Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đàn bà đã sanh con trai. Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn. Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sống theo sau người đàn bà, hầu cho kéo người xuống sông. Nhưng đất tiếp cứu người đàn bà, vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó. Con rồng giận người đàn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. (12:13-17)
Một trong những vết bẩn đen đúa nhất trong lịch sử nhân loại đã trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng của Chủ nghĩa Bài-Do-thái. Trải qua nhiều thế kỷ, người Do-thái đã đối mặt với nhiều hận thù và bắt bớ hơn bất kỳ dân tộc nào khác. Phần lớn đau khổ đó là sự sửa phạt đến từ Đức Chúa Trời để cất dân tộc nầy ra khỏi tội lỗi và sự vô tín của họ mà trở lại cùng Ngài. Đức Chúa Trời đã nhiều lần cảnh cáo Israel về những hậu quả của sự bất tuân (đối chiếu Phu 28:15-68) và sửa phạt họ khi họ không vâng lời (đối chiếu IIVua 17:7-23). Trong khuôn mẫu ý định tối thượng của Đức Chúa Trời dành cho dân sự của Ngài, Israel cũng đã gánh chịu đau khổ liên tục và trầm trọng bởi tay của Sa-tan, hắn hành động trong vai trò công cụ của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, không giống như Đức Chúa Trời, mục đích của Sa-tan trong việc gây ra cho người Do-thái phải khổ sở không phải là ý định cứu chữa, mà là huỷ diệt. Hắn không tìm cách đưa họ đến với sự ăn năn và được cứu, mà đến với chết chóc và hủy diệt.
Israel đã thường xuyên đối mặt với những mối đe doạ từ các nước láng giềng trong suốt thời kỳ Các Quan Xét và của các vua. Sau đó, trước tiên là vương quốc phía Bắc xứ Israel (722TC) và về sau là vương quốc phía Nam xứ Giuđa (586TC) bị kẻ thù chinh phục. Kết quả là, người Do-thái bị mất đi nền độc lập và trở thành đối tượng cho các thế lực nước ngoài, bao gồm A-si-ri, Ba-by-lôn, Mê-đi-Ba-tư, Hy-lạp và Rô-ma.
Trong thời kỳ hậu Kinh Thánh, thảm kịch cũng nhiều y như thế. Lịch sử của dân Do-thái trong suốt hai ngàn năm qua là một bài kinh buồn về thành kiến, bắt bớ và những cuộc tàn sát. Sự bắt bớ lan rộng đầu tiên của người Do-thái ở Châu Âu diễn ra trong cuộc Thập Tự Chinh lần thứ nhất (1095-99). Khi họ băng từ châu Âu qua phía Palestine, đám đông của những quân thập tự chinh dữ dằn đã phá hủy nhà cửa và làng mạc của người Do-thái cùng tàn sát cư dân của họ. Khi họ chiếm thành Jerusalem vào năm 1099, quân thập tự chinh đã dồn dân Do-thái của thành Jerusalem vào trong một nhà hội Do-thái rồi đốt nhà hội ấy bằng lửa. Phần lớn dân Do-thái bị hư mất, còn những người sống sót thì bị bán đi làm nô lệ. Vua Edward I đã trục xuất hết thảy người Do-thái khỏi nước Anh vào năm 1290, do đó cung ứng cho nước Anh vinh dự đáng ngờ là trở thành nước đầu tiên trục xuất dân Do-thái. Họ sẽ không được phép trở lại cho đến thời của Oliver Cromwell, gần ba thế kỷ rưỡi sau đó. Pháp đã theo sát vào năm 1306, Tây Ban Nha năm 1492 — trớ trêu thay, năm du hành khám phá của Columbus tới Thế Giới Mới. Trong suốt thời Trung Cổ, dân Do-thái bị đổ lỗi cho vì các thảm họa thiên nhiên khác nhau — đáng chú ý nhất là Cái Chết Đen (1348-50) — và bị bắt bớ thật dã man.
Thế kỷ XIX chứng kiến sự bùng nổ bài Do-thái ở Nga, ở đó người Do-thái bị buộc tội ám sát Tsar Alexander II (1881). Trong những cuộc tàn sát liên tiếp trong bốn thập niên tiếp theo, hàng chục ngàn người Do-thái đã bị giết, và hàng trăm ngàn người khác bị đuổi ra khỏi nhà của họ. Gần hơn 3 triệu người nữa đã bị giết trong thời của Stalin, một phần trong hàng chục triệu người bị thảm sát bởi nhà độc tài khét tiếng này. Năm 1894 chứng kiến vụ án Dreyfus đầy tai tiếng ở Pháp, trong đó một sĩ quan quân đội Do-thái, Đại uý Alfred Dreyfus, bị buộc tội phản bội. Chỉ sau mười hai năm xao động công khai về vụ án thì Dreyfus được giải tội.
Nhưng giờ đen tối nhất trong lịch sử lâu đời của Chủ nghĩa bài Do-thái vẫn chưa đến. Vào đầu thập niên 1930, Đảng Quốc Xã lên nắm quyền ở Đức và các lý thuyết điên rồ về chủng tộc của họ đã trở thành chính sách công. Không giống như những người khác, họ đã bắt bớ dân Do-thái, Đức Quốc Xã và cấp lãnh đạo điên cuồng của họ, Adolf Hitler, không những tìm cách bắt bớ người Do-thái, mà còn để thủ tiêu họ nữa. Trong vụ diệt chủng Holocaust xảy ra khi Đức quốc xã tìm cách thực hiện “giải pháp sau cùng” của họ cho “vấn nạn Do Thái”, thì 6 triệu người Do-thái — hơn một nửa số dân Do-thái ở Châu Âu — đã bị tàn sát.
Nhưng bất chấp cả ngàn năm bắt bớ tàn bạo, dân Do-thái vẫn sống. John Phillips đã viết:
Điều quan trọng là điểm xoay chiều đã đến trong đời sống của Môi-se khi ông nhìn thấy, trong sa mạc, một bụi gai cháy theo cách bí nhiệm, vì với ảnh hưởng của lửa, bụi gai lại không cháy. Bụi gai ấy rõ ràng làm biểu tượng cho Israel, là thứ không thể bị cháy bất chấp sự hận thù không dứt của kẻ thù nghịch mình, bởi vì Đức Chúa Trời đang ở giữa Israel. Israel không thể bị đồng hoá trong các nước, Israel cũng không thể bị các quốc gia tiêu diệt. Israel là bụi gai cháy trong đồng vắng. (Exploring Revelation, rev. Ed. [Chicago: Moody, 1987, tái bản, Neptune, N.J.: Loisonaux, 1991], 156)
Chính niềm hy vọng sôi sụt của người Do-thái, những kinh khiếp của diệt chủng Holocaust sẽ không bao giờ được lặp lại. Tuy nhiên, đáng buồn thay, họ sẽ bị như thế. Kinh Thánh cảnh báo rằng thời điểm đau khổ đang ở trước mặt cho Israel sẽ tồi tệ hơn bất cứ điều gì dân tộc đã gánh chịu trong quá khứ. Giêrêmi gọi thời kỳ ấy là “là kỳ tai hại của Gia-cốp!” (Giêrêmi 30:7). Chúa Jêsus đã mô tả sự ấy là “hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa” (Mat 24:21).
Kỳ Đại Nạn sẽ là thời điểm tồi tệ nhất trong mọi thời điểm cho dân Israel vì hai lý do. Trong khoảng thời gian bảy năm đó, Đức Chúa Trời sẽ trút cơn giận cuối cùng của Ngài vào thế giới vô tín không chịu ăn năn (kể cả những kẻ loạn nghịch không chịu ăn năn của Israel). Đồng thời, Sa-tan sẽ thực hiện nỗ lực cuối cùng trong tuyệt vọng của hắn hòng ngăn chặn sự trị vì đã được hứa của Đức Chúa Jêsus Christ trên ngai vàng của Israel và do đó phủ nhận ơn cứu rỗi và vương quốc đã được hứa cho Israel. Hắn sẽ tàn bạo tấn công dân Do-thái, tìm cách tiêu diệt cả hai: những người Do-thái nào đã có đức tin nơi Đấng Christ, và những kẻ sẽ tin theo. Ma quỉ cũng sẽ làm mọi sự trong quyền hạn của hắn hòng ngăn trở chức vụ của 144.000 nhà truyền giáo người Do-thái (7:4) và hai người làm chứng (11:3-14).
Nhưng các nỗ lực của Sa-tan sẽ không thành công. Những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của hắn sẽ được nhận ra khi dân Do-thái “sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, … trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng” (Xa 12:10). Số dân sót còn lại của Israel sẽ được cứu (Ro 11:25-29), và vương quốc được hứa cho sẽ được thiết lập (đối chiếu Os 2:14-23).
Tiên tri Đaniên đã thấy trước thì giờ tai vạ và đắc thắng nầy cho dân Israel:
Trong kỳ đó, Mi-ca-ên, quan trưởng lớn, là đấng đứng thay mặt con cái dân ngươi sẽ chổi dậy. Lúc đó sẽ có tai nạn, đến nỗi từ khi mới có nước đến kỳ đó cũng chẳng có như vậy bao giờ. Bấy giờ, trong vòng dân sự ngươi, kẻ nào được ghi trong quyển sách kia thì sẽ được cứu. Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời. Những kẻ khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung; và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi. Còn như ngươi, hỡi Đa-ni-ên, ngươi hãy đóng lại những lời nầy, và hãy đóng ấn sách nầy cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên.
Bấy giờ, ta, Đa-ni-ên nhìn xem, và nầy, có hai người khác đang đứng, một người ở bờ bên nầy sông, một người ở bờ bên kia. Một người hỏi người mặc vải gai đang đứng ở trên nước sông, rằng: Đến cuối cùng những sự lạ nầy được bao lâu? Ta nghe người mặc vải gai đứng trên nước sông, người cất tay hữu và tay tả lên trời, chỉ Đấng hằng sống mà thề rằng sẽ trải qua một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ; và khi quyền của dân thánh đã bị tan tác hết, thì các sự nầy đều xong. Ta, Đa-ni-ên, nghe những điều đó, nhưng ta không hiểu. Và ta nói rằng: Lạy chúa tôi, cuối cùng các sự nầy sẽ ra thể nào? Người trả lời rằng: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi; bởi vì những lời nầy đã đóng lại và đóng ấn cho đến kỳ cuối cùng. Sẽ có nhiều kẻ tự làm nên tinh sạch và trắng, và được luyện lọc. Nhưng những kẻ dữ sẽ cứ làm điều dữ; trong những kẻ dữ chẳng ai sẽ hiểu; song kẻ khôn sáng sẽ hiểu. Từ kỳ trừ bỏ của lễ thiêu hằng dâng và sự gớm ghiếc làm cho hoang vu sự được lập lên, thì sẽ có một ngàn hai trăm chín mươi ngày” (Da 12:1-11).
Đaniên, giống như Giê-rê-mi và Chúa Jêsus, đã nhìn thấy chính bối cảnh mà Giăng đang tỏ ra trong Khải huyền 12: một thời điểm trong tương lai đau khổ, bắt bớ và giết chóc không chi sánh được của Israel. Hai phần ba số người Do-thái còn sống vào thời điểm đó sẽ bị giết chết khi Đức Chúa Trời dùng Sa-tan để thanh lọc những kẻ loạn nghịch ra khỏi dân tộc (Xa 13:8-9; đối chiếu Exe 20:38). Nhưng số dân sót được chọn, tin Chúa sẽ nhập vào vương quốc của Đấng Mê-si, cùng với các thánh đồ Cựu Ước được phục sinh, lúc đó họ sẽ “thức dậy … để được sự sống đời đời” (Da 12:2).
Sự tàn sát của Sa-tan chống lại người Do thái trong kỳ Đại Nạn sẽ bắt đầu với sự dấy lên quyền lực của Anti-christ. Trong ba năm rưỡi đầu của Kỳ Đại Nạn, Sa-tan sẽ hoạt động để mở rộng quyền lực của Anti-christ. Một khi hắn trở thành vua của thế giới, Sa-tan sẽ sử dụng hắn vì những ý đồ gian ác của mình. Vì vậy, Anti-christ sẽ có điệu bộ làm nhân vật bảo vệ cho dân Do-thái trong suốt phân nửa đầu của Kỳ Đại Nạn. Giao ước được nhắc đến trong Da 9:27 là một gói bảo hộ với Anti-christ mà hắn sẽ phá vỡ vào giữa khoảng thời gian bảy năm đó. Vào thời điểm đó, Anti-christ sẽ trở thành kẻ bắt bớ Israel trong phân nửa sau của kỳ Đại Nạn. Hắn sẽ tỏ ra bản chất thật của hắn khi hắn phá vở giao ước và làm ra ba năm rưỡi hoang vu gớm ghiếc (Da 11:31; 12:11; Mat 24:15-16; IITe 2:3-4) trong Kỳ Đại Nạn. Vào thời điểm đó, sự bắt bớ của Anti-christ đối với dân sự của Đức Chúa Trời, là điều sẽ diễn ra trong suốt nửa đầu của kỳ Đại Nạn (see the discussion of 6:9-11 in Revelation 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1999], 187-97), sẽ tập trung vào Israel và dâng cao.
Phân đoạn Kinh Thánh nầy mô tả ba cuộc tấn công mà các lực lượng của Sa-tan sẽ leo thang chống nghịch lại dân Israel trong suốt Kỳ Đại nạn.
TẤN CÔNG I
Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đàn bà đã sanh con trai. Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn. (12:13-14)
Lý do bây giờ được đưa ra cho sự trốn chạy của Israel, là sự trốn chạy lần đầu tiên được nhắc đến trong 12:6. Theo sau sự thất bại của hắn bởi Mi-chen và các thiên sứ thánh (đối chiếu phần bàn luận về sự mặc thị 12:7-9 trong chương 2 của tập sách này) con rồng (Sa-tan) bị quăng xuống đất. Thất vọng và giận dữ bởi sự quăng bỏ khỏi trời và tuyệt vọng của hắn: “biết rằng thì giờ của mình chẳng còn bao nhiêu” (12:12) hầu chống lại các chương trình của Đức Chúa Trời trước khi hắn bị quăng vào trong vực sâu (20:1-3), ma quỉ bèn đuổi theo người đàn bà (Israel, đối chiếu 12:1), đã sanh (12:2) con trai (Đấng Christ, đối chiếu 12:5). Động từ Hy-lạp được dịch là “bắt bớ” (di¯ok¯o) có nghĩa là, “đuổi theo” hoặc “săn đuổi” hay “truy bắt”. Nó được sử dụng trong Tân Ước “theo đuổi với ý thù nghịch” (đối chiếu Mat 23:34; Cong 26:11), và vì thế, theo hàm ý, sẽ có nghĩa là “bách hại”. Ở đây, từ nầy mô tả hành động thù nghịch và bắt bớ của Sa-tan đối với người Do-thái khi họ chạy trốn vào trong đồng vắng (12:6; đối chiếu 13:4-7).
Sự trốn chạy của người Do-thái trước các lực lượng của Sa-tan sẽ đến, không có gì phải ngạc nhiên cho bất cứ ai quen thuộc với bài giảng trên núi Ô-li-ve của Chúa chúng ta. Trong bài giảng ấy nói tới kỳ tận thế, Chúa Jêsus đã cảnh cáo dân Do-thái về mối nguy hiểm tuyệt vọng mà họ sẽ đối mặt với:
“Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý), thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà; và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình. Đang lúc đó, khốn khó thay cho đàn bà có mang, và đàn bà cho con bú! Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt” (Mat 24:15-22).
Phản ứng thích hợp duy nhất đối với nguy cơ sắp xảy ra sẽ là cuộc trốn chạy ngay lập tức; sẽ không có thời gian thậm chí trở về nhà để thu thập đồ đạc. Phụ nữ có thai và con trẻ còn bú đặc biệt dễ bị tổn thương vì sẽ rất khó khăn cho họ chạy trốn cách nhanh chóng. Vì vậy, sẽ là hư mất nghiệt ngã đến nỗi Đức Chúa Trời sẽ can thiệp “song vì cớ các ngươi được chọn cả hai: [dân Do-thái và dân Ngoại], thì những ngày ấy sẽ giảm bớt” (Mat 24:22). Nếu không có sự can thiệp đó, ngay cả những người được chọn cũng sẽ bị hư mất.
Tình huống của Israel khi cơn bão bắt bớ của Anti-christ đập vào họ trong Kỳ Đại Nạn sẽ rất là kinh khiếp và thê thảm. Người Do-thái sẽ sống trong cảnh rất cần bất kỳ sự trợ giúp nào mà họ có thể có được và, trong sự tễ trị của Đức Chúa Trời, sẽ có một số người chịu trợ giúp họ:
“Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả”.
“Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta. Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa? Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy” (Mat 25:31-40).
Trong thời điểm hiểm nguy của người Do-thái và cuộc trốn chạy, họ sẽ nhận được sự giúp đỡ từ các cá nhân dân Ngoại. Những người dân Ngoại này sẽ chứng tỏ sự chân thật đức tin của họ nơi Đấng Christ bằng cách họ sẵn sàng giúp đỡ những người Do-thái bị bắt bớ — thậm chí cả nguy hiểm của mạng sống họ nữa.
Không những Đức Chúa Trời trong sự tễ trị của Ngài, sẽ sử dụng những người Ngoại tin Chúa giúp đỡ cho người Do-thái, mà Ngài còn trực tiếp can thiệp vì ích cho họ. Giăng đã nhìn thấy trong sự mặc thị của mình rằng một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn. Đây là lối nói bóng bẩy về mặt biểu tượng mô tả việc Israel thoát khỏi cuộc tấn công của Sa-tan. Hình ảnh nổi bật của cặp cánh chim phụng hoàng được trích từ Xu 19:4: “Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thể nào”. Đức Chúa Trời sẽ đem dân Israel đến nơi an toàn, y như Ngài đã giải cứu dân tộc ra khỏi vòng nô lệ trong xứ Ai-cập.
Cặp cánh trong Kinh Thánh làm biểu tượng cho sức mạnh (thí dụ Es 40:31) và tốc độ (thí dụ IISa 22:11; Thi 18:10; 104:3). Tuy nhiên, nói chung cặp cánh nói tới sự bảo hộ. Trong Phu 32:9-11 Môi-se hớn hở:
“Vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là cơ nghiệp Ngài. Ngài tìm được người trong một nơi rừng-rú, tại nơi vắng vẻ, giữa những tiếng hét la của đồng vắng. Ngài bao phủ người, săn sóc người, gìn giữ người như con ngươi của mắt mình. Như phụng hoàng phấp phới giỡn ổ mình, bay chung quanh con nhỏ mình, sè cánh ra xớt nó, và cõng nó trên chéo cánh mình thể nào”.
Các Thi thiên lặp đi lặp lại hình ảnh của cặp cánh mô tả sự bảo hộ của Đức Chúa Trời đối vơi dân sự Ngài:
Cầu Chúa bảo hộ tôi như con ngươi của mắt; Hãy ấp tôi dưới bóng cánh của Chúa. (Thi 17:8)
Hỡi Đức Chúa Trời, sự nhân từ Chúa quí biết bao! Con cái loài người nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa. (Thi 36:7)
Tôi sẽ ở trong trại Chúa mãi mãi, nương náu mình dưới cánh của Chúa. (Thi 61:4).
Vì Chúa đã giúp đỡ tôi, dưới bóng cánh của Chúa tôi sẽ mừng rỡ. (Thi 63:7).
Ngài sẽ lấy lông Ngài mà che chở ngươi, và dưới cánh Ngài, ngươi sẽ được nương náu mình (Thi 91:4).
Chim phụng hoàng dịch chữ aetos, cũng có thể đề cập đến sư tử đầu chim, hoặc loài kên kên (đối chiếu Mat 24:28, Lu 17:37). Loài chim to lớn này với đôi cánh giang rộng đóng vai trò như một biểu tượng thích đáng nói tới sự bảo hộ và che chở Israel của Đức Chúa Trời. Tất nhiên, đây không phải là một tham khảo đến chim phụng hoàng thật với đôi cánh cụ thể đâu; thay vì thế, đây là lối nói xen hình ảnh mô tả sự trợ giúp kỳ diệu của Đức Chúa Trời đối với người đàn bà, đặng bay nhanh chóng vào chỗ ẩn náu an toàn của mình trong đồng vắng.
Địa điểm của chỗ người Do-thái chạy trốn đến đó không được tiết lộ. Có người cho rằng pháo đài như thành phố Petra, được đục vào những vách đá Ê-đôm giữa Biển Chết và Vịnh Aqaba. Chỉ có thể tiếp cận thông qua một hẻm núi hẹp, Petra rất dễ bảo vệ trong các thời cổ đại. Thuật ngữ “đồng vắng” không tiết lộ vị trí chính xác địa điểm chỗ nương náu của người Do-thái, một khi từ ngữ này thường được sử dụng để mô tả vùng hoang vắng phía đông thành Jerusalem (đối chiếu Mat 3:1; Mac 1:4; Gi 11:54). Lời cảnh báo của Chúa Jêsus đừng chạy trốn lên núi (Mat 24:15-16) cho thấy chỗ ẩn náu sẽ không ở trong đồng bằng ven biển đến phía tây thành Jerusalem, hoặc vùng Negev (vùng sa mạc) tương đối ở phía Nam. Nhiều khả năng, đó sẽ là ở khu vực vùng núi phía đông Jerusalem. Da 11:41 cung ứng thêm bằng chứng cho nhận định đó: “[Anti-christ] sẽ vào đến đất vinh hiển, và nhiều nước sẽ bị đổ. Song những người Ê-đôm, người Mô-áp và những kẻ làm đầu trong dân Am-môn sẽ thoát khỏi tay người”. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ buông tha cho Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, các nước cổ xưa ở về phía đông Israel, để cung ứng nơi nương tựa cho dân sự của Ngài.
Trong chỗ nương náu an toàn, Israel sẽ được Đức Chúa Trời nuôi dưỡng (cho ăn) theo cách siêu nhiên. Bị cắt đứt khỏi hệ thống thế giới, và trong bất cứ trường hợp nào đều không thể mua và bán (đối chiếu 13:17), dân Do-thái sẽ cần sự giúp đỡ từ bên ngoài để tồn tại. Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ lương thực theo cách siêu nhiên cho họ, y như Ngài đã làm bằng cách tiếp trợ cho các tổ phụ họ bằng ma-na và chim cút trong đồng vắng (Xu 16:12…), và Ê-li với đồ ăn ở khe Kê-rít (IVua 17:1-6). Chắc chắn không phải là không thể tưởng tượng được, trong một thời điểm phán xét tàn phá kỳ diệu, Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ một cách kỳ diệu cho dân sự của Ngài.
Trong suốt thời gian ẩn náu của Israel và sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời được xác định là một thì, các thì, và nửa thì. Cụm từ đó, được trích từ Da 7:25 và 12:7, đề cập đến phân nửa thứ hai của Kỳ Đại Nạn (khoảng thời gian ba năm rưỡi mà Chúa Jêsus gọi là Hoạn Nạn Lớn, Mat 24:21). Đồng thời đây cũng là thời kỳ được xác định trong 12:6 là “một ngàn hai trăm sáu mươi ngày” (đối chiếu 11:3) và ở 13:5 là “bốn mươi hai tháng” (đối chiếu 11:2). Khoảng thời gian nầy, khởi đầu bằng việc dựng lên sự hoang vu gớm ghiếc (Da 11:31; 12:11; Mat 24:15; IITe 2:3-4), sẽ đánh dấu cơ nghiệp gian ác hiển nhiên, công khai của Anti-christ. Trong khoảng thời gian đó Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ Israel tránh khỏi sự hiện diện của con rắn. Mặc dù Sa-tan có thể biết nơi mà người Do-thái đang ẩn náu, hắn sẽ không thể đến gần họ được vì cớ sự bảo hộ thiêng liêng. Bị thất vọng qua thất bại này trong lần tấn công đầu tiên nhằm vào dân Do-thái, ma quỉ sẽ mở ra cuộc tấn công thứ hai.
TẤN CÔNG II
Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sông theo sau người đàn bà, hầu cho kéo người xuống sông. Nhưng đất tiếp cứu người đàn bà, vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó. (12:15-16)
Bị cản trở trong nỗ lực ban đầu của mình để thảm sát dân Do-thái, và không thể trực tiếp tấn công họ nơi ẩn náu của họ, Sa-tan sẽ sử dụng các chiến thuật tầm xa. Một khi con rắn không phải là con rắn thật mà là phần trình bày theo cách biểu tượng nói tới Sa-tan, nên nước hắn phun ra ở miệng mình ra như sông cũng mang tính biểu tượng nữa. Một lần nữa hình ảnh rút ra từ Cựu Ước, ở đó các nạn lụt làm biểu tượng cho sự rối rắm nói chung (đối chiếu IISa 22:17; Giop 27:20; Thi 18:16; 32:6; 69:1-2, 13-14; 124:2-5; 144:7) và một quân đội xâm lược chuyên huỷ diệt (đối chiếu Gie 46:8; 47:2; Da11:26). Lực lượng tấn công của Sa-tan sẽ quét qua chỗ ẩn náu của dân Do-thái giống như một trận lụt lớn. Ma quỉ sẽ tìm cách kéo người [dân Israel] xuống sông; bị đắm chìm bởi nạn lụt đó, để bị tiêu hao và hủy diệt.
Nhưng giống như Ngài đã che chở cho Israel khỏi sự tấn công ban đầu của Sa-tan, thì Đức Chúa Trời cũng sẽ đánh bại cuộc tấn công thứ hai này. Trong tư thế thảm hoạ, đất tiếp cứu người đàn bà; vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng phun ra. Hình ảnh này gợi nhớ lại phần mô tả của Môise về sự hủy diệt của Đức Chúa Trời đối với quân đội của Pha-ra-ôn ở Xu 15:12: “Ngài đã đưa tay hữu ra, đất đã nuốt chúng nó”. Một phần tương ứng khác của Cựu Ước là câu chuyện thảm hoạ nói tới Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram, cuộc nổi loạn của họ chống lại Môi-se đã bị Đức Chúa Trời chà nát trong một tư thế đáng kinh ngạc:
“Môi-se bèn nói rằng: Nhờ điều nầy các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va có sai ta đặng làm các điều nầy, và ta chẳng làm sự chi tự ta. Nếu các kẻ đó chết như mọi người khác chết, nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người, thì Đức Giê-hô-va không có sai ta. Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một sự thật mới, nếu đất hả miệng ra nuốt họ và mọi món chi thuộc về họ, nếu họ còn đang sống mà xuống âm phủ, thì các ngươi sẽ biết rằng những người nầy có khinh bỉ Đức Giê-hô-va”.
“Vừa khi Môi-se nói dứt các lời nầy, đất ngay dưới chân họ bèn nứt ra; hả miệng nuốt họ, gia quyến và hết thảy phe Cô-rê cùng tài sản của chúng nó. Các người đó còn đang sống và mọi vật chi thuộc về họ đều xuống âm phủ; đất lấp lại và chúng nó bị diệt khỏi hội chúng” (Dan 16:28-33).
Có thể đó là một trong những trận động đất thường xảy ra trong Kỳ Đại Nạn (đối chiếu 6:12; 8:5; 11:13, 19; 16:18; Mat 24:7) sẽ khiến cho đất nứt ra làm hai và nuốt chửng các lực lượng của Sa-tan. Bất kể điều gì mà lối nói mang tính biểu tượng nầy đang phác hoạ ra, nó đánh dấu sự huỷ diệt của quân đội đang tấn công và kết thúc cuộc tấn công thứ hai của Sa-tan.
TẤN CÔNG III
Con rồng giận người đàn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. (12:17)
Bấy giờ, hắn đã rất thất vọng và tức giận do không có khả năng tiêu diệt người đàn bà (Israel), con rồng (Sa-tan) sẽ đổi cơn giận của hắn hướng đến các mục tiêu mới. Có người đã xác định con cái khác của người, Sa-tan sẽ tranh chiến với họ là 144.000 người (đối chiếu 7:2-8; 14:1-5); những người khác xem họ là các thánh đồ dân Ngoại tin Chúa trong Kỳ Đại Nạn (Ga 3:7). Tốt nhứt là xem ở đây là một cụm từ bao gồm tất cả, đề cập đến tất cả những ai mang theo danh của Đức Chúa Jêsus Christ.
Họ được mô tả chi tiết hơn, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Entolas (các điều răn) là một từ thường được sử dụng trong các tác phẩm của Giăng đề cập đến các mạng lịnh trong Tân Ước (thí dụ, 14:12; Gi 14:15, 21, 15:10, 12, IGi 2:3-4; 3:22-24; 5:2-3). Lời chứng của Chúa Jêsus không phải là chứng cớ nói về Ngài, mà là lời chứng Ngài đưa ra, những lẽ thật mà Ngài đã giảng dạy đã được tỏ ra trong Tân Ước. Những người tin Chúa bị bắt bớ này sẽ cung ứng thêm bằng chứng cho thấy rằng sự cứu rỗi của họ là có thật bởi sự vâng phục của họ đối với lẽ thật trong Kinh Thánh.
Giống như hai lần tấn công đầu tiên của hắn chống lại Israel, cuộc tấn công thứ ba của Sa-tan đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Khi tiếng loa thứ bảy trổi lên, “có những tiếng lớn vang ra trên trời” sẽ công bố: “Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời” (11:15). Mọi nỗ lực của Sa-tan hòng ngăn cản vương quốc của Đấng Christ không được thiết lập đều bị sụp đổ. Đức Chúa Jêsus Christ sẽ chiến thắng; Ngài sẽ trị vì trên đất, và các thánh đồ sống sót trong Kỳ Đại Nạn, cả dân Do-thái và các dân Ngoại, sẽ bước vào vương quốc của Ngài.
Về phần dân Do-thái đã chịu khổ lâu nay, giờ đen tối nhất đang ở trước mặt. Nhưng nó sẽ được theo sau bởi một bình minh sáng lạng. Số dân sót được chọn của Israel, họ sống sót sau sự bắt bớ dã man nhất trong lịch sử lâu dài của dân tộc, sẽ được cứu và thưởng thức mọi phước hạnh của vương quốc thiên hi niên, “vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép” (Ro 11:26).