binh nơi cao ở trên trời, phạt các vua thế gian ở trên đất. Họ sẽ nhóm lại cùng nhau, bị cầm trong hầm như tù bị nhốt trong ngục; cách lâu ngày, sẽ đều bị phạt. Mặt trăng sẽ xấu hổ, mặt trời sẽ mắc cỡ; vì Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trị vì trên núi Si-ôn, tại Giê-ru-sa-lem; và sự vinh hiển sẽ chói lói trước mặt các trưởng lão. (24:17-23)
Hỡi dân ta, hãy đến vào buồng và đóng cửa lại. Hãy ẩn mình một lát, cho đến chừng nào cơn giận đã qua. Vì nầy, Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài, đặng phạt dân cư trên đất vì tội ác họ. Bấy giờ đất sẽ tỏ bày huyết nó ra, và không che-đậy những kẻ đã bị giết nữa. (26:20-21)
Nầy, danh Đức Giê-hô-va từ xa mà đến; cơn giận phừng phừng, như khói đậm bay lên, môi đầy thạnh nộ, lưỡi giống như lửa nuốt. Hơi thở Ngài khác nào sông vỡ lở, nước lên ngập đến cổ. Ngài lấy cái sàng hủy diệt mà sàng các nước, và dùng cái khớp dẫn đi lạc đường mà khớp hàm các dân. Bấy giờ các ngươi sẽ xướng ca như trong đêm giữ lễ thánh. Các ngươi sẽ có sự vui trong lòng, như kẻ thổi sáo mà lên núi Đức Giê-hô-va, đến cùng vầng Đá của Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va sẽ làm cho nghe tiếng oai nghiêm Ngài. Ngài sẽ tỏ cánh tay hăm dọa của mình ra, giữa cơn giận Ngài, những ngọn lửa nuốt, gió táp, bão, và mưa đá. Vì, A-si-ri sẽ nghe tiếng Đức Giê-hô-va mà run sợ. Ngài sẽ lấy roi đánh A-si-ri; và mỗi khi Đức Giê-hô-va lấy roi định đánh nó, thì người ta sẽ nghe tiếng trống và đàn cầm; vả, trong những trận mạc Đức Giê-hô-va sẽ vung cánh tay mà tranh chiến cùng nó. Vì Tô-phết đã sửa soạn từ xưa; sắm sẵn cho vua. Nó sâu và rộng, trên có lửa và củi thật nhiều; hơi thở của Đức Giê-hô-va như suối lưu hoàng nhúm nó (30:27-33)
Ê-xê-chi-ên 38-39 mô tả sự nhóm lại của những kẻ vô tín chiến đấu chống lại Đấng Christ cùng dân sự Ngài là Israel, tại bãi chiến trường Ạt-ma-ghê-đôn. (Cần lưu ý rằng một cuộc xâm lăng khác, vào cuối thời kỳ thiên hi niên cũng được nói đến bao gồm Gót và Ma-gót, Khải huyền 20: 8-10. Những cái tên tương tự được sử dụng để chỉ ra rằng cuộc xâm lược sau này sẽ giống như cuộc xâm lược trong Kỳ Đại Nạn):
“Hỡi Gót! Ngươi sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên ta, như một đám mây che phủ đất. Thật vậy, trong những ngày sau rốt, ta sẽ khiến ngươi đi đánh đất ta, hầu cho các dân tộc học mà nhìn biết ta, khi ta sẽ được tỏ ra thánh bởi ngươi trước mắt chúng nó. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Xưa kia ta đã cậy tôi tớ ta, là các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, trong những thời đó, trải nhiều năm, họ đã nói tiên tri rằng ta sẽ khiến ngươi đến nghịch cùng dân ta, ấy há chẳng phải là ta đã phán về ngươi sao? Chúa Giê-hô-va phán: Sẽ xảy đến trong ngày đó, là ngày Gót sẽ đi đánh đất Y-sơ-ra-ên, thì cơn giận của ta sẽ nổi trên lỗ mũi ta. Ta đang ghen tương, đang giận phừng phừng mà nói rằng: Thật, trong ngày đó sẽ có sự rúng động lớn phát ra trong đất Y-sơ-ra-ên. Trước mặt ta, những cá biển, những chim trời, những loài thú đồng, hết thảy những côn trùng bò trên đất, hết thảy những người ở trên mặt đất, sẽ đều run rẩy. Những núi đều bị quăng xuống, những vách đá đều đổ xuống, hết thảy những tường đều bị sụp xuống đất. Chúa Giê-hô-va phán: Ta sẽ gọi gươm đến nghịch cùng nó ở trên mọi núi của ta. Ai nấy sẽ xây gươm lại nghịch cùng anh em mình. Ta sẽ làm sự xét đoán nghịch cùng nó bởi dịch lệ và bởi máu. Ta sẽ khiến những trận mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo binh nó, và dân đông đi với nó. Ấy vậy, ta sẽ làm sáng danh ta, sẽ tỏ mình ra thánh, và sẽ được nhận biết trước mắt nhiều dân tộc. Chúng nó sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va” (Exe 38:16-23)
Tiếng của loa thứ bảy đánh dấu sự ứng nghiệm biến cố phán xét trọng đại mà các vị tiên tri đã thấy trước và các thánh đồ của mọi thời đại đã mong mỏi (đối chiếu Thi 3:7; 7:6; 35:1–8; 44:26; 68:1–2). Đấy sẽ là thời điểm mà Đức Chúa Trời đổ cơn thạnh nộ của Ngài ra giáng trên kẻ thù của Ngài.
Không những tiếng loa thứ bảy sẽ báo hiệu sự đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên đất, nó cũng sẽ chỉ ra rằng giờ đã tới đặng phán xét kẻ chết. Giờ dịch kairos, đề cập đến một mùa, một thời đại, cơ hội, hay biến cố. Sự thiết lập vương quốc của Đấng Christ sẽ là thời điểm thích hợp để người chết bị phán xét. Ngai Trắng Lớn, Phán Xét (20:11-15) không có trong phân đoạn này, như có người bàn luận, một khi sự phán xét đó chỉ bao gồm hạng người vô tín. Thật lấy làm tốt khi xem các tham khảo đến sự phán xét ở đây như một tham chiếu bao quát cho tất cả các sự phán xét trong tương lai. Các trưởng lão trong bài ca của họ không có một nỗ lực nào để phân tách các giai đoạn phán xét khác nhau vì chúng đã được tách ra trong các chương kết thúc của sách Khải huyền. Họ chỉ hát lên những sự phán xét trong tương lai giống như thể chúng là một biến cố, theo cùng một cách thức mà các phần Kinh thánh khác không phân biệt những sự phán xét trong tương lai ra khỏi các phần khác (đối chiếu Gi 5:25,28-29; Cong 17:31; 24:21).
Sự phán xét trước hết sẽ là giờ thưởng cho tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri, thưởng cho các thánh và các người kính sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn. Mặc dù năng lực hầu việc Đức Chúa Trời theo một cách xứng đáng được tưởng thưởng là ơn ban của ân điển Đức Chúa Trời, qua hết thảy những người tin Chúa trong Tân Ước đã được khích lệ phục vụ theo nhận định của những phần thưởng được hứa cho đó. Trong 22:12 Chúa Jêsus tuyên bố: “Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm”. Phao-lô viết cho người thành Côrinhtô: “Người trồng, kẻ tưới, đều bằng nhau; ai nấy sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm”(ICo 3:8; đối chiếu Mat 5:12; 10:41-42; Mac 9:41; Co 3:24; IIGi 1:8). Phần thưởng được hứa cho những người tin Chúa, ấy là họ sẽ thừa hưởng Vương quốc, trong cả hai chặng: thời kỳ thiên hi niên (Mat 25:34-40; Mac 10:29-31) và đời đời (Kh 21:7). Những người tin Chúa cũng được hứa cho các loại mũ triều thiên, bao gồm mão triều thiên công bình (IITi 4:8), mão triều thiên sự sống (Gia 1:12; Kh 2:10), và mão triều thiên vinh hiển (IPhi 5:4).
Cụm từ tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri bao gồm hết thảy những ai lo rao giảng lẽ thật của Đức Chúa Trời xuyên suốt lịch sử cứu chuộc, từ Hê-nóc cho đến hai người làm chứng (11:3-13). Kinh Thánh thường nhắc tới các đấng tiên tri là tôi tớ của Chúa (thí dụ, IIVua 9:7; Exo 9:11; Gie 7:25; Exe 38:17; Da 9:6; Am 3:7; Xa 1:6). Giờ đến để họ nhận lãnh “phần thưởng của đấng tiên tri” (Mat 10:41). Hết thảy những người trung tín đó, họ đã đứng thay cho Đức Chúa Trời trong những ngày đen tối và chống lại sự đối nghịch rồi sẽ thấy công tác của họ được tỏ ra và ban thưởng cho.
Một nhóm khác được ban thưởng cho là các thánh đồ, được xác định thêm là các người kính sợ danh Chúa (đối chiếu Thi 34:9; 85:9; 103:11; 115:13; 147:11; Tr 8:12; Lu 1:50). Thánh đồ là cách mô tả phổ thông theo Kinh Thánh nói tới người được chuộc trong cả Cựu và Tân Ước (thí dụ 5:8; 8:3-4; Thi 16:3; 34:9; Da 7:18; Mat 27:52; Cong 9:13; 26:10; Ro 1:7; 8:27; 12:13; ICo 6:1-2; 14:33; 16:1; IICo 1:1; 8:4; Eph 1:15; 2:19; 6:18; Phi 4:21-22; Co 1:2, 4,12; ITe 3:13; IITe 1:10; ITi 5:10; Phil 1:5, 7; He 6:10; Giu 1:3). Hết thảy các thánh đồ của Đức Chúa Trời, từ kẻ nhỏ cùng kẻ lớn (một thuật ngữ trọn gói; đối chiếu 13:16; 19:5, 18; 20:12; Phu 1:17; IIVua 23:2; Giop 3:19; Thi 115:13; Gie 16:6; Cong 26:22), sẽ nhận được nhiều phần thưởng.
Sự phán xét cũng sẽ phá huỷ những kẻ đã phá huỷ thế gian. Nói như thế chẳng phải là một tham khảo nói tới những kẻ nào làm ô nhiễm môi trường đâu, mà nói tới những kẻ làm ô uế đất với tội lỗi của họ. Cụm từ ấy bao gồm những kẻ không tin Chúa, đặc biệt trong văn mạch của sách Khải huyền hệ thống kinh tế và tôn giáo giả được gọi là Ba-by-lôn (đối chiếu 19:2), Anti-christ cùng những kẻ theo hắn, và chính Sa-tan, kẻ huỷ diệt tối hậu. Sứ đồ Phao-lô đã viết rằng “sự mầu nhiệm của điều bội nghịch” (IITe 2:7) đã năng động rồi trong kỷ nguyên Hội thánh, song trong suốt thời kỳ Đại Nạn nó sẽ lên tới đỉnh điểm của hành động huỷ diệt, càn quyét khung xã hội bằng từng cách thức độc ác.
Với địa vị quản lý và quyền cai trị trên đất (đối chiếu Sa 1:28), con người thay vì thế đã sa vào trong tội lỗi và xuyên suốt lịch sử của họ đã liên tục làm băng hoại đất (đối chiếu Ro 8:19-21). Khi sự hư nát đó lên đến đỉnh điểm, Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt đất và tạo ra một đất mới (21:1; Es 65:17; 66:22; IIPhi 3:12-13).
LỜI HỨA VỀ SỰ GIAO THÔNG
Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn (Kh 11:19)
Gói ghém trong loa thứ bảy là lời hứa cho người tin Chúa về mối giao thông không gãy vỡ với Đức Chúa Trời cho đến đời đời. Mối tương giao đó được tượng trưng bằng hình ảnh của câu 19. Sự khai mạc đền thờ của Đức Chúa Trời ở trên trời (nơi mà sự hiện diện của Ngài đang ngự trị, các chương 4, 5) đã tỏ lộ ra hòm giao ước của Ngài. Hòm giao ước tượng trưng cho giao ước mà Đức Chúa Trời đã hứa với con người giờ đây đã sẵn sàng trong sự trọn vẹn của nó. Ở giữa cơn thạnh nộ của sự phán xét Ngài giáng trên những kẻ vô tín, như vốn có, Đức Chúa Trời mở ra Nơi Chí Thánh (nơi có hòm giao ước; Xu 26:33-34; IISu 5:7) và kéo người tin Chúa vào trong sự hiện diện của Ngài. Điều đó không thể tưởng tượng được trong đền thờ Cựu Ước, khi mà chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mới bước vào Nơi Chí Thánh mỗi năm một lần (He 9:7).
Hòm giao ước tượng trưng cho sự hiệp thông của Đức Chúa Trời với người được chuộc bởi vì chính ở đó đã có những con sinh bằng huyết đã được dâng lên chuộc tội cho tội lỗi của con người (Le 16:2-16; He 9:3-7). Chính ở phía trên hòm Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se (Dan 7:89). Hòm giao ước được gọi trong Kinh Thánh hòm bảng chứng (Xu 25:22), hòm của Đức Chúa Trời (ISa 3:3), và hòm có sức mạnh của Đức Chúa Trời (Thi 132:8). Bên trong hòm “có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước” (Hêbơrơ 9:4). Mọi sự làm biểu tượng cho thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ cho dân sự Ngài, là chủ tễ trên dân sự Ngài, đã ban luật pháp của Ngài cho dân sự Ngài, rồi bước vào trong một giao ước cứu rỗi đời đời với dân sự Ngài.
Nhưng cùng với hòm giao ước ở trong đền thờ trên trời rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn. Các biến cố tương tự được gắn với sự oai nghi vinh hiển của ngai ở trên trời ở 4:5. Trong 8:5 và 16:17-18 chúng được gắn với sự phán xét. Thiên đàng là nguồn của sự báo thù giáng trên những kẻ vô tín, cũng như các phước hạnh giao ước dành cho người được chuộc vậy.
Sứ điệp của tiếng loa thứ bảy, ấy là Đức Chúa Jêsus Christ là Vua tối cao của các Vua và Chúa tối cao của các chúa. Một ngày kia, Ngài sẽ lấy lại quyền trị vì đất khỏi tay kẻ chiếm đoạt là Sa-tan, và từ những bậc cầm quyền con người trong thế gian. Lịch sử đang chuyển động không thể lay chuyển đến cực điểm của nó trong sự trị vì đất của Đấng Christ. Khi Ngài tái lâm, Ngài sẽ đem lại nhiều phước hạnh trong giao ước cho người được chuộc, nhưng sự phán xét đời đời cho những ai chối bỏ Ngài.
Trong ánh sáng của lẽ thật chắc chắn ấy, Phi-e-rơ hô lên: “Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào” (IIPhi 3:11)!