Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

Lời giới thiệu

Posted on August 26, 2026August 27, 2026 by vcbc

    

KHẢI HUYỀN 1-11

MOODY PUBLISHERS/CHICAGO

©1999 by JOHN MACARTHUR

Đã đăng ký Bản quyền. Không một phần nào của quyển sách này có thể được sao chép dưới bất kỳ hình thức nào mà không được phép bằng văn bản từ nhà xuất bản, ngoại trừ trong trường hợp trích dẫn ngắn gọn được biểu hiện trong các bài viết hoặc bài phê bình quan trọng.

Tất cả các trích dẫn Kinh thánh, trừ phi được chi ra, được lấy từ quyển Kinh thánh New American Standard © 1960, 1962, 1963, 1968, 1971, 1972, 1973, 1975, 1977 và 1995 của Hội Lockman, La Habra, Calif. Được sự dụng khi có phép.

Các trích dẫn Kinh thánh được đánh dấu (KJV) được lấy từ Bản Kinh Thánh King James.

Các trích dẫn trong Kinh thánh được đánh dấu (NIV) được lấy từ quyền Holy Bible: New International Version®. NIV®. Bản quyền © 1973, 1978, 1984 bởi Hiệp Hội Kinh Thánh Quốc Tế. Được sử dụng khi có phép của Nhà xuất bản Zondervan. Đã đăng ký bản quyền.

Nhãn hiệu “NIV” và “Phiên bản Quốc tế Mới” được đăng ký bởi Phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ bởi Hiệp hội Kinh Thánh Quốc tế. Việc sử dụng một trong hai nhãn hiệu đòi hỏi sự cho phép của Hiệp hội Kinh thánh Quốc tế.

Các trích dẫn Kinh thánh được đánh dấu (NKJV) được lấy từ quyển Holy Bible, New King James© 1982. Bản New King James, New Testament và New Testament với sách Thi Thiên

© 1980, 1979 bởi Thomas Nelson, Inc.

ISBN: 978-0-8024-0773-3

Chúng tôi mong bạn thưởng thức quyển sách này từ Nhà xuất bản Moody. Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp các loại sách và sản phẩm kích thích tư tưởng, chất lượng cao nối kết lẽ thật với các nhu cần và thách thức đích thực của bạn. Để biết thêm thông tin về các loại sách và sản phẩm khác đã được viết ra và sản xuất từ nhận định theo Kinh thánh, hãy truy cập www.moodypublishers.com hoặc viết thư cho:

Nhà xuất bản Moody

820 N. LaSalle Boulevard

Chicago, IL 60610

17 19 20 18 16

In tại Hoa Kỳ

Kính gửi mẹ tôi, Irene MacArthur,

là người năm nay đã hiệp với ca đoàn những người thờ phượng ở trên trời.

Nội Dung

    CHƯƠNG     Trang

    Lời Tựa

    Phần Giới Thiệu    1

Bố Cục    

  1. Ngược Về Với Tương Lai (Kh 1:1-6) 
    13
  2. Xem Trước Lần Đến Thứ Hai (Kh 1:7-8)     27
  3. Sự Mặc Thị Về Đức Chúa Con Vinh Hiển (Kh 1:9-20)     37
  4. Ê-Phê-Sô: Khi Tình Yêu Nguội Dần (Kh 2:1-7)     53
  5. Si-Miệc-Nơ: Hội Thánh Chịu Khổ (Kh 2:8-11)     
67
  6. Bẹt-Găm: Hội Thánh Theo Thế Gian (Kh 2:12-17)     81
  7. Thi-A-Ti-Rơ: Hội Thánh Dung Túng Tội Lỗi (Kh 2:18-29)    93
  8. Sạt-Đe: Hội Thánh Chết (Kh 3:1-6)     107
  9. Phi-La-Đen-Phi-A: Hội Thánh Trung Tín (Kh 3:7-13)     117
  10. Lao-Đi-Xê: Hội Thánh Hâm Hẩm (Kh 3:14-22)     129
  11. Chuyến Đi Lên Trời (Kh 4:1-11) 
    143
  12. Mặc Thị Về Chiên Con (Kh 5:1-14)    161
  13. Khởi Đầu Của Sự Cuối Cùng: (Kh 6:1-8)     175
  14. Những Lời Cầu Nguyện Xin Báo Thù (Kh 6:9-11)     187
  15. Sợ Cơn Thạnh Nộ Hầu Đến (Kh 6:12-17)     199
  16. Những Kẻ Sống Sót Trong Cơn Thạnh Nộ Của Đức Chúa Trời (Kh 7:1-8)     211
  17. Các Thánh Đồ Trong Kỳ Đại Nạn (Kh 7:9-17)     221
  18. Cái Ấn Thứ Bảy (Kh 8:1-5)     235
  19. Sự Huỷ Diệt Sinh Thái Của Địa Cầu
(Kh 8:6-13)    243
  20. Địa Ngục Trên Đất (Kh 9:1-12)     253
  21. Cuộc Tàn Sát Của Sa-Tan (Kh 9:13-21)     265
  22. Khi Đức Chúa Trời Phá Vở Sự Im Lặng Của Ngài (Kh 10:1-11)     275
  23. Hai Người Làm Chứng (Kh 11:1-14)     289
  24. Tiếng Loa Thứ Bảy (Kh 11:15-19)     307

Thư Mục     323

Mục Lục Các Từ Hy-lạp     325

Mục Lục Kinh Thánh     327

Mục Lục Các Đề Tài     342

Lời Tựa

Đúng là một mối tương giao thiêng liêng được ơn liên tục cho tôi khi rao giảng theo kiểu chú giải xuyên suốt cả Tân Ước. Mục tiêu của tôi luôn luôn là phải có một giao thông đậm đà với Chúa trong sự thông biết Lời của Ngài, rồi từ đó giải thích cho dân sự Ngài mỗi phân đoạn có ý nghĩa gì!?! Trong lời lẽ của Ne 8:8, tôi phấn đấu “giải nghĩa nó ra, làm cho người ta hiểu” lời ấy, hầu cho họ sẽ thực nghe Đức Chúa Trời phán dạy và, khi làm như vậy, có thể đáp ứng với Ngài.

Rõ ràng, dân sự của Đức Chúa Trời cần phải hiểu biết Ngài, điều nầy đòi hỏi việc nhận biết Lời lẽ thật của Ngài (IITi 2:15) và để cho Ngôi Lời ngự trong chúng ta một cách dư dật (Co 3:16). Vì lẽ đó, sức thúc đẩy chủ yếu của chức vụ tôi là giúp làm cho Lời hằng sống của Đức Chúa Trời thật sống động với dân sự của Ngài. Đây là một cuộc mạo hiểm sống động.

Loạt bình luận Tân Ước này phản ánh mục tiêu giải thích và áp dụng Kinh Thánh này. Một số bình luận chủ yếu về ngôn ngữ học, một số khác chủ yếu là thần học, và một số chủ yếu là đồng âm. Điều này là về cơ bản giải thích, hoặc expository. Nó không phải là ngôn ngữ kỹ thuật nhưng nó đề cập đến ngôn ngữ học khi nó hữu ích cho việc giải thích đúng. Nó không mở rộng thần học nhưng tập trung vào các giáo lý chính trong từng văn bản và cách chúng liên quan đến toàn bộ Kinh thánh. Nó không phải là chủ nghĩa đồng nhất, mặc dù mỗi đơn vị tư tưởng thường được coi là một chương với một đường nét rõ ràng và dòng tư duy logic.

Hầu hết các sự thật được minh họa và áp dụng với Kinh Thánh khác. Sau khi thiết lập bối cảnh của một đoạn văn, tôi đã cố gắng theo sát sự phát triển và lý luận của nhà văn.

Tôi nguyện rằng mỗi độc giả sẽ hiểu biết trọn vẹn những gì Đức Thánh Linh đang phán dạy qua phần nầy của Lời Ngài, để Ngài có thể ngự vào tâm trí của hàng tín đồ và đem lại sự vâng lời và chung thuỷ đời đời – dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời cao cả chúng ta.

Phần Giới Thiệu

Thủ tướng Anh Winston Churchill từng mô tả Liên Xô cũ là “một thứ bí ẩn được lồng trong cái gói bí ẩn đặt trong cái bị bí ẩn”. Nhiều Cơ đốc nhân xem sách Khải huyền theo cùng một cách ấy. Bị bối rối bởi tính cách biểu tượng bí nhiệm và hình ảnh nổi bật của nó, nhiều tín đồ (bao gồm một số mục sư, là những người không bao giờ giảng dạy qua sách Khải huyền) tránh không nghiên cứu nghiêm túc về sách nầy. Ngay cả John Calvin, nhà chú giải lỗi lạc nhất của phong trào Cải chánh, ông đã viết chú giải về nhiều sách khác, đã không nỗ lực để viết một chú giải về sách Khải huyền. Sự cận thị thể ấy làm cho các tín hữu mất đi nhiều ơn phước mà quyển sách hứa cho những ai cần cù đọc nó (1:3; 22:7).

Người nào phớt lờ sách Khải huyền tự mình tước mất một kho báu lẽ thật thiêng liêng rất phong phú. Sách Khải huyền có nhận định rất cao về Lời đã được cảm thúc của Đức Chúa Trời. Sách ấy tự xưng mình là sự cảm thúc thiêng liêng (1:2), và ước lượng có 278 câu trong số 404 câu của nó chỉ về Kinh Thánh Cựu Ước. Sách Khải huyền bày tỏ ra Đức Chúa Cha trong mọi sự vinh hiển và oai nghi của Ngài, mô tả Ngài là thánh (4:8), chân thật (6:10), toàn năng (4:11), khôn ngoan (7:12), tối thượng (4:11) và đời đời (4:10). Sách Khải huyền nói rất chi tiết chiều sâu sự băng hoại của con người. Bất chấp kinh nghiệm sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ dữ dội của Đức Chúa Trời và sự phán xét và giáng trên nhân loại tội lỗi, tuy nhiên người ta cứ mãi làm cứng lòng của họ (như Pha-ra-ôn ở trước mặt họ; I Samuên 6:6) và từ chối không chịu ăn năn (9:20-21; 16:9,11). Kinh thánh không chứa phần tóm tắt nào rõ ràng về giáo lý cứu chuộc hơn phần tóm tắt có trong Khải huyền 1:5, ở đây tuyên bố rằng: “Đức Chúa Jêsus Christ … yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta“. Công tác của thiên sứ cũng nổi bật lên trong Sách Khải huyền, nó chứa một trong bốn lần tham khảo nhắc tới các thiên sứ trong Kinh Thánh. Sách Khải huyền cảnh báo Hội thánh về mối nguy hiểm của tội lỗi và sự thoả hiệp với thế gian (các câu 2-3) và dạy cho Hội thánh biết cách thờ phượng Đức Chúa Trời sao cho thích ứng (các chương 4-5).

Một số người nghiên cứu sách Khải huyền lo tìm kiếm bằng chứng để hỗ trợ cho các quan điểm của họ về kỳ tận thế (thường kỳ quặc hay giật gân). Nhưng họ đã bỏ sót mục đích. Sách Khải huyền là nguồn lẽ thật phong phú nói về kỳ tận thế; thực vậy, nó chứa nhiều chi tiết nói tới kỳ tận thế hơn bất kỳ sách nào khác trong Kinh Thánh. Sách Khải huyền phác hoạ sự đắc thắng sau cùng của Đấng Christ đối với Sa-tan, mô tả sự thiết lập về mặt chính trị sau cùng của hệ thống thế gian, và mô tả sự nghiệp của nhà độc tài quyền lực nhất trong lịch sử nhân loại, là Anti-christ sau cùng. Nó cũng đề cập đến Sự Cất Lên của Hội thánh (3:10), và mô tả Kỳ Đại Nạn 7 năm, bao gồm ba năm rưỡi Hoạn Nạn Lớn (7:14, Mathiơ 24:21), lần đến thứ hai của Đấng Christ, trận chiến đỉnh cao trong lịch sử nhân loại (Ạt-ma-ghê-đôn), vương quốc ngàn năm trên đất của Đức Chúa Jêsus Christ, sự phán xét sau cùng của hạng người tội lỗi không chịu ăn năn (Ngai Trắng Phán Xét) và tình trạng sau cùng của kẻ ác trong địa ngục (hồ lửa) và người được chuộc ở trong trời mới và đất mới.

Nhưng sách Khải huyền chủ yếu là sự “mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ” (1:1). Sách ấy mô tả Ngài bằng nhiều tước hiệu, bao gồm “Đấng làm chứng thành tín” (1:5); “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết” (1:5); “Chúa của các vua trong thế gian” (1:5); “An-pha và Ô-mê-ga” (1:8; 21:6); “Đấng trước hết và là Đấng sau cùng”(1:17); “Đấng Sống” (1:18); “Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng” (2:1); “Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi” (2:12); “Con của Đức Chúa Trời” (2:18); Đấng có “mắt như ngọn lửa, chân như đồng sáng” (2:18); Đấng “có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao”(3:1); “Đấng thánh, chân thật” (3:7); “Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được” (3:7); “Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật” (3:14); “Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời” (3:14); “sư tử của chi phái Giu-đa” (5:5); “Chồi của vua Đa-vít” (5:5); “Chiên Con của Đức Chúa Trời” (thí dụ: 5:6; 6:1; 7:9 –10; 8:1; 12:11; 13:8; 14:1; 15:3; 17:14; 19:7; 21:9; 22:1); “Đấng thánh và chân thật” (6:10); Đấng được gọi là “Đấng Trung Tín Và Chân Thật” (19:11); “Lời Đức Chúa Trời” (19:13); “Vua các vua và Chúa các chúa” (19:16); “Đấng Christ” (Đấng Mê-si), trị vì thế gian cùng với các thánh đồ đã được tôn vinh hiển (20:6); và “Jêsus, … là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói” (22:16).

Sách Khải huyền cũng khẳng định thần tánh trọn vẹn của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài sở hữu các thuộc tánh cùng các đặc quyền của Đức Chúa Trời, bao gồm việc làm Chúa của các vua (1:5), tính cách đời đời (1:17–18), quyền xét đoán loài người (19:11) và quyết định ai sống và ai chết (1:18; 2:23). Ngài cũng tiếp nhận sự thờ phượng (5:13) cùng các luật lệ ra từ ngai của Đức Chúa Trời (22:1, 3). Sau cùng, sách Khải huyền khẳng định sự bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Cha bằng cách áp dụng các phân đoạn Cựu Ước mô tả Đức Chúa Trời với Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu Phục truyền luật lệ ký 10:17 với 19:16; Châm ngôn 3:12 với 3:19; Đaniên 7:9 với 1:14; Êsai 44:6 với 1:17; cũng đối chiếu 1:8 với 22:12–13).

Không phải là cuốn sách bí ẩn, không thể hiểu nổi mà nhiều người cứ tưởng thế, mục đích của sách Khải huyền là tỏ ra lẽ thật, chứ không phải làm mù mờ nó. Sự thực này rất hiển nhiên trong đề tựa của nó: “Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ” (1:1), chủ yếu trong sự vinh hiển của lần đến thứ hai của Ngài. Apokalupsis (“mặc thị”) có thể được dịch là “thổ lộ”, “mở ra” hoặc “vạch ra”. Từ nầy được sử dụng trong Tân Ước để nói đến việc thổ lộ ra lẽ thật về mặt thuộc linh (Rôma 16:25; Galati 1:12; Êphêsô 1:17; 3:3), sự tỏ ra con cái của Đức Chúa Trời (Rôma 8:19), và sự tỏ ra của Đấng Christ ở cả hai: lần đến thứ nhứt (Luca 2:32) và lần đến thứ nhì (II Têsalônica 1:7; I Phierơ 1:1). Trong mỗi trường hợp, apokalupsis mô tả một việc (hoặc ai đó) trước đây đã bị giấu kín, song bây giờ được mở ra. Sách Khải huyền tỏ ra những sự thật về Đức Chúa Jêsus Christ, và làm rõ các đặc điểm của lẽ thật thuộc dạng tiên tri chỉ được gợi ý trong Cựu Ước và các sách Tân Ước khác. Sự sáng tỏ nầy thường bị che khuất bởi việc bác bỏ của các nguyên tắc giải thích sát nghĩa để nghiêng về một phương pháp diễn giải theo nghĩa bóng hoặc thuộc linh. Các cách tiếp cận như thế nầy nỗ lực đặt câu chuyện mặc thị trong quá khứ và hiện tại thay vì là tương lai. Nhưng một khi ý nghĩa đơn sơ của bản văn bị chối bỏ, nhà chú giải chỉ có nước hình dung theo trí tưởng tượng của mình mà thôi, và các lẽ thật của sách này bị lạc mất trong một mê cung những phát minh vô quyền của con người. Xem phần bàn bạc thêm về vấn đề này trong phần Giải Thích dưới đây.

TÁC GIẢ

Bốn lần trong sách Khải huyền, tác giả tự xác định mình là Giăng (1:1, 4, 9; 22:8). Hội thánh đầu tiên nhất trí (cho đến thế kỷ thứ ba) khẳng định rằng ông là Giăng con của Xê-bê-đê, một trong mười hai sứ đồ và là tác giả của sách Tin lành thứ tư và các thư tín của Giăng.

Viết vào đầu thế kỷ thứ hai (có thể là đầu năm 135SC) Justin Martyr tuyên bố: “Có một người đã ở cùng chúng ta, tên là Giăng, một trong các sứ đồ của Đấng Christ, ông đã nói tiên tri, bởi một sự khải thị đã được nấy cho ông, để những người tin theo Đấng Christ của chúng ta sẽ ngụ ở Giê-ru-sa-lem một ngàn năm; và sau đó tóm lại, sự phục sinh đời đời và sự phán xét của mọi người cũng sẽ diễn ra y như vậy” (Dialogue with Trypho, chương 81). Vì Justin đã sống một thời gian ở Ê-phê-sô, một trong bảy Hội thánh mà sách Khải huyền đã nói tới, sự làm chứng của ông đặc biệt là quan trọng.

Có niên đại khoảng cùng thời với Justin (khoảng năm 100–150SC) là tác phẩm của phái Ngộ Đạo (Gnostic) được biết với đề tựa Apocryphon of John. Tư liệu đó kể Khải huyền 1:19 cùng gán nó cho Giăng em của Gia-cơ và là con của Xê-bê-đê (Robert H. Mounce, The Book of Revelation, The New International Commentary on the New Testament [Grand Rapids: Eerdmans, 1977], 28).

Một khẳng định khác từ Irenaeus trong thế kỷ thứ hai cho rằng sứ đồ Giăng đã viết sách Khải huyền, ông nầy đã giới thiệu một chuỗi các trưng dẫn từ sách Khải huyền với câu nói “Giăng cũng nói trong Apocalypse, ông là môn đồ của Chúa, khi nhìn thấy sự đến vinh hiển của Nước Ngài” (Against Heresies, 4.20.11). Về sau, trong cùng một công tác ấy, ông nói thêm: “Và nếu có ai chú ý kỹ những điều được các tiên tri loan báo liên quan đến kỳ tận thế, và những gì mà Giăng môn đồ của Chúa đã thấy trong Sách Khải huyền, ông sẽ thấy rằng các nước cần phải nhận lãnh một cách bao quát những thảm hoạ tương tự nhau, như Ai-cập đã nhận rất đặc biệt” (Against Heresies, 4.30.4). Chứng ngôn của Irenaeus rất có giá trị vì ông là một người thuộc bản xứ Si-miệc-nơ, một trong bảy Hội thánh khác mà Giăng đã đề cập đến sách Khải huyền. Ngoài ra, như một cậu bé Irezéus đã từng là một học trò của Polycarp, đổi lại Polycarp từng là môn đồ của sứ đồ Giăng.

Khi viết sách vào thế kỷ thứ hai, Clement of Alexandria lưu ý rằng chính sứ đồ Giăng đã bị lưu đày trên đảo Bát-mô (Who Is The Rich Man Shall Be Saved? ,42). Rõ ràng, chính Giăng đã bị lưu đày đến đảo bát-mô, ông đã viết ra sách Khải Huyền (1:9).

Khi viết sách vào cuối thế kỷ thứ hai hoặc đầu thế kỷ thứ ba, Tertullian công bố: “Song chúng ta xưng rằng một vương quốc được hứa cho chúng ta trên đất, mặc dù trước thiên đàng, chỉ ở một tình trạng sống động khác; việc xảy ra sau vì sau cuộc phục sinh cả ngàn năm tại thành Giê-rê-ru-sa-lem được xây dựng theo cách thiêng liêng, “giáng xuống từ trời”, là thành mà vị sứ đồ cũng gọi là “mẹ chúng ta từ trên cao” (Galati 4:26] … Cả hai Êx-ê-chi-ên đều nhận biết và Sứ đồ Giăng nhìn thấy [đối chiếu Khải huyền 21:2]” (Against Marcion, 3.24).

Những lời chứng đầu tiên khác về địa vị tác giả của sách Khải huyền đều đến từ Origen (De Principiis, 1.2.10, 1.2.7), Hippolytus (Treatise on Christ and Antichrist, 36), và Victorinus, tác giả sách chú giải Khải huyền vào thế kỷ thứ 4 (trong phần bình luận của ông ở Khải huyền 10:3).

Lời làm chứng mạnh mẽ, sớm sủa và nhất quán thể ấy đối với quyền tác giả của sứ đồ Giăng khẳng định những lời xưng nhận trong quyển sách (1:1, 4, 9; 22:8) và không thể dễ bị gạt qua một bên. Lời chứng của Justin và Irenaeus đặc biệt là quan trọng, một khi họ sống tại thành Ê-phê-sô và Si-miệc-nơ lúc một số độc giả nguyên thuỷ sách Khải huyền vẫn còn sống. Hội thánh có thể bị nhầm lẫn về người đã viết sách Khải huyền từ thời điểm sách được viết ra là không thể tưởng tượng được.

Mãi cho đến phân nửa thứ hai của thế kỷ thứ ba thì Dionysius, là giám mục (giám sát, mục sư) của Hội thánh ở Alexandria, đã nghiêm túc thắc mắc quyền tác giả sách Khải huyền của sứ đồ Giăng. E rằng có một số người dạy rằng sẽ có một ngàn năm theo đời nầy (điều mà ông đã chối bỏ), Dionysius đã nỗ lực không tin theo sự dạy đó bằng cách phủ nhận Giăng đã không viết ra sách Khải huyền. (Vì Dionysius đã chấp nhận Khải huyền là đã được cảm thúc và là một phần kinh điển của Kinh Thánh, nhưng không rõ ràng ở chỗ ông mong kiếm lợi bằng cách chối không nhận sứ đồ Giăng là tác giả của nó). Các lập luận của ông chống lại quyền tác giả của vị sứ đồ chủ yếu nhắm vào sự khác biệt trong phong cách và từ vựng giữa sách Tin lành Giăng và các thư tín của Giăng (là điều Dionysius tin sứ đồ Giăng đã viết ra) và sách Khải huyền. Những lập luận đó cũng là những lập luận được sử dụng hôm nay bởi những người chối bỏ không nhận sứ đồ Giăng đã viết sách Khải huyền (xem phần thảo luận về điểm này dưới đây). Như về ai đã viết sách Khải huyền, Dionysius chỉ có thể suy đoán rằng có hai Giăng ở Ê-phê-sô khi sách Khải huyền được viết ra. Tuy nhiên, mọi sự mà ông có thể đưa ra để ủng hộ giả thuyết đó là bằng chứng cho thấy “họ nói rằng có hai tấm bia [ngôi mộ] tại thành Ê-phê-sô, và mỗi cái đều mang tên Giăng” (trích ở Eusebius, Ecclesiastical History, 7.25 ). Donald Guthrie nhận xét:

Đề xuất thay thế của Dionysius không dẫn tới chỗ đáng tin, vì “Giăng thứ hai” có một chứng tích rất mong manh về sự tồn tại của ông nầy. Thật là kỳ lạ khi một học giả như Dionysius lại tin tưởng vào câu chuyện đó đây của một du khách về hai ngôi mộ có tên là Giăng ở Ê-phê-sô mà không giải thích khả năng ngôi mộ có thể là do những kẻ cơ hội chủ nghĩa ở địa phương, sau khuôn khổ giải tích phi thường về di vật trong lịch sử tiếp theo. Trong bất kỳ trường hợp nào, suy luận của Dionysius cho rằng có thể có hai Giăng là một sự giải thích của câu chuyện mà dường như đã được rút ra bởi tình trạng khó xử quan trọng của ông. Nếu sứ đồ Giăng không phải là tác giả, thì phải có hai Giăng ở Ê-phê-sô, và vì thế, câu chuyện có thể được tạo ra để phục vụ có sự hỗ trợ. Về sự việc nầy Dionysius đã báo trước, như một người sinh ra trước kỳ hạn của mình, các trường phái phê bình hiện đại tạo ra lịch sử Cơ đốc đầu tiên với toàn bộ đội ngũ của các nhà văn vô danh, các tác phẩm của họ đạt được sự nổi bật y như các tác giả của họ đã thu được sự tối tăm. (New Testament Introducement, rev. Ed. [Downers Grove, Il.: InterVarsity, 1990], 934-35).

Việc nắm bắt lý thuyết của Dionysius cho rằng một Giăng khác hơn vị sứ đồ đã viết ra sách Khải huyền, sử gia của Hội thánh Eusebius đã trình luận án rằng Sách Khải huyền thực sự được viết ra bởi một “Giăng là Trưởng lão” (story according to the Bible, 3.39). Sự tồn tại của cái bóng râm đó đặt hoàn toàn trên một câu nói tranh cãi mà Eusebius gán cho Papias, ông giống như Polycarp, là một môn đệ của sứ đồ Giăng. Eusebius trích dẫn câu nói của Papias rằng: “Thế thì nếu ai đó đã đến cấp bậc trưởng lão, tôi hỏi rất chi ly sau những câu nói của họ — Anh-rê hay Phi-e-rơ đã nói gì, hay Philip đã nói gì, hoặc do Thô-ma, hay Gia-cơ, hoặc bởi Giăng, hay bởi sách Ma-thi-ơ, hay bởi bất kỳ môn đệ nào khác của Chúa: những điều mà Aristion và trưởng lão Giăng, các môn đồ của Chúa, nói rằng” (Exposition of the Oracles of the Lord, 1)

Tuy nhiên, e rằng Papias có hai Giăng khác nhau trong trí. Ông nhắc tới Giăng một lần nữa với Aristion vì họ vẫn còn sống (như thì hiện tại của động từ “nói” chỉ ra). Ông lặp lại cụm từ “trưởng lão” trước khi viết tên Giăng một lần nữa cho thấy ông đang đề cập đến Giăng mà ông đã mô tả trước đây là một trong những người cao tuổi [trưởng lão]. R.C.H. Lenski lưu ý:

Ở lần nhắc thứ hai về Giăng, Papias cẩn thận nhắc đi nhắc lại thuật ngữ: “trưởng lão Giăng”, cho thấy không phải thắc mắc chi, ông có trong trí Giăng được liệt kê trong số bảy người mà ông vừa gọi là “các trưởng lão”; vì nếu trong trường hợp thứ hai ông đã viết chỉ “Giăng” thôi, độc giả có thể coi đây là một Giăng khác đối với người được nhắc tới trong danh sách bảy người được gọi là “các trưởng lão”. Papias biết chắc rằng chúng ta nghĩ đến cùng một người khi “trưởng lão Giăng” được nhắc tới, một trong bảy vị trưởng lão mà ông vừa viết ra. (The Interpretation of St. John’s Revelation [Minneapolis: Augsburg, 1943], 9)

Ngay cả khi có thể chứng minh rằng Papias đã nói về hai Giăng, điều đó không chứng minh được rằng “trưởng lão Giăng” đã viết sách Khải huyền. Chưa chắc là hai Giăng nổi tiếng như thế đã từng sống tại thành Ê-phê-sô cùng một lúc. Ngoài những suy đoán đó, tác giả sách Khải huyền chỉ tự xác định mình là “Giăng”, ám chỉ rằng ông quen biết với hàng độc giả của mình đến nỗi không cần phải xác định thêm nữa mà chi. Hội thánh cũng không có khả năng bị nhầm lẫn từ thời điểm Sách Khải huyền được viết ra cũng như tác giả của nó. Justin Martyr và Irenaeus, như đã nói ở trên, đã có mặt ở một vị thế quen biết một số độc giả nguyên thuỷ của sách Khải huyền, khiến cho một trường hợp xác định nhầm lẫn khó mà xảy ra được.

Sự khác biệt về phong cách giữa sách Khải huyền và các tác phẩm được cảm thúc khác của Giăng được Dionysius lưu ý đã hình thành dòng tranh luận chính đối với những người phủ nhận vị sứ đồ đã viết sách Khải huyền. Trong khi những điểm khác biệt đó tồn tại, bởi vì gốc gác tư liệu có khác nhau, song chúng không lớn đủ để chứng minh rằng sứ đồ Giăng không viết Sách Khải huyền. Một số khác biệt này, như đã lưu ý rồi, cũng có thể được giải thích bởi phong cách văn học khác biệt của sách Khải huyền. Và cũng có thể là Giăng đã sử dụng một Amanuensis (thư ký) khi ông viết sách Tin lành và các thư tín (giống như Phaolô đã làm, Rô-ma 16:22) — là điều ông không thể làm trong khi viết sách Khải huyền trong cảnh lưu đày trên đảo Bát-mô.

Bất chấp những khác biệt, có những điểm tương đồng nổi bật giữa Sách Khải huyền và các tác phẩm khác của vị sứ đồ Giăng. Chỉ có sách Tin lành Giăng và Khải huyền đề cập đến Đấng Christ là Ngôi Lời (Giăng 1:1; Khải huyền 19:13). Sách Khải huyền thường mô tả Đấng Christ là Chiên Con — một tước hiệu ở chỗ khác gán Ngài chỉ trong Tin lành của Giăng. Cả hai: sách Tin lành Giăng và Khải huyền đều đề cập đến Chúa Jêsus là chứng nhân (Giăng 5:31-32; Khải huyền 1:5). Khải huyền 1:7 và Giăng 19:37 trưng dẫn Xa-cha-ri 12:10 khác với bản Kinh Thánh 70 (bản dịch Cựu Ước tiếng Hy Lạp) nhưng đồng thuận với nhau. (Về các trường hợp khác, có những tương tự giữa sách Khải huyền và các tác phẩm khác của Giăng, xem Robert L. Thomas, Revelation 1–7, An Exegetical Commentary [Chicago: Moody,1992],11ff.; Henry Barclay Swete, Commentary on Revelation [Reprint; Grand Rapids: Kregel,1977], cxxvi–cxxx; Leon Morris, The Revelation of St. John, The Tyndale New Testament Commentaries [Grand Rapids: Eerdmans, 1969], 30). Bình luận về những điểm tương đồng giữa Sách Khải huyền và các tác phẩm khác của Giăng, Guthrie viết: “Cũng cần phải lưu ý, mặc dù các khác biệt của ngôn ngữ và ngữ pháp sách Khải huyền có mối quan hệ gần gũi với người Hy-lạp ở các sách khác của Giăng hơn bất kỳ sách nào khác trong Tân Ước” (New Testament Introduction, 940).

Các bình luận của một số nhà phê bình xưa và nay, tuy nhiên quan điểm theo truyền thống cho thấy sứ đồ Giăng là Giăng được xác định là tác giả được cảm thúc viết sách Khải huyền phù hợp nhất với chứng cớ. Lời chứng mạnh mẽ của Hội thánh hầu như từ thời sách Khải huyền được viết ra, những điểm tương đồng giữa sách Khải huyền và các tác phẩm khác của Giăng, sự vắng mặt của tác giả thay thế đáng tin cậy và tình trạng không chắc có hai người nổi tiếng tên là Giăng đã sống cùng thời gian ở Ê-phê-sô bàn bạc về quyền tác giả của vị sứ đồ.

Các hoàn cảnh mà theo đó Giăng đã viết sách Khải huyền được bàn bạc ở chương 3 của sách nầy. Bảy Hội thánh, mà vị sứ đồ nhắc tới trong sách, được mô tả chi tiết ở các chương 4–10.

NIÊN ĐẠI

Hai lựa chọn chính đã được đề xuất về niên đại của sách Khải huyền: một là trong thời gian trị vì của Nero (khoảng năm 68SC), hoặc của Domitian (năm 96SC). Niên đại trước được duy trì chủ yếu bởi một số người sử dụng cách giải thích quá khứ của sách Khải huyền (xem phần Giải thích dưới đây). Cách giải thích ấy dựa vào phần chú giải có thể thắc mắc một vài phân đoạn trong sách và nỗ lực loại bỏ sự ứng nghiệm về mặt tiên tri của nó hoàn toàn vào giai đoạn trước sự huỷ diệt thành Giê-ru-sa-lem vào năm 70SC. Những người nầy giữ niên đại đầu nhìn thấy trong sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem, lần đến thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ đã được nói tiên tri trong giai đoạn đầu tiên của nó. Bằng chứng ngoại tại cho niên đại trước (thời Nero) hần như là không tồn tại.

Mặt khác, quan điểm cho rằng sứ đồ Giăng đã viết sách Khải huyền vào cuối đời trị vì của Domitian đã được duy trì rộng rãi trong Hội thánh đầu tiên. Giáo phụ Hội thánh vào thế kỷ thứ hai Irenaeus đã viết: “Tuy nhiên, chúng ta sẽ không phải lo về sự tuyên bố tích cực đối với danh xưng của Anti-christ; vì nếu cần thiết danh xưng ấy phải được tiết lộ rõ ràng trong thời hiện tại, nó sẽ được ông loan báo vì ông giữ lấy sự mặc thị về kỳ tận thế (sách Khải huyền). Vì mặc thị ấy đã được nhìn thấy không lâu lắm, nhưng hầu như trong thời của chúng ta, đến cuối đời trị vì của Domitian” (Against Heresies, 5.30.3). Các giáo phụ Hội thánh Clement of Alexandria, Origen, Victorinus, Eusebius, và Jerome cũng khẳng định rằng sách Khải huyền đã được viết ra trong thời của Domitian (đối chiếu Mounce, Revelation, 32; Swete, Commentary on Revelation, xcix–c). Lời chứng của Hội thánh đầu tiên cho rằng sách Khải huyền đã được viết ra trong đời trị vì của Domitian là khó giải thích nếu nó được viết ra trong đời Nero.

Sách Khải huyền đã được viết ra trong thời kỳ Hội thánh bị bắt bớ. Giăng đã bị lưu đày đến đảo Bát-mô, ít nhất một người tin Chúa đã phải tử vì đạo (2:13), và nhiều sự bắt bớ hơn nữa đang chực chờ ở trên đường chân trời (2:10). Tầm cở bắt bớ dưới thời Domitian dường như rộng khắp hơn nhiều so với dưới thời Nero, phần lớn tập trung vào thành phố Rô-ma. Tuy nhiên, sự bắt bớ Cơ đốc nhân được đề cập đến trong sách Khải huyền phù hợp hơn với một niên đại trong đời trị vì của Domitian.

Tình trạng của bảy Hội thánh Giăng đề cập đến họ trong sách Khải huyền cũng lập luận cho niên đại sau. Như đã thấy trong sách Ê-phê-sô, Cô-lô-se, và I và II Ti-mô-thê, các Hội thánh đó vốn lành mạnh về mặt thuộc linh vào giữa những năm 60, khi Phao-lô mới đến phục vụ trong khu vực đó. Nhưng vào thời điểm sách Khải huyền được viết ra, các Hội thánh này đã chịu khổ vì sự suy thoái thuộc linh trầm trọng. Ê-phê-sô đã bỏ đi tình yêu ban đầu của nó, và hầu hết phần còn lại đã bị tiêm nhiễm bởi đạo giả và tội lỗi. Sự suy thoái như vậy sẽ kéo dài hơn khoảng thời gian ngắn giữa sự kết thúc chức vụ của Phao-lô ở Tiểu Á và sự chấm dứt của triều đại Nero. Trong một động thái tương tự, có người cho rằng việc thiếu không nhắc tới Phao-lô trong các thư tín gửi cho bảy Hội thánh ám chỉ khoảng thời gian xen giữa ít nhất là một thế hệ giữa cái chết của ông và việc viết ra sách Khải huyền (Guthrie, New Testament Introduction, 954 n.1 ).

Không một chỗ nào Phao-lô đề cập đến đảng phái tà giáo được gọi là đảng Ni-cô-la, họ đã hành hại các Hội thánh ở Ê-phê-sô và Bẹt-găm (2:6, 15). Nhưng đến thời của sách Khải huyền, đảng phái nổi tiếng đến mức Giăng chỉ có thể nhắc tới danh xưng của nó; đảng viên Ni-cô-la rõ ràng là rất nổi tiếng với độc giả của ông rằng chẳng có mô tả nào là cần thiết cả. Một lần nữa, việc ấy ám chỉ khoảng lỗ hỗng thời gian dài giữa thời của Phao-lô và thời sách Khải huyền được viết ra.

Lao-đi-xê, một trong bảy Hội thánh, đã bị tàn phá bởi một trận động đất khoảng năm 60SC. Phần còn lại sự trị vì của Nero, thành phố đã dấn thân vào việc tái thiết, và khó có thể được coi là “giàu . . . giàu có” và “không cần chi nữa” (3:17). Một niên đại trong đời trị vì của Domitian sẽ cho phép thời gian cho Lao-đi-xê kiếm lại được sự giàu có của nó.

Có bằng chứng cho thấy Hội thánh tại Si-miệc-nơ đã không được thành lập cho đến sau cái chết của Phao-lô (khoảng năm 67SC [Guthrie, New Testament Introducing, 954]). Nó khó có thể khởi sự, tấn tới để trưởng thành, và rồi bị suy thoái trong khoảng thời gian ngắn xen giữa, giữa cái chết của vị sứ đồ và phần kết thúc triều đại của Nero trong cùng thời kỳ.

Lý do cuối cùng để chọn niên đại sau (95-96SC) là niên đại cho sách Khải huyền là thời điểm Giăng đến Tiểu Á. Theo truyền khẩu, Giăng đã không rời xứ Palestine để đến Tiểu Á cho tới chừng cuộc nổi dậy của người Do-thái chống lại Rome (66-70SC). Việc đặt tác phẩm Khải huyền trong suốt sự trị vì của Nero sẽ không cho phép đủ thời gian cho chức vụ của Giăng lên tới điểm mà người La-mã cảm thấy nhu cần phải đày ông ra đảo (Thomas, Revelation 1–7,22). G.R. Beasley-Murray lưu ý rằng:

Sự trục xuất Giăng trong vai trò một nhà truyền đạo Cơ đốc . . . phản ánh một chính sách thù nghịch năng động của nhà nước đối với Hội thánh. Đúng là không thể tỏ ra các đánh giá theo luật pháp đã được thực hiện bởi nhà nước chống lại Cơ đốc nhân trước những năm cuối của Domitian. Sách Khải huyền phản ánh một tình huống trong đó sự thờ lạy hình tượng của hoàng đế là một thế lực đương đại và đang bành trướng để trở thành cấp thế giới. Sự bắt bớ của Nero không liên quan gì đến vấn đề này. (The Book of Revelation, The New Century Bible [London: Oliphants, 1974], 38).

Bằng chứng có sức mạnh ưu ái rõ ràng ủng hộ một niên đại cho việc viết ra sách Khải huyền vào giữa những năm 90SC, gần với phần cuối đời trị vì của Domitian. Điều nầy rất là quan trọng bởi vì nó loại bỏ khả năng mà những lời tiên tri trong sách Khải huyền được ứng nghiệm trong sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem vào năm 70SC.

PHẦN GIẢI THÍCH

Hình ảnh đẹp như tranh vẽ, biểu tượng huyền bí, và ngôn ngữ thuộc thời kỳ mạt thế của sách Khải huyền khiến nó trở thành một trong những cuốn sách đầy thách thức nhất để giải thích trong Kinh thánh. Có bốn cách tiếp cận chính cho sự lý giải quyển sách.

Cách tiếp cận preterist xem sách Khải huyền không phải là lời tiên tri tiên đoán trước về cuộc tương lai, mà là một bản tường trình lịch sử nói tới các biến cố thuộc Đế Quốc La-mã vào thế kỷ thứ nhất. Quan điểm preterist vì thế bất chấp những lời xưng nhận của quyển sách là một lời tiên tri (1:3; 22:7, 10, 18-19). Hết thảy các biến cố cũng không tiên đoán và mô tả trong sách Khải huyền được ứng nghiệm trong thế kỷ thứ nhất. Lần đến lần thứ hai của Đấng Christ được mô tả trong chương 19 rõ ràng là vẫn chưa xảy ra. Nhưng quan điểm preterist đòi hỏi người ta phải xem những lời lẽ nói về lần đến thứ hai của Đấng Christ như được ứng nghiệm trong sự phá huỷ đền thờ vào năm 70SC, mặc dù Ngài không xuất hiện cơ hội ấy. Không có một sự bắt bớ nào trong thế kỷ thứ nhất phù hợp với phần mô tả các biến cố kinh khiếp được mô tả ở các chương 6-19.

Cách tiếp cận theo lịch sử gặp gỡ trong sách Khải huyền một tường trình ghi lại sự quét dọn lịch sử Hội thánh từ thời các sứ đồ cho tới hiện tại. Những người chú giải theo lịch sử thường dựa vào việc nói bóng theo văn mạch để tìm ra trong đó những biến cố lịch sử khác nhau mà họ tin rằng nó đang mô tả (thí dụ như sự sụp đổ của La Mã trước những kẻ man rợ, sự dấy lên của Nhà thờ Công giáo La Mã, sự xuất hiện của Hồi giáo, ngay cả Cuộc Cách Mạng của nước Pháp). Không có gì phải ngạc nhiên, cách tiếp cận mang tính chủ quan, tùy tiện và kỳ quái này đã cung ứng cao trào dẫn đến vô số các diễn giải mâu thuẫn về các biến cố của lịch sử thực tế trong sách Khải huyền. Giống như cách tiếp cận preterist, quan điểm theo lịch sử bất chấp những xưng nhận của chính sách Khải huyền là một lời tiên tri. Nó cũng cướp đi của quyển sách bất kỳ ý nghĩa nào đối với những người tin Chúa trong thế kỷ thứ nhứt mà nó nói tới họ. Và nó loại bỏ sự giải thích của sách Khải huyền từ lãnh vực giảng dạy theo nghĩa đen, theo lịch sử, để nó lại đó theo sự thương xót của những ý nghĩa gợi ý và thuộc linh hoá mà mỗi người sẽ trở thành nhà chú giải phát minh ra.

Cách tiếp cận lý tưởng xem mọi điều được mô tả trong sách sự phấn đấu vô hạn giữa thiện và ác đã diễn ra trong từng thế đại. Theo quan điểm này sách Khải huyền không phải là một tường trình lịch sử cũng không phải là một lời tiên tri nói trước. Giống như hai quan điểm đầu tiên, quan điểm lý tưởng bất chấp những lời xưng nhận của sách Khải huyền là một lời tiên tri. Nếu đưa ra kết luận hợp lý, nó cũng tách sách Khải huyền ra khỏi bất kỳ nối kết nào với các biến cố lịch sử thực tế. Quyển sách này do đó bị rút lại thành một tuyển tập các huyền thoại được lắp đặt để chuyển tải lẽ thật thuộc linh. Cách tiếp cận tương lai xem ở các chương 4-22 những lời tiên đoán về con người và các biến cố chưa xảy đến trong tương lai. Chỉ có cách tiếp cận này mới cho phép sách Khải huyền được giải thích theo cùng phương pháp diễn giải cụ thể, lịch sữ theo ngữ văn, theo đó các phân đoạn không thuộc diện tiên tri của Kinh thánh được diễn giải. Như đã lưu ý trước, những người đề xướng ba cách tiếp cận kia thường bị buộc phải dùng đến việc nói bóng hoặc thuộc linh hoá văn bản để hỗ trợ cho cách lý giải của họ. Cách tiếp cận tương lai, ngược lại với ba cách kia, thực thi sự công bằng trọn vẹn trước lời xưng nhận của sách Khải huyền là một lời tiên tri. Cách tiếp cận tương lai thường bị chỉ trích là tước khỏi sách Khải huyền bất cứ ý nghĩa nào đối với những người đã viết ra nó, một khi bởi vì nó thấy nhiều thứ trong sách như đang mô tả các biến cố trong tương lai xa. Để trả lời John F. Walvoord lưu ý:

Phần lớn lời tiên tri trong Kinh thánh đề cập đến khoảng tương lai xa xôi, bao gồm các lời hứa trong Cựu Ước về Đấng Mê-si hầu đến, những lời tiên tri của Đa-ni-ên liên quan đến các đế quốc thế giới trong tương lai, bộ lẽ thật liên quan đến vương quốc hầu đến trên trái đất cũng như vô số các lời tiên tri khác. Nếu các biến cố của các chương từ 4 đến 19 là tương lai, ngay cả từ nhận định của chúng ta hôm nay, chúng dạy dỗ lẽ thật phước hạnh về sự tễ trị tối cao của Đức Chúa Trời và sự đắc thắng của sự công bình. Áp dụng ngay các biến cố xa xôi rất là quen thuộc trong Kinh Thánh, thí dụ như II Phi-e-rơ 3:10-12, ở đây nói tới sự tan rã sau cùng của địa cầu; tuy nhiên, đoạn văn kế tiếp cung ứng một sự ứng dụng ngay lập tức: “Vậy nên, hỡi kẻ rất yêu dấu, vì anh em trông đợi những sự đó, thì phải làm hết sức mình…” (II Phi-e-rơ 3:14). (The Revelation of Jesus Christ [Chicago: Moody, 1966], 22).

Bất cứ cách nào khác hơn là cách tiếp cận tương lai sẽ để ý nghĩa của cuốn sách lại cho sự tinh xảo và ý tưởng của con người. Cách tiếp cận tương lai nắm lấy ý nghĩa của quyển sách như Đức Chúa Trời đã ban cho nó. Trong việc nghiên cứu sách Khải huyền, chúng ta sẽ nắm lấy nhận định thẳng thắn này và chấp nhận những gì quyển sách nói. Thật là khó xem xét hết những ý kiến mang tính lý giải mà nhiều người đưa ra trong ba nhận định kia, vì vậy chúng ta sẽ không cố gắng làm việc thông qua các lựa chọn đó. Thay vì thế, chúng ta sẽ cầm lấy quyển sách khi nó đến với cách thức thông thường của ngôn ngữ.

BỐ CỤC

I. Những Việc Mà Ngươi Đã Thấy (1:1-20).

A. Đoạn Mở Đầu (1:1-8).

B. Mặc Thị Về Đấng Christ Vinh Hiển (1:9-18).

C. Sự Mệnh Viết Sách Của Giăng (1:19-20).

II. Những Việc Hiện Có (2:1 – 3:22).

A. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Ê-Phê-Sô (2:1-7).

B. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Si-Miệc-Nơ (2:8-11).

C. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Bẹt-Găm (1:12-17).

D. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Thi-A-Ti-Rơ (2:18-29).

E. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Sạt Đe (3:!-6).

F. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Phi-La-Đen-Phi-A (3:7-13).

G. Bức Thư Viết Cho Hội Thánh Lao-Đi-Xê (3:14-22).

III. Những Việc Sẽ Đến Sau Nầy

  • A. Thờ Lạy Trước Ngôi Của Đức Chúa Trời Trên Trời (4:1 – 5:14)

B. Kỳ Đại Nạn (6:1 – 18:24).

C. Lần Đến Thứ Nhì Của Đức Chúa Jêsus Christ (19:1 -21).

D. Thời Kỳ Thiên Hi Niên (20:1-10).

E. Ngai Trắng Lớn Phán Xét (20:11-15).

F. Thể Trạng Đời Đời (21:1 – 22:21).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme