Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác, có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng. Nó cũng dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước, là con có vít thương đến chết đã được lành. Nó làm những phép lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta. Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại. Nó cùng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi. Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được. Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu. (13:11-18)
Vũ khí chính trong kho của Sa-tan là sự lừa dối. Chúa Jêsus đã tuyên bố Sa-tan “vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối” (Giăng 8:44), hắn “mạo làm thiên sứ sáng láng” (IICo 11:14) để đánh lừa người ta. Từ lần xuất hiện đầu tiên trên đất trong Vườn Ê-đen (Sa 3:2-6) cho đến lần xuất hiện sau cùng của hắn vào cuối thời kỳ thiên hi niên (Kh 20:7-8), Sa-tan là kẻ nói dối và là một tay lừa đảo. Hắn thường xuyên tìm cách gây nhầm lẫn cho người ta, “làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời“ (IICo 4:4).
Một khi Sa-tan là kẻ hay lừa gạt, thì các sứ hắn (cả hai: con người và ma quỉ) cũng là những kẻ chuyên lừa đảo. Sứ đồ Phao-lô đã cảnh cáo rằng: “Vậy thì những kẻ giúp việc nó [Sa-tan] mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ gì” (IICo 11:15), mặc dù chúng là những kẻ chuyên cung cấp sự gian ác, những lời dối trá, và lừa đảo. Ma quỉ sử dụng chúng để lan truyền “đạo lý của quỉ dữ” (ITi 4:1).
Kinh thánh lặp đi lặp lại lời cảnh cáo nguy cơ về các tiên tri giả. Môi-se đã dừng lại ở giữa việc ban bố luật pháp của Đức Chúa Trời cho Israel để cảnh cáo những người nào muốn dẫn dân sự vào chỗ sai lạc:
“Nếu giữa ngươi có nổi lên một tiên tri hay là một kẻ hay chiêm bao làm cho ngươi một dấu kỳ hoặc phép lạ, nếu dấu kỳ hoặc phép lạ nầy mà người đã nói với ngươi được ứng nghiệm, và người có nói rằng: Ta hãy đi theo hầu việc các thần khác mà ngươi chẳng hề biết, thì chớ nghe lời của tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thử các ngươi, đặng biết các ngươi có hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi chăng. Các ngươi phải theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, kính sợ Ngài, gìn giữ các điều răn Ngài, vâng nghe tiếng phán Ngài, phục sự Ngài và tríu mến Ngài. Nhưng người ta phải giết tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì hắn có giục dấy loạn cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, là Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chuộc các ngươi khỏi nhà nô lệ, -đặng xô ngươi ra ngoài con đường của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chỉ cho ngươi đi. Ay, ngươi sẽ diệt kẻ hung ác khỏi giữa mình là như vậy” (Phu 13:1-5).
Giê-rê-mi cũng cảnh cáo Israel đừng nghe theo các tiên tri giả:
Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Chớ nghe những lời của các tiên tri nói tiên tri với các ngươi. Chúng nó dạy cho các ngươi sự hư không, và nói sự hiện thấy bởi lòng mình chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va”
(Gie 23:16)
“Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri. Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi” (Gie 23:21-22)
“Ta nghe điều những kẻ tiên tri nầy nói, chúng nó nhân danh ta mà nói tiên tri giả dối, rằng: Ta có chiêm bao; thật, ta có chiêm bao! Những tiên tri ấy, theo sự dối trá của lòng mình mà nói tiên tri, chúng nó có lòng ấy cho đến chừng nào? Chúng nó mỗi người thuật chiêm bao cùng kẻ lân cận, tưởng sẽ khiến dân quên danh ta cũng như tổ phụ chúng nó vì Ba-anh quên danh ta. Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh lời ta, hãy truyền lại lời ta cách trung tín! Đức Giê-hô-va phán: Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao? Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy. Vậy nên Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau về lời của ta. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri dùng lưỡi mình nói ra, mà rằng: Ngài phán. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ lấy chiêm bao giả dối mà nói tiên tri, thuật lại và lấy lời dối trá khoe khoang mà làm cho dân ta lầm lạc, nhưng ta không sai và cũng không bảo chúng nó; chúng nó cũng không làm ích gì cho dân nầy hết, Đức Giê-hô-va phán vậy” (Gie 23:25-32)
“Vậy, chớ nghe những lời của bọn tiên tri nói rằng: Các ngươi sẽ chẳng phục sự vua Ba-by-lôn! Ay là sự giả dối mà những kẻ đó nói tiên tri cho các ngươi vậy. Đức Giê-hô-va phán: Ta chẳng hề sai chúng nó, nhưng chúng nó nói tiên tri giả dối nhân danh ta; hầu cho ta đuổi các ngươi, và các ngươi bị diệt mất, nghĩa là các ngươi với các tiên tri đã nói tiên tri cho các ngươi. Ta cũng nói với các thầy tế lễ và cả dân sự, rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ nghe những lời của bọn tiên tri các ngươi, nói tiên tri với các ngươi rằng: Nầy, những khí mạnh của nhà Đức Giê-hô-va không bao lâu nữa sẽ từ nước Ba-by-lôn lại đem về! Ay là chúng nó nói tiên tri giả dối với các ngươi” (Gie 27:14-16)
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Chớ để cho các tiên tri ở trong vòng các ngươi và các thầy bói lừa dối các ngươi; cũng chớ nghe những điềm chiêm bao mà các ngươi thấy. Vì chúng nó nhân danh ta mà nói tiên tri giả dối cho các ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Ta chẳng hề sai chúng nó” (Gie 29:8-9)
Khi Ngài kết thúc Bài Giảng Trên Núi, Đức Chúa Jêsus Christ long trọng tuyên bố: “Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé” (Mat 7:15). Trong thư tín thứ hai của ông, Phi-e-rơ đã viết: “Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình” (IIPhi 2:1). Sứ đồ Giăng dè chừng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ” (IGi 4:1).
Kinh thánh cũng ghi lại rất nhiều trường hợp về tiên tri giả; một số có tên tuổi, một số thì vô danh. Êsai đã nhắc tới các tiên tri giả vô danh, họ hoạt động trong thời của ông (Es 9:15), Giê-rê-mi cũng vậy (Gie 14:13-15; Ca 2:14). Giê-rê-mi 28 ghi lại cuộc gặp gỡ của Giê-rê-mi với tiên tri giả Ha-na-ni, trong khi chương kế đó nhắc tới các tiên tri giả là A-háp và Sê-đê-kia (Gie 29:21-23). Cựu Ước cũng đặt tên cho Sê-đê-kia khác là tiên tri giả (IVua 22:10-28), cũng như hai tiên tri giả là Sê-ma-gia (Ne 6:10-12; Gie 29:24-32). Exe 13:17 nhắc tới các nữ tiên tri giả, và Nêhêmi gặp một nữ tiên tri giả là Nô-a-đia (Ne 6:14). Tiên tri giả khét tiếng nhất trong Cựu Ước chính là Ba-la-am, là người đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào chỗ thờ lạy hình tượng và phạm tội (Dan 22-24; Gios 13:22; 24:9-10; Ne 13:1-2; IIPhi 2:15-16; Giu 11; Kh 2:14). Tân Ước ghi lại cuộc gặp gỡ của sứ đồ Phao-lô trên đảo Xíp với tiên tri giả Ba-Giê-xu (Cong 13:6-12).
Một vài tật xấu đánh dấu tiên tri giả, ngoài tật dạy dỗ nói dối hiển nhiên. Kinh Thánh tố cáo họ là hạng người gian ác (Gie 23:11), những kẻ tà dâm (Gie 23:14), tham lam (Exe 22:25; Mi 3:11; IIPhi 2:15), tự dối gạt mình (Exe 13:2-3), và là những kẻ thờ lạy hình tượng (Gie 2:8; 23:13). Không có gì phải ngạc nhiên, Đức Chúa Trời sẽ xét đoán họ rất nghiệt ngã. Phu 18:20 loan báo án chết dành cho họ: “Còn kẻ tiên tri có lòng kiêu ngạo, nhân danh ta nói điều chi ta không biểu người nói hay là nhân danh các thần khác mà nói, thì kẻ tiên tri ấy phải chết” (đối chiếu Dan 31:8; Gie 23:15; 29:21-22). Phi-e-rơ nói sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên hết thảy các giáo sư giả khi ông viết họ: “cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình. Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em … Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó” (IIPhi 2:12-13,17).
Các tiên tri giả đã hành hại dân sự của Đức Chúa Trời từ buổi ban đầu của lịch sử. Nhưng họ sẽ nẩy nở ngày càng nhiều khi sự tái lâm của Đấng Christ để thiết lập những cách tiếp cận vương quốc của Ngài. Khi nói đến thời điểm này, Chúa Jêsus phán: “Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ” (Mat 24:11). Vì vậy, mọi nỗ lực thuyết phục của họ đến nỗi họ “làm những dấu lạ phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng dỗ dành chính những người được chọn” (Mac 13:22). Các tiên tri giả đó sẽ được tiếp sức bởi một số đạo binh ma quỉ của Sa-tan. Ma quỉ sẽ tăng cường các nỗ lực của hắn để lừa dối thế giới khi số phận của chính hắn đang đến gần.
Giống như các christ giả, chúng làm khổ người ta lên tới cực điểm nơi Anti-christ sau cùng, cũng một thể ấy các điềm xấu của các tiên tri giả cũng sẽ kết thúc bằng một tiên tri giả sau cùng (đối chiếu 16:13; 19:20; 20:10). Hắn sẽ là kẻ dối gạt sau cùng và có năng lực nhất của Sa-tan. Cùng với Sa-tan, kẻ giả mạo Đức Chúa Cha, và Anti-christ, kẻ giả mạo Đức Chúa Jêsus Christ, tiên tri giả sẽ hình thành ba ngôi giả của Sa-tan. Hắn sẽ giả mạo Đức Thánh Linh. Tiên tri giả sẽ là cộng sự của Anti-christ trong vụ lừa đảo khổng lồ cuối cùng của Sa-tan đối với thế giới. Trong khi Anti-christ chủ yếu là một nhà cầm quyền về chính trị và quân sự, hắn cũng sẽ xưng mình là Đức Chúa Trời. Tiên tri giả sẽ làm thầy tế lễ thượng phẩm của hắn, nhà lãnh đạo tôn giáo, hắn sẽ dẫn dắt người ta bước vào tôn giáo thuộc Sa-tan thờ lạy Anti-christ. Tiên tri giả sẽ tôn sùng Anti-christ và thuyết phục những kẻ vô tín rằng hắn là niềm hy vọng duy nhất cho sự cứu rỗi của thế giới.
Tiên tri giả sẽ có quyền lừa dối thế giới vô tín vì sức mạnh của tôn giáo trên tâm trí của người ta rất là lớn. Con người là hạng người thờ phượng không chữa được; mỗi người đều thờ lạy ai đó, dù là Đức Chúa Trời chơn thật, các tà thần, hoặc bản thân họ. Trong tấm lòng của con người có sự khao khát một ai đó siêu việt, một đấng trỗi hơn họ có thể giải cứu người ra khỏi những hoàn cảnh rối rắm của họ. Những biến cố khủng khiếp, không chi sánh được của Kỳ Đại Nạn sẽ làm tăng thêm nỗi khát khao về một đấng giải cứu siêu nhiên. Tiên tri giả sẽ thuyết phục thế giới vô tín rằng Anti-christ là giải pháp cho những vấn đề bức xúc của thế giới. Hắn có thể là một diễn giả thật hùng biện, đầy năng quyền, thuyết phục nhất trong lịch sử nhân loại, và tài hùng biện lỗi lạc của hắn sẽ thuyết phục thế giới phải thờ lạy Anti-christ. John Phillips suy đoán:
Sự hấp dẫn năng động của tiên tri giả sẽ nằm trong kỹ năng kết hợp lợi thế chính trị với sự tôn sùng tôn giáo . . . Lập luận của hắn rất tinh tế, rất thuyết phục và rất hấp dẫn. Tài hùng biện của hắn giống như là thôi miên, vì hắn có thể cảm động quần chúng phải đổ nhiều nước mắt hoặc đưa họ vào một cơn sốt. Hắn sẽ kiểm soát các phương tiện truyền thông của thế giới và khéo léo tổ chức nhiều đám đông công khai hầu kích thích mọi cứu cánh của hắn. Hắn sẽ kiểm soát lẽ thật với sự lừa đảo còn trổi hơn cả lời nói, bẻ cong nó, vặn vẹo nó, rồi bóp méo nó. … Hắn sẽ nắn đúc suy nghĩ của thế giới và hình thành dư luận của con người giống như đất sét trong tay thợ gốm vậy (Exploring Revelation, rev., ed.. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N.J.: Loizeaux, 1991], 171).
Sự hợp tác giữa quyền lực chính trị và tôn giáo được tỏ ra bởi Anti-christ và tiên tri giả sẽ chẳng phải là điều mới mẻ. Gian-nét và Giam-be, hai lãnh đạo tà giáo, đã giúp Pha-ra-ôn đối đầu với Môi-se và A-rôn (IITi 3:8). Ba-lác, vua Mô-áp, đã tìm kiếm sự vùa giúp của tiên tri giả Ba-la-am hòng tiêu diệt Israel (Dan 22-24). A-háp và Giê-sa-bên đã sử dụng các thầy tế lễ thờ lạy hình tượng Ba-anh hòng giúp họ hoàn thành các mục đích gian ác của họ trong Y-sơ-ra-ên (IVua 18:17…). Đế quốc La-mã đã kết hợp thế lực chính trị và tôn giáo bằng cách đòi hỏi các đối tượng của nó thờ lạy nhà nước (được nhân cách hoá là nữ thần Roma) và hoàng đế. Trong thời hiện đại, chủ nghĩa cộng sản, mặc dù chính thức coi tôn giáo là “thuốc phiện của người dân”, đã có hiệu lực là một tôn giáo thay thế cho những người ủng hộ nó.
Sự tham gia toàn cầu của thế lực chính trị và tôn giáo trong thời kỳ sau rốt được trình bày chi tiết trong Khải huyền 17. Trong một thời gian, hai thế lực sẽ cùng tồn tại (17:1-9). Tuy nhiên, chắc chắn là Anti-christ sẽ hủy diệt hệ thống tôn giáo giả mạo rồi thiết lập sự thờ phượng cho bản thân hắn (17:15-17). Điều đó sẽ xảy ra ở điểm giữa của Kỳ Đại Nạn, khi Anti-christ dựng lên sự hoang vu gớm ghiếc (Da 9:27; 11:31; 12:11; Mat 24:15; IITe 2:3-4). Sau khi đạt đến đỉnh cao quyền lực của mình, Anti-christ sẽ tiêu diệt tất cả các tôn giáo khác. Sự thờ lạy Anti-christ, do tiên tri giả dựng lên, sẽ trở thành tôn giáo duy nhất được phép (đối chiếu 14:9, 11; 15:2; 16:2; 19:20; 20:4).
Sự mặc thị của Giăng về tiên tri giả tỏ ra ba yếu tố chính: thân vị, quyền lực, và chương trình của hắn.
THÂN VỊ CỦA HẮN
Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác, có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng. (13:11)
Sau khi nhìn thấy khải tượng đáng sợ về con thú thứ nhứt (Anti-christ) trong 13:1-10, tiếp đến Giăng nhìn thấy một con thú khác. Có người cho rằng con thú thứ hai này là một chế độ, một hình thức chính phủ, hoặc một hệ tư tưởng. Nhưng việc sử dụng allos (một thứ khác cùng loại) chỉ ra rằng hắn, giống như con thú thứ nhứt, sẽ là một con người. Bằng chứng thêm nữa đến từ 19:20: “con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng“. Rõ ràng, đó là con người, chớ không phải hệ tư tưởng, chế độ, hoặc chính phủ, mà Đức Chúa Trời sẽ quăng vào địa ngục.
Khi đối chiếu với con thú thứ nhứt, từ dưới biển lên (13.1), con thú thứ hai từ dưới đất lên. Giống như Anti-christ, tiên tri giả sẽ bị một con quỉ từ vực sâu lên ám vào (xem lời bình ở 13:1 trong chương 4 của tập này), được phác hoạ ở đây như là hồ lửa đang cháy của địa cầu. Trong thế giới cổ đại, đất ít huyền bí và chẳng phải là điềm gỡ hơn biển cả. Tiên tri giả đó dấy lên từ đất cho thấy rằng hắn sẽ tinh tế hơn, dịu dàng hơn, ít áp đảo và đáng sợ hơn Anti-christ. Hắn sẽ có sức hấp dẫn và thuyết phục, là hình ảnh thu nhỏ của bầy sói đội lốt chiên mà Chúa Jêsus đã cảnh báo rồi (Mat 7:15).
Phần mô tả về con thú thứ nhứt, với mười sừng, bảy đầu, mười mão triều thiên, và bảy danh xưng phạm thượng (13:1), thật lố bịch và đáng sợ. Trái lại, con thú thứ hai chỉ có hai sừng. Điều đó cho thấy rằng hắn không được đánh dấu bằng sức mạnh lớn lao như Anti-christ. Và không giống như Anti-christ, là nhân vật dã man, tàn bạo, dữ dằn, được ví như beo, gấu và sư tử (13:2), tiên tri giả dường như vô hại giống như một con chiên con. Hắn không đến như một nhà độc tài chuyên đi chinh phục, song ở ngoài mặt tỏ ra là một tay lừa đảo rất tinh vi, với sự nhu mì và tử tế, mặc dù không phải là không có uy quyền lớn lao.
Bất chấp vẻ bề ngoài dịu dàng kia, tiên tri giả là con cái của địa ngục không kém hơn Anti-christ đâu. Việc nầy rất rõ ràng bởi vì hắn nói như con rồng — một giọng nói kỳ lạ thực sự đáng là một con chiên. Tiên tri giả, giống như Anti-christ (13:2, 5), sẽ là cái miệng của con rồng Sa-tan, thốt ra lời lẽ của hắn. Nhưng hắn sẽ không làm vang dội những lời tuyên bố phạm thượng chống lại Đức Chúa Trời, những lời đó sẽ đổ ra từ môi miệng của Anti-christ (Da 11:36). Thay vì thế, hắn sẽ thốt ra những lời lẽ ngợi khen rất lôi cuốn, dối gạt về Anti-christ, quyến dụ cả thế giới thờ lạy nhà độc tài Sa-tan độc ác kia.
Các tiên tri giả thường tỏ ra nhu mì, từ tốn, và vô hại. Họ hiến cho hy vọng và các giải pháp cho những nan đề gây rối rắm cho nhiều người nam người nữ. Tuy nhiên, chúng bao giờ cũng là tiếng nói của địa ngục, và khi chúng mở miệng ra, thì Sa-tan đang nói. Vì vậy, điều đó sẽ hiện hữu ở giữa những kinh khiếp khôn tả xiết của Kỳ Đại Nạn. Tiên tri giả sẽ đến như một chiên con, thốt ra lời lẽ yên ủi giả tạo, lừa đảo. Hắn sẽ hứa với hạng người cùng khổ, bị hành hại của thế giới rằng mọi sự sẽ suông sẻ nếu họ chịu thờ lạy Anti-christ. Nhưng những ai rơi vào lời lẽ dối trá tinh vi của hắn sẽ phải đối mặt với sự phán xét kinh khiếp của Đức Chúa Trời (đối chiếu 14:9-11; 16:2).
QUYỀN LỰC CỦA HẮN
Nó cũng dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước, là con có vít thương đến chết đã được lành. Nó làm những phép lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta. Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại. (13:12-14)
Mặc dù chủ yếu là tay lừa đảo tinh vi, tiên tri giả sẽ không phải là bất lực đâu. Giăng lưu ý rằng hắn dùng mọi quyền phép của con thú trước (Anti-christ). Có người tin rằng tiên tri giả sẽ thay thế Anti-christ và một mình cai trị trong kỳ Hoạn Nạn Lớn. Tuy nhiên, việc ấy là không thể vì văn mạch nói rõ rằng tiên tri giả dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt Anti-christ (đối chiếu câu 14; 19:20). Hơn nữa, cả hai: tiên tri giả và Anti-christ sẽ còn sống khi Đấng Christ tái lâm (19:20).
Vấn đề đang được nói ở đây, ấy là tiên tri giả sẽ thực thi cùng một loại thế lực và quyền hạn của ma quỉ giống như Anti-christ đang dùng, vì cả hai đều được mặc lấy quyền thế đó bởi cùng một nguồn gốc địa ngục. Việc hắn dùng quyền phép trước mặt Anti-christ ám chỉ rằng Anti-christ đã ủy thác cho hắn. Sứ mệnh của tiên tri giả sẽ là sử dụng tất cả các phương tiện sẵn có cho hắn từ Anti-christ để bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước. Hắn sẽ bắt cả thế gian vào sự thờ lạy Anti-christ.
Những nỗ lực của tiên tri giả hầu thúc đẩy việc thờ lạy Anti-christ sẽ nhận được một sự nổi tiếng lớn lao từ một biến cố ngoạn mục gây giật mình: sự chữa lành hiển nhiên vít thương đến chết của con thú thứ nhứt (Anti-christ) (câu 3; 17:8). Như đã lưu ý trong phần bàn luận ở 13:3 trong chương trước của tập sách này, cụm từ đó đề cập đến sự sống lại từ kẻ chết của Anti-christ. Đó là một sự bắt chước của Sa-tan không những về sự phục sinh của Đấng Christ, mà còn về sự sống lại của hai người làm chứng nữa (11:11). Rất có thể là cái chết của Anti-christ sẽ được dàn dựng, và nhơn đó “sự phục sinh” của hắn là một mưu mẹo. Rất ít khả năng Đức Chúa Trời, vì những ý đồ tễ trị của Ngài, sẽ cho phép Anti-christ thực sự sống lại từ kẻ chết. Trong từng trường hợp, thế giới sẽ chấp nhận sự sống lại của Anti-christ là chánh đáng, nhơn đó làm tăng cả hai: uy tín của hắn và uy tín của tiên tri giả.
Ngoài sự dính dáng của hắn trong sự “phục sinh” của Anti-christ, tiên tri giả sẽ làm những phép lạ lớn của riêng mình. Các phép lạ này không những bắt chước các phép lạ mà Đức Chúa Jêsus Christ đã làm (đối chiếu Gi 2:11, 23; 6:2), mà còn các phép lạ của hai người làm chứng nữa (11:5-6). Những “thứ phép lạ, dấu dị dối giả [của Sa-tan]; dùng mọi cách phỉnh dổ không công bình mà dổ những kẻ hư mất, vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi“ (IITe 2:9-10). Những ai chối bỏ Tin lành cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus Christ sẽ nô nức tiếp nhận Tin lành giả hiệu mà tiên tri giả đang rao giảng — một Tin lành dường như được xác minh qua các dấu hiệu siêu nhiên kỳ vĩ.
Sa-tan có thể làm giả các dấu hiệu siêu nhiên rõ ràng từ Kinh Thánh. Gian-nơ và Giam-bét, các thuật sĩ trong triều đình Pha-ra-ôn (IITi 3:8-9) đã bắt chước một số phép lạ mà Đức Chúa Trời đã làm qua Môi-se và A-rôn (Xu 7:11-12, 22). Cong 8:9-11 mô tả “có một người tên là Si-môn, làm nghề phù phép, tự khoe mình là một người danh tiếng, khiến cho dân Sa-ma-ri rất lấy làm lạ lùng. Hết thảy từ trẻ đến già đều nghe theo người, mà nói rằng: Chính người là quyền phép của Đức Chúa Trời, tức là quyền phép lớn như thường gọi vậy. Nhân đó chúng nghe theo người, vì đã lâu nay người lấy phù phép giục họ thảy đều phải khen lạ“. Các dấu lạ do tiên tri giả làm ra sẽ vượt xa các dấu lạ của một gã làm phù phép ít thời gian như Si-môn.
Thật đáng ngạc nhiên, tiên tri giả, bắt chước hai người làm chứng (11:5), đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta. Thì hiện tại của poie¯o (khiến) gợi ý rằng hắn sẽ làm đi làm lại hành động siêu nhiên này trước mặt người ta để gây ấn tượng nơi họ với quyền phép của hắn. Đức Chúa Trời đã thường chứng tỏ quyền phép siêu nhiên của Ngài bằng cách sai lửa giáng xuống từ trời (đối chiếu 11:5; Sa 19:24; Le 10:1-2; IVua 18:38; IIVua 1:9-12; ISu 21:26; IISu 7:1). Thuôc hạ của Sa-tan sẽ làm ra một dấu lạ tương tự, nhưng dấu lạ của hắn sẽ là một “dấu dị dối giả” (IITe 2:9) sẽ quyến dụ những kẻ chưa tin Chúa đến với số phận của họ.
Tiên tri giả sẽ thành công trong nỗ lực của hắn hầu lừa dối dân cư trên đất — đúng như Chúa Jêsus đã tiên đoán (đối chiếu Mat 24:5, 11, 24; Mac 13:6). Lừa dối là từ plana¯o, và có nghĩa là “phiêu bạt”. Nó hình thành gốc rễ từ planet (hành tinh) trong Anh ngữ, vì các hành tinh xuất hiện để phiêu bạt qua các từng trời. Thế giới hoàn toàn dễ bị gạt gẫm trước sự lừa dối của hắn trong suốt Kỳ Đại Nạn. Sẽ có những thảm hoạ và những nỗi kinh hoàng không tưởng được, khiến cho mọi người phải tuyệt vọng khi tìm kiếm câu trả lời. Sau khi chối bỏ Tin lành chơn thật và nói phạm thượng cùng Đức Chúa Trời chân thật (đối chiếu 16:9, 11), thế giới vô tín sẽ nôn nã tin theo những lời dối trá bị lừa đảo bởi lời tiên tri giả.
Giăng xác định hạng người bị lừa dối là dân cư trên đất — một cụm từ kỹ thuật được sử dụng khắp sách Khải huyền đề cập đến hạng người vô tín (các câu 8, 12; 3:10; 6:10; 8:13; 11:10; 17:2, 8). Mặc dù bị thử thách và bị bắt bớ, những người được chọn của Đức Chúa Trời không thể bị lừa dối (Mac 13:22). Bởi vì những người tin Chúa đều biết rõ lẽ thật và được chính Đức Chúa Trời bảo hộ cho (đối chiếu Gi 10:3-5, 14, 27-30), họ sẽ nhận ra sự dạy của tiên tri giả là những lời nói dối và sẽ không bị lung lay vì hắn dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy. Thế giới vô tín này sẽ bị lừa dối không những phù hợp với sự lừa đảo gian ác của Sa-tan, ma quỉ, Anti-christ, và tiên tri giả, mà còn phải gánh chịu các sự phán xét của Đức Chúa Trời nữa. Sự rao giảng của tiên tri giả sẽ thành công một phần bởi vì nó sẽ “dùng mọi cách phỉnh dổ không công bình mà dổ những kẻ hư mất, vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi” (IITe 2:10). Nhưng nó cũng sẽ thành công bởi vì “Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều dối giả, hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, điều bị phục dưới sự phán xét của Ngài“ (các câu 11-12).
Khi quyền phép của Anti-christ và sự thuyết phục của tiên tri giả ngày càng mạnh lên, Sa-tan sẽ leo thang tôn giáo giả cấp thế giới thờ phượng Anti-christ. Nhân loại chắc chắn sẽ chịu hoàn toàn ảnh hưởng của tiên tri giả đến nỗi ai nấy sẽ tuân theo mạng lịnh của hắn phải tạc tượng cho con thú. Thế giới sẽ dính dáng vào cuộc nổi dậy gây sốc, trắng trợn nhất từng xem thấy. Giống như Nê-bu-cát-nết-sa trước mặt hắn (Đa-ni-ên 3), song trên quy mô toàn cầu, Anti-christ, được sự vùa giúp của vị tiên tri giả, sẽ dựng lên một bức tượng của chính mình như là một biểu tượng cho thần tánh của mình và sự thờ lạy trên toàn thế giới. Hình tượng phạm thượng nầy có lẽ sẽ được dựng lên trên sân đền thờ tại thành Jerusalem (đối chiếu IITe 2:4) và sẽ gắn kết với sự gớm ghiếc hoang vu (Da 9:27; 11:31; 12:11; Mat 24:15). Bức tượng ấy sẽ là một sự cống hiến cho quyền phép đáng sợ của Anti-christ, là con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại (đối chiếu các câu 3,12), dường như thắng hơn sự chết.
CHƯƠNG TRÌNH CỦA HẮN
Nó cùng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi. Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được. Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu. (13:15-18)
Hình tượng phạm thượng của Anti-christ sẽ khác biệt với bất kỳ hình tượng nào khác trong lịch sử nhân loại. Kinh Thánh đã tố giác cách khinh bỉ các hình tượng như có miệng, mà không thể nói được (Thi 115:5; 135:15-17; Es 46:7; Gie 10:5; Ha 2:18-19). Nhưng khi tỏ ra quyền phép để dối gạt, tiên tri giả sẽ hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được. Hà hơi dịch chữ pneuma, không có z¯o¯e hay bios, các từ Hy Lạp thường được dịch là sự sống. Tiên tri giả sẽ hà hơi sống cho bức tượng của Anti-christ hầu cho nó mang lấy vẻ bề ngoài của sự sống. Với các tác dụng đáng kinh ngạc của ngày hôm nay, công nghệ và kỹ thuật luôn luôn ở trong lãnh vực khả thi. Thêm vào đó là nhu cầu tuyệt vọng của thế giới, ở giữa sự chém giết của Kỳ Đại Nạn, tin vào một đấng thắng hơn sự chết, và mưu mẹo sẽ ra rất đáng tin.
Sau thành công to lớn cấp thế giới của mình và sau khi không còn giữ mức độ dịu dàng nữa, tiên tri giả sẽ khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi. Cũng giống như pho tượng của Nê-bu-cát-nết-sa (Da 3:6), án tử hình sẽ được ban ra cho những ai từ chối không chịu thờ lạy pho tượng của Anti-christ. Phần nhiều những người tuận đạo được nhắc tới trước đây trong sách Khải huyền (đối chiếu 6:9-11; 7:13-14) đều là những kẻ đã bị giết trong thời kỳ bắt bớ khủng khiếp này. Nhưng dù án tử hình sẽ được áp đặt trên mọi người, không phải hết thảy những người tin Chúa sẽ bị giết cả đâu. Một số sẽ tồn tại cho đến khi Đấng Christ tái lâm và sẽ bước vào vương quốc ngàn năm của Ngài như những người còn đang sống (đối chiếu Es 65:20-23; Mat 25:31-40). Anti-christ và tay sai của hắn cũng sẽ không giết hết thảy người Do-thái được (đối chiếu 12:6-7, 14); hai phần ba trong số họ sẽ hư mất, nhưng phần còn lại sẽ được bảo vệ (Xa 13:8-9).
Là một phần của kế hoạch của hắn bắt buộc việc thờ lạy Anti-christ, tiên tri giả sẽ buộc hết thảy các nhóm người vô tín, được gồm tóm lại là nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán. Dấu (charagma; ra từ chữ charass¯o, “tôi xăm”) là thuật ngữ nói tới hình ảnh hoặc tên tuổi của hoàng đế in trên các đồng tiền La-mã. Trong thế giới cổ đại, các nhãn hiệu như vậy (hình xăm hoặc thương hiệu) thường được gắn cho nô lệ, binh lính và những kẻ sùng bái hệ thống tà giáo (đối chiếu Ga 6:17). Đức Chúa Trời đã đóng ấn, với một dấu hiệu trên trán, 144.000 người để bảo vệ họ tránh khỏi cơn thạnh nộ của Ngài nghịch cùng thế giới vô tín (7:2-3); tiên tri giả đánh dấu những người chưa được cứu để bảo vệ họ khỏi cơn giận của Anti-christ nghịch cùng dân sự của Đức Chúa Trời. Con dấu sẽ biểu thị rằng người mang nó là một người thờ phượng và là tín đồ trung thành của Anti-christ. Cũng giống y như thế, các hoàng đế La-mã buộc thần dân chứng minh lòng trung thành của họ bằng cách dâng của lễ cho Xê-sa. Người nào từ chối, giống như những người từ chối không chịu xăm dấu hiệu của Anti-christ, đều là đối tượng bị xử tử.
Ngoài mối đe doạ liên tục của sự chết, việc từ chối không nhận dấu của con thú sẽ có những hậu quả thực tế tồi tệ trong cuộc sống hàng ngày: không thể mua cùng bán được, nếu không có danh con thú. Đế quốc Anti-christ sẽ nắm lấy quyền kiểm soát kinh tế chặt chẽ trên thế giới. Thực phẩm, quần áo, đồ dùng y tế và những thứ cần thiết khác trong cuộc sống nằm trong mức độ đòi hỏi khi địa cầu bị tàn phá, họ cảm nhận được sự phán xét của Đức Chúa Trời (6:5-6), sẽ không thể có đủ cho những ai không có con dấu. Tiền tệ có lẽ sẽ biến mất, được thay thế bằng tín dụng có kiểm soát. Thay vì thẻ tín dụng, có thể bị thất lạc, người ta sẽ có một con dấu (có thể là mã vạch) trên trán hoặc trên tay của họ. Họ sẽ được nhận dạng bằng máy quét trên trán hoặc trên tay với một hệ thống máy tính trung ương. Đời sống ở dưới chính phủ độc tài trong thời đại chúng ta cung ứng một cái nhìn thoáng qua về những gì sắp sửa xảy ra. Một người đã sống dưới chế độ cộng sản Bulgaria đã nhận xét:
Bạn không thể hiểu và bạn không thể nắm được công cụ khủng bố khủng khiếp nhất của sự bắt bớ từng được phát minh là một tấm thẻ khẩu phần ăn vô tội. Bạn không thể mua và bạn không thể bán được trừ phi theo tấm thẻ nhỏ, vô tội đó. Nếu họ vui vẻ, bạn có thể bị đói cho đến chết, và nếu họ hài lòng, bạn có thể bị tước đoạt mọi thứ bạn đang có; vì bạn không thể giao dịch, và bạn không thể mua và bạn không thể bán, nếu không có phép. (Cited in W. A. Criswell, Expository Sermons on Revelation [Grand Rapids: Zondervan, 1969], 4:120-21)
Áp lực phải xuống đến mức thờ lạy Anti-christ sẽ tồi tệ hơn bất cứ điều gì từng được kinh qua trong lịch sử nhân loại. Sự sống gần như không thể ở được nữa, vì vậy người ta buộc phải sấp mình xuống trước vị vua bị quỉ ám, không chỉ bị lừa đảo bởi sự dối gạt tôn giáo, mà còn bởi sự cần thiết về kinh tế nữa.
Khi mô tả thêm về con dấu, Giăng lưu ý rằng nó sẽ bao gồm danh con thú hay số của tên nó. Anti-christ sẽ có một áp đặt chung, danh hiệu của hắn trong một hệ thống số. Việc xác định chính xác cụm từ đó là không rõ ràng. Cái điều rõ ràng, ấy là ai nấy buộc phải có dấu nhận dạng hoặc gánh chịu các hậu quả.
Tiếng hô đây tỏ ra sự khôn ngoan là lời cảnh báo cho những ai còn sống vào thời điểm đó phải thật khôn khéo và biết phân biện. Họ cần phải công nhận điều gì đang xảy ra và hiểu được tầm quan trọng của con số có quan hệ đến danh xưng của Anti-christ. Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu. Có lẽ không có một chi tiết nào trong sách Khải huyền đã kích thích người ta nhiều cho bằng con số này. Đã không có một kết thúc nào cho sự suy đoán về ý nghĩa của nó và làm thế nào để tính ra con số ấy. Trong tiếng Hy-lạp, tiếng Hy-bá-lai, và tiếng La-tinh, các chữ cái có con số tương đương, và vô số các chương trình liên kết tên của các cá nhân trong lịch sử với con số 666 đã được đưa ra. Nero, Caligula, Domitian, Napoléon, Hitler, Mussolini, Stalin, và một loạt nhiều người khác đã được đề xuất, dựa trên một loại biểu đồ toán học phức tạp gắn theo các chữ cái trong tên của họ. Mọi suy đoán đó là hư không; một khi Anti-christ sắp sửa đến, số 666 không thể được kết hợp với bất kỳ cá nhân nào trong lịch sử. Giáo phụ Hội thánh Irenaeus dè chừng nghịch lại việc suy đoán về lai lịch của người có liên quan đến số 666 cho đến khi người đó xuất hiện trên bối cảnh (Alan F. Johnson, Revelation, The Expositor’s Bible Commentary [Grand Rapids: Zondervan, 1996], 137). Robert L. Thomas đưa ra một nhận định rất hợp lý:
Phần khôn ngoan tốt hơn là phải thoả lòng, ấy là lai lịch vẫn chưa có, nhưng sẽ có khi christ giả trong tương lai bước lên ngôi vị của hắn. Nhân vật mà số 666 áp dụng cho hắn phải ở trong thì tương lai đối với thời của Giăng, bởi vì Giăng rõ ràng muốn nói con số phải được nhận ra với ai đó. Nếu chưa phân biệt được trong thế hệ của ông và các thế hệ theo sau ông — và chẳng phải — thế hệ nào nhân vật ấy chưa được biệt phân trong tương lai đều là dối trá (và vẫn là dối trá). Các thế hệ trong quá khứ đã cung cấp nhiều minh họa cho nhân vật hãy còn trong tương lai này, nhưng tất cả ứng cử viên trong quá khứ đã chứng minh không phù hợp với cũng như là chẳng ứng nghiệm chi hết. Các Cơ Đốc nhân từ thế hệ này sang thế hệ khác có thể biểu lộ sự tò mò giống như các vị tiên tri đời xưa về những lời tiên tri của chính họ (đối chiếu IPhi 1:10-11), nhưng sự tò mò của họ vẫn giữ mãi tình trạng không thoả lòng cho đến khi thời kỳ của sự ứng nghiệm đến. (Robert L. Thomas, Revelation 8-22: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1995], 185)
Ý nghĩa chính xác của con số 666 đang chờ đợi thì tương lai của Anti-christ, nhưng đáng chú ý là con số này là một số người. Số bảy, con số của sự trọn vẹn, là con số của Đức Chúa Trời. Một khi con người thiếu mất sự trọn vẹn, con số của họ là sáu. Con người được dựng nên vào ngày thứ sáu (Sa 1:26-31); hạng nô lệ được giải phóng sau sáu năm phục vụ (Xu 21:2); ruộng chỉ được gieo giống trong sáu năm liên tiếp (Le 25:3). Lặp lại con số ba lần nhấn mạnh đây là con số của con người, giống như lời lặp lại ba lần “thánh thay, thánh thay, thánh thay” nhấn mạnh sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời (4:8; Es 6:3).
Một tôn giáo giả trên một quy mô chưa bao giờ nhìn thấy trước đây đang tới đến, do kẻ tai tiếng nhất trong các tiên tri giả lãnh đạo. Hầu hết mọi người sẽ chạy theo con đường dường như an toàn và thận trọng, thờ lạy Anti-christ, và nhận được con dấu của mình. Song đó là một sai lầm bi thảm với các hậu quả thảm khốc, còn đối với những ai kiên trì trong sự thờ lạy con thú sẽ đối mặt với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Trong một phân đoạn riêng lẽ, sách Khải huyền cảnh báo về số phận của họ:
“Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay, thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ” (14:9-11)
Và số phận của tiên tri giả, là những kẻ đưa dẫn hàng triệu triệu người không đếm được bước vào con đường khoảng khoát và nguy hiểm nhất trong mọi con đường sẽ dẫn tới sự huỷ diệt? Hắn sẽ gánh chịu một số phận ghê sợ và kinh khiếp tương xứng: “Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng” (Kh 19:20; đối chiếu 20:10).
Phân đoạn khiêm tốn nầy không được dự trù để trở thành nguồn suy đoán không kết quả về các chi tiết của nó. Thay vì thế, nó đứng như lời cảnh báo cho thế giới vô tín. Nó cũng thách thức những người tin Chúa phải dẫn dắt những đời sống thật cẩn trọng, biết quan sát, tin kính và lo giảng Tin lành cho thế giới hư mất bị dẫn đến chỗ hủy diệt. Những người tin Chúa cần phải trung tín rao giảng Tin lành cứu rỗi nói tới Đức Chúa Jêsus Christ, và nhơn đó giải cứu linh hồn của nhiều người nam người nữ ra khỏi tai hoạ mới chỉ chớm xuất hiện trên đường chân trời.