Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

06 – Thánh Đồ Đắc Thắng (Kh 14:1-5)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Tôi nhìn xem, thấy Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và với Ngài có mười bốn vạn bốn ngàn người đều có danh Chiên Con và danh Cha Chiên Con ghi trên trán mình. Tôi nghe một tiếng từ trên trời xuống, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn; tiếng mà tôi nghe đó như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy: chúng hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão. Không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi. Những kẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà, vì còn trinh khiết. Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. Những kẻ đó đã được chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con; trong miệng chúng chẳng có lời nói dối nào hết, cũng không có dấu vết gì. (14:1-5)

Xã hội chúng ta ưa thích hạng người đắc thắng. Dù là trong chính trường, kinh doanh, giải trí, thể thao, hoặc chiến tranh, chúng ta thần tượng hóa những người đạt tới thành công. Mặt khác, chúng ta không dung chịu những kẻ thua cuộc. Các huấn luyện viên nào cứ thua hoài đều bị sa thải; cầu thủ nào thua cuộc thì bị bán đi; các giám đốc điều hành nào thất bại thì bị thay thế; chính trị gia nào thất bại thì bị loại ra khỏi chức vụ. Các bậc anh hùng của chúng ta là những người thắng hơn mọi trở ngại và chiến thắng vào lúc sau cùng.

Trong khi không đồng ý với định nghĩa hời hợt của thế gian về sự thành công, dù vậy Kinh thánh vẫn nói tới đời sống Cơ Đốc bằng các thuật ngữ đắc thắng. Ro 8:37 tuyên bố rằng “chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần”. Trong thư tín thứ nhứt của ông, Giăng đã viết: “vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta. Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao?” (IGi 5:4-5). Trong ICo 15:57, Phao-lô hô lớn: “Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”. Trong IICo 2:14, ông thêm một lời đắc thắng khác: “Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn”. Bị bỏ tù, bị bỏ rơi, rồi đối mặt với sự hành quyết sắp tới, Phao-lô vẫn có thể viết ra những câu nói đầy dẫy sự đắc thắng sau đây: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài” (IITi 4:7-8).

Nhưng các thành tựu và chiến thắng của người tin Chúa trong đời này đều không trọn vẹn và bị thất bại do thối lui và thất sũng. Thế gian, xác thịt và ma quỉ tước đi phần lớn những nỗ lực tốt nhứt của chúng ta. Chính sứ đồ Phao-lô đã kết thúc cuộc đời của ông trong đắc thắng vinh hiển trước đó mô tả kinh nghiệm Cơ Đốc của ông bằng các câu nói sau đây:

Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi. Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét. Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành. Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi. Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn. Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.

Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi. Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy. Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? (Ro 7:14-24)

Áp-ra-ham, “bạn của Đức Chúa Trời” (Gia 2:23; đối chiếu IISu 20:7; Es 41:8), hai lần nói dối về Sa-ra, xưng bà là em gái mình chớ không phải vợ của ông (Sa 12:11-20; 20:1-18). David, là người vừa lòng Đức Chúa Trời (ISa 13:14; Cong 13:22), lại phạm tội tà dâm và giết người (IISa 11:1-17; 12:9). Phi-e-rơ, cấp lãnh đạo và là phát ngôn nhân của 12 sứ đồ, đã chối bỏ ba lần rằng ông không quen biết Chúa Jêsus (Mat 26:69-75). Những lần đắc thắng to lớn nhất của người tin Chúa là thiếu mất bởi vì “(vì không có người nào chẳng phạm tội) . . . Thật, chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội” (IVua 8:46; Tr 7:20), và vì vậy không một ai dám nói: “Ta đã luyện sạch lòng mình, Ta đã trong sạch tội ta rồi?“ (Ch 20:9).

Những câu mở đầu của Khải huyền 14 giới thiệu một nhóm người đắc thắng nhất mà thế gian từng nhìn biết. Kinh Thánh mô tả những người khác, trung thành, tin kính, không thoả hiệp, biết phó thác, như Giô-sép, Đa-ni-ên, và Phao-lô. Nhưng không bao giờ có một nhóm lớn như vậy cùng một lúc đâu. Họ sẽ nổi bật lên từ vụ tàn sát tồi tệ nhất trong lịch sử, Kỳ Đại Nạn, đánh trận đầy mệt mỏi song đắc thắng; họ sẽ sống giống như 144.000 Đa-ni-ên vậy.

Chương 7 giới thiệu một nhóm người đáng chú ý này. Sau những biến cố khủng khiếp của cái ấn thứ sáu (6:12-17), những người bị kinh khiếp áp lấy trên đất sẽ kêu lên: “Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?“ (6:16-17). Vào thời điểm đó trong Kỳ Đại Nạn, thế gian phải kinh nghiệm những nỗi kinh hoàng không kể được của sáu cái ấn đầu tiên. Sẽ có chiến tranh lan rộng, đói kém trầm trọng, dịch lệ chết chóc, những trận động đất dữ dội cùng các thảm hoạ thiên nhiên khác, hết thảy những điều đó sẽ kết quả hàng triệu triệu người chết. Tội lỗi sẽ lan tràn và không kiểm soát được trên đất, bùng lên do Sa-tan cùng các sứ hắn thúc đẩy — cả hai: những kẻ bị quăng khỏi trời cùng với hắn (12:9) và ma quỉ bị trói buộc trước đây sẽ được thả ra (9:1-11, 14-19). Anti-christ sẽ mở ra sự bắt bớ kinh khiếp nhất mà thế gian đã từng biết đến và vô số hàng ngàn Cơ Đốc nhân và người Do-thái sẽ bị tàn sát.

Trong bối cảnh khủng khiếp, không thể tưởng tượng được đó, tiếng loa và cái bát báo hiệu tàn phá nối theo sau, dường như khó cho mọi người tồn tại được.

Rồi để chống lại bối cảnh đó là 144.000 người được giới thiệu. Họ sẽ sống sót từ cả hai: cơn giận dữ, sự bắt bớ của Sa-tan và những sự phán xét của Đức Chúa Trời nhắm vào thế gian tội lỗi. Không một điều gì có thể làm hại họ, bởi vì Đức Chúa Trời sẽ đóng ấn họ (7:3-4). Họ sẽ giống như số dân sót trong thời của Ma-la-chi: “Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình“ (Ma 3:16-17). Xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa Trời đã bảo vệ những ai thuộc về Ngài. Ngài bảo hộ Nô-ê trong Nạn Lụt và giữ gìn Ra-háp an toàn khi thành Giê-ri-cô bị hủy diệt. Ngài đã bảo vệ Lót khỏi sự tàn diệt của thành Sô-đôm và giữ cho con cái Israel an toàn khỏi những trận dịch hủy hoại xứ Ê-díp-tô. Thi 37:39-40 tuyên bố: “Nhưng sự cứu rỗi người công bình do Đức Giê-hô-va mà đến; Ngài là đồn lũy của họ trong thì gian truân. Đức Giê-hô-va giúp đỡ và giải cứu họ; Ngài giải họ khỏi kẻ ác và cứu rỗi cho, bởi vì họ đã nương náu mình nơi Ngài“.

144.000 người sẽ không phải là những người duy nhất được cứu chuộc trong Kỳ Đại Nạn. Rất nhiều người khác, cả hai: dân Israel (Xa 12:10-14; 13:1, 9; Ro 11:26-27) và các dân Ngoại (6:9-11; 7:9, 13-14; Mat 25:31-46) sẽ được cứu. Có lẽ, phần nhiều người trong số họ sẽ ngã chết như những người tuận đạo trong suốt sự bắt bớ kinh khiếp của Anti-christ. Tuy nhiên, phần còn lại những ai sẽ sống qua các sự khiếp kinh của Kỳ Đại Nạn sẽ bước vào vương quốc thiên hi niên (Es 65:20-23; Mat 25:31-36). Nhưng 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái là độc nhất vì tất cả họ sẽ sống sót. Khi Đấng Christ tái lâm và đứng trên Núi Si-ôn, họ sẽ cùng đứng với Ngài trong sự đắc thắng.

Một cái nhìn tổng quan ngắn gọn đặt ra bối cảnh cho sự mặc thị về 144.000 người nầy. Độc giả nên nhớ lại các chương 12-14 của sách Khải huyền hình thành nên đoạn kết trong câu chuyện về những lần phán xét sau cùng của Đức Chúa Trời nhắm vào thế gian tội lỗi. Việc mở ra những sự phán xét này được mô tả ở các chương 6-11, khi Đức Chúa Trời bắt đầu lấy đất lại khỏi kẻ chiếm đoạt, là Sa-tan. Chương 11, câu 15, ghi lại tiếng loa thứ bảy, mặc dù các sự phán xét hiệp với tiếng loa nầy sẽ không mở ra cho đến chương 15. Các chương 12 và 13 tóm tắt lại các biến cố trong Kỳ Đại Nạn, lần này cung ứng cho họ từ nhận định của Sa-tan. Chúng tỏ ra các nỗ lực của Sa-tan hòng tiêu diệt Israel (chương 12) và nói chi tiết sự nghiệp của Anti-christ cùng tiên tri giả sau cùng (chương 13). Chương 14 trở lại với những gì Đức Chúa Trời sẽ làm. Nó bao gồm ba sự mặc thị cung ứng phần xem trước tổng quát về những lần phán xét chưa đến đỉnh điểm trong sự tái lâm của Đấng Christ.

Chương 14 là phần tương phản với bóng tối tăm ở chương 13, nó mô tả Sa-tan (con rồng), Anti-christ, tiên tri giả sau cùng, sự dối gạt, người không được chuộc, sự thờ lạy hình tượng, và dấu của con thú. Chương 14 mô tả Chiên Con, các thiên sứ, các thánh đồ được chuộc, sự thờ phượng chân chính, cùng những kẻ được Đức Chúa Trời đóng ấn cho. Ở chương 13, có sự giả dối, sự gian ác, sự đồi bại, và sự phạm thượng; ở chương 14 có lẽ thật, sự ngay thẳng, sự tinh sạch, và sự khen ngợi.

Thêm vào với ý nghĩa tiên tri, phân đoạn nầy chỉ ra các nguyên tắc rất quan trọng cho việc sống Cơ Đốc đắc thắng. Bảy đặc điểm đó sẽ đánh dấu 144.000 người: quyền phép, ngợi khen, trinh khiết, thái độ trung thành, mục đích, sự chính xác, và sự trọn lành.

QUYỀN PHÉP

Tôi nhìn xem, thấy Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và với Ngài có mười bốn vạn bốn ngàn người đều có danh Chiên Con và danh Cha Chiên Con ghi trên trán mình. (14:1)

Mệnh đề “tôi nhìn xem, thấy” và phần tương đương của nó thường xuất hiện trong sách Khải huyền để giới thiệu các biến cố kịch tính đáng giật mình (đối chiếu câu 14; 4:1; 6:2, 5, 8; 7:9; 15:5; 19:11). Sự việc bắt lấy sự chú ý của Giăng là bối cảnh đáng sợ Chiên Con đứng trên núi Si-ôn. Sách Khải huyền mô tả Chiên Con như đã bị giết (5:6; 13:8), được làm cho vinh hiển (5:8, 12-13), được tôn cao (7:9-10), Đấng Cứu Chuộc (7:14) và là Đấng Chăn Giữ (7:17) của dân sự Ngài, là Chúa của các chúa và là Vua của các vua (17:14).

Sự xuất hiện của Chiên Con trên Núi Si-ôn là một khoảnh khắc hoành tráng trong lịch sử cứu chuộc. Tác giả Thi thiên đã viết về khoảnh khắc này trong Thi Thiên 2:6-9:

“Dầu vậy, ta đã lập Vua ta Trên Si-ôn là núi thánh ta. Ta sẽ giảng ra mạng lịnh: Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Ngươi là Con ta; Ngày nay ta đã sanh Ngươi. Hãy cầu ta, ta sẽ ban cho Con các ngoại bang làm cơ nghiệp, và các đầu cùng đất làm của cải. Con sẽ dùng cây gậy sắt mà đập bể chúng nó; Con sẽ làm vỡ nát chúng nó khác nào bình gốm”.

Thi 48:2 mô tả Núi Si-ôn là “đẹp đẽ nổi lên, là kinh đô của Vua cao cả, và là sự vui vẻ của cả thế gian”. Ê-sai đã viết rằng: “Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trị vì trên núi Si-ôn, tại Giê-ru-sa-lem; và sự vinh hiển sẽ chói lói trước mặt các trưởng lão” (Es 24:23). Sự ứng nghiệm của những lời tiên đoán ấy giờ đây đã đến.

Thật là lạ lùng, có người ví phân đoạn này với He 12:22-24 và xem nó như là một sự mặc thị đến thiên đàng. Nhưng phân đoạn trước mô tả Núi Si-ôn ở trên trời, nơi ngự của Đức Chúa Trời. Phân đoạn này mô tả sự tái lâm của Đấng Christ tại Núi Si-ôn trên đất. Toàn bộ quan điểm sẽ bị lệch lạc nếu Núi Si-ôn nói tới trời, bởi vì nó sẽ có nghĩa là một trăm bốn mươi bốn ngàn người đã chết. Trong trường hợp đó, dấu ấn của họ với con dấu của Đức Chúa Trời (7:3-4, đối chiếu 9:4) sẽ trở nên vô nghĩa. Es 11:9-12 và 24:23; Gio 2:32, và Xa 14:4 cũng hỗ trợ nhận dạng Núi Si-ôn trong phân đoạn này với Núi Si-ôn trên đất. Đó là một tiếng nói ra từ trời (câu 2) cũng cho thấy rằng bối cảnh này là ở trên đất.

Một số nhà giải kinh khẳng định rằng con số một trăm bốn mươi bốn ngàn không phải theo nghĩa đen. Họ lập luận rằng nó làm biểu tượng cho Hội thánh, hoặc các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, hoặc các Cơ Đốc nhân nổi bật nhất trong lịch sử nhóm lại với nhau ở trên trời cho bối cảnh này. Một số giáo phái nhấn mạnh rằng nó đề cập đến họ — điều này đặt ra nan đề cho những người ủng hộ hơn 144.000 người. Nhưng mọi suy đoán cá nhân về Kinh Thánh đều là vô nghĩa; lai lịch của họ không nằm trong sự nghi ngờ. Đây là một nhóm 144.000 người sống đích thực, —12.000 tín đồ Do-thái từ mỗi chi phái trong mười hai chi phái Israel (Kh 7:4-8). (Để có thêm bằng chứng rằng một trăm bốn mươi bốn ngàn sẽ là tín đồ Do thái còn sống trong Kỳ Đại Nạn, xem Revelation 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody,1999],219-20).

Một trăm bốn mươi bốn ngàn người sẽ là một nhóm duy nhất trong lịch sử cứu chuộc. John Phillips đã viết:

Không một thời đại nào khác đã tạo ra một hội đoàn như thế này, một đạo quân đích thực những người tin Chúa diễu hành hiên ngang qua từng tình trạng hiểm nguy. Tình trạng của họ là chống lại con rồng, trêu chọc con thú, rồi gán lời nói dối cho tiên tri giả. Ơn kêu gọi của họ là rao giảng Tin lành từ các mái nhà, thậm chí mang danh của Đấng Christ để chịu lấy những án phạt ghê khiếp. Họ đã được vây quanh, những công việc của ngày sau rốt nầy, với những hàng rào không thể xuyên thủng, họ có thể cười nhạo tất cả các quan toà của địa ngục. Họ rảo đi trên các đường phố lúc ban ngày, bất chấp cơn giận dữ nghiến răng của những kẻ hành hình và chết chóc, các chứng nhân của Đức Giê-hô-va trong kỷ nguyên khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người. Ma quỉ biết rõ về tốp người chinh phục đang tới đến, và uất ức lắm trong sự chờ đợi đầy đau khổ. (Exploring Revelation, Rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N.J.: Loizeaux, 1991], 179-80)

Phân đoạn cũng mô tả 144.000 người có danh Chiên Con và danh Cha Chiên Con ghi trên trán mình. Những kẻ không tin Chúa sẽ có dấu hiệu của con thú (13:16-17); 144.000 người sẽ có con dấu của Đức Chúa Trời trên trán mình (7:3) có cần cho sự bảo hộ họ. Sa-tan và thế gian vô tín sẽ tìm cách giết những nhà truyền đạo không sợ hãi, mạnh mẽ của Tin lành. Nhưng, sau khi đã đánh dấu họ là tài sản riêng của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ không cho phép họ bị hãm hại. Xuyên suốt sự đổ ra thảm hoạ của những lần phán xét sau cùng của Đức Chúa Trời và cơn giận dữ của Sa-tan, họ sẽ rao giảng Tin lành. Họ sẽ đối diện với những kẻ vô tín với tội lỗi của họ, kêu gọi họ ăn năn và tin theo Cứu Chúa, và tuyên xưng rằng mọi thảm hoạ đang xảy ra là những lần phán xét công bình của Đức Chúa Trời. Và bất chấp các nỗ lực nôn nã nhất của Sa-tan, tất cả 144.000 người sẽ sống còn để gặp Đấng Christ trên Núi Si-ôn ở lần đến thứ hai của Ngài. Họ sẽ bước vào vương quốc ngàn năm y như những con người sống động. Có khả năng nhất, 144.000 người sẽ tiếp tục công tác truyền giáo trong suốt thời kỳ ngàn năm đó. Trong khi chỉ những người được chuộc mới bước vào vương quốc, con cái sanh ra cho họ (đối chiếu Es 65:23) hết thảy đều sẽ không chịu tin. Thực vậy, sẽ có đủ hạng người chưa được tái sanh ở phần cuối thiên niên kỷ cho Sa-tan lãnh đạo một cuộc loạn lạc trên toàn thế giới chống nghịch lại luật lệ của Đấng Christ (20:7-10).

Vì vậy, Kinh Thánh nói tới ơn cứu rỗi trong suốt thời kỳ ngàn năm (đối chiếu Es 60:3; Xa 8:23) — một ơn cứu rỗi mà 144.000 người chắc chắn sẽ tuyên xưng.

Câu chuyện nói tới những kẻ sống sót đắc thắng ở đây đang minh hoạ cho mặt thuộc linh của sự sống Cơ Đốc đắc thắng: Đức Chúa Trời sẽ giữ gìn kẻ thuộc về Ngài. 144.000 người sẽ là minh chứng sống động của các lời hứa ghi trong Thi 91:5-16:

Ngươi sẽ chẳng sợ hoặc sự kinh khiếp ban đêm, Hoặc tên bay ban ngày, Hoặc dịch lệ lây ra trong tối tăm, Hay là sự tàn diệt phá hoại đang lúc trưa. Sẽ có ngàn người sa ngã bên ngươi, Và muôn người sa ngã bên hữu ngươi. Song tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi. Ngươi chỉn lấy mắt mình nhìn xem, Và sẽ thấy sự báo trả cho kẻ ác. Bước ngươi đã nhờ Đức Giê-hô-va làm nơi nương náu mình, Và Đấng Chí cao làm nơi ở mình, Nên sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến ngươi, Cũng chẳng có ôn-địch nào tới gần trại ngươi. Vì Ngài sẽ ban lịnh cho thiên sứ Ngài, Bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi. Thiên sứ sẽ nâng ngươi trên bàn tay mình, E chân ngươi vấp nhằm hòn đá chăng. Ngươi sẽ bước đi trên sư tử và rắn hổ mang; Còn sư tử tơ và con rắn, ngươi sẽ giày đạp dưới chân. Bởi vì người tríu mến ta, nên ta sẽ giải cứu người; Ta sẽ đặt người lên nơi cao, bởi vì người biết danh ta. Người sẽ kêu cầu ta, ta sẽ đáp lời người; Trong sự gian truân, ta sẽ ở cùng người, Giải cứu người, và tôn vinh người. Ta sẽ cho người thỏa lòng sống lâu, Và chỉ cho người thấy sự cứu rỗi của ta”.

Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ kẻ thuộc về Ngài và đưa họ đắc thắng qua các thử thách của họ. Thực sự cả hai: những người còn sống trên đất, giống như 144.000 người, cùng những người tuận đạo ở trên trời, như những người được mô tả ở 6:9-11 và 7:9-17. Chúa Jêsus hứa: “Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu ” (G 6:37). Những người tin Chúa được an toàn cho đến đời đời, Chúa Jêsus tuyên bố, vì “chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha” (Gi 10:28-29). Phao-lô viết cho người thành Phi-líp: “tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi 1:6); trong khi Giu-đe dâng lời ngợi khen: “Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được“ (Giu 24). Khi nhìn biết rằng họ được “quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt” (IPhi 1:5), người tin Chúa có thể cả hai: sống tin cậy và dạn dĩ phục vụ. Lời lẽ hùng hồn của Ro 8:31-39 tóm tắt lẽ thật kỳ diệu tỏ ra Đức Chúa Trời đang bảo vệ và giải cứu kẻ thuộc riêng về Ngài:

Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? Như có chép rằng:

Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt.

Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.

NGỢI KHEN

Tôi nghe một tiếng từ trên trời xuống, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn; tiếng mà tôi nghe đó như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy: chúng hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão. Không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi. (14:2-3)

Cùng đứng với Chiên Con trên Núi Si-ôn, 144.000 người sẽ hoà vào bài ca nói về ơn cứu chuộc ở trên trời. Với tất cả những sự tàn phá mà họ đã chứng kiến, với hết thảy mọi hoạn nạn mà họ phải đối mặt, với mọi sự chối bỏ, thù nghịch, thù ghét và sự bắt bớ mà họ đã gánh chịu, người ta có thể mong mỏi họ sẽ buồn quá không hát nổi (đối chiếu Thi 137:4). Nhưng thay vì thế, họ sẽ hân hoan ngợi khen Chúa vì sự bảo hộ và thành công của họ.

Đây không phải là lần đầu tiên Giăng nghe một tiếng từ trời xuống (đối chiếu 4:1; 10:4, 8; 11:12; 12:10), và cũng không phải là lần sau cùng (đối chiếu câu 13; 18:4; 19:1). Tiếng mà ông đã nghe rất là to và liên tục, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn. Exe 43:2 ví tiếng của Đức Chúa Trời với tiếng nước lớn, trong khi Kh 1:15 mô tả tiếng của Đức Chúa Jêsus Christ cũng giống y như thế. Nhưng một khi Kh 19:6 sử dụng cả hai cụm từ này để mô tả tiếng của đám đông trên trời, tốt nhất thì nên hiểu chúng có cùng một ý nghĩa như thế ở đây.

Bài ca khởi sự ở 5:9-10, khi bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão “hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất“. Kế tiếp đó là vô số các thiên sứ hoà vào, họ khởi sự “đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!“ (5:12). Sau cùng: “mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!“ (5:13). Trong 7:9-10, những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn đã tham gia vào giai điệu ngợi khen càng lúc càng cao lên: “Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con”.

Tiếng nói mạnh mẽ không chỉ là tiếng ồn; mà nó có chất lượng âm nhạc, giống như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy. Sự tham khảo đến người đánh đàn và đàn cầm cho thấy rằng tiếng được nhắc tới không phải là sự phán xét bằng sấm sét mà là sự vui mừng. Đàn cầm thường được nhắc tới trong Cựu Ước cùng với sự vui vẻ khen ngợi (đối chiếu IISa 6:5; ISu 13:8; 15:16, 28; IISu 5:12-13; Ne 12:27; Thi 33:2; 71:22; 144:9; 150:3). Thiên đàng sẽ vang dội với sự ngợi khen lớn tiếng khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm trong sự đắc thắng để thiết lập vương quốc trên đất của Ngài.

Bài ca mới được hát trên trời trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão là bài ca nói tới ơn cứu chuộc (đối chiếu Thi 33:1-3; 40:3; 96:1-2; 98:1-2; 144:9-10; 149:1; Es 42:10). Các thiên sứ sẽ hiệp cùng các thánh đồ Cựu Ước, Hội thánh được cất lên, và những người tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời vì cớ ơn ấy. Trong khi các thiên sứ không từng trải sự cứu chuộc, họ đang vui mừng vì cớ ơn ấy (Lu 15:10). Hết thảy thiên đàng sẽ tràn ngập sự ngợi khen vì công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã lên đến đỉnh điểm trong sự tái lâm của Đấng Christ đã được hoàn tất.

Sự ngợi khen của thiên đàng phủ tràn đất, ở đó bài ca mới được cất lên. Giăng lưu ý rằng không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi. Tất nhiên, người chưa được tái sanh không thể hát bài ca của sự cứu chuộc; bài ca ấy chỉ dành cho người được chuộc, những kẻ được mua bằng huyết của Đấng Christ. Tại sao bài ca bị hạn chế trong một trăm bốn mươi bốn ngàn không được nêu ra, song Henry Morris đã đưa ra một lời giải thích khả thi:

Mặc dù lời lẽ của bài ca mà 144.000 người hát đó không được ghi lại, chắc chắn ít nhất là nói tới sự thật tuyệt vời rằng họ đã được “chuộc khỏi đất”. Mặc dù theo một ý nghĩa nào đó, hết thảy những ai được cứu đã được chuộc khỏi đất, những người nầy có thể hiểu được ý nghĩa của một chủ đề như thế một cách sâu sắc hơn những người khác. Họ đã được cứu sau sự cất lên, vào thời điểm đó trong lịch sử khi những sự bắt bớ lớn lao nhất của con người và những sự phán xét to lớn nhất của Đức Chúa Trời đã xảy ra trên đất. Chính vào thời điểm như thế mà họ, giống như Nô-ê (Sáng thế ký 6:8), đã “tìm được ơn ở trước mặt Ngài” và được biệt riêng ra khỏi “hết thảy mọi kẻ đang sinh sống trên đất” (Khải huyền 13:8). Không những họ đã được chuộc về mặt thuộc linh nhưng, đúng là như thế, họ đã được chuộc khỏi sự rủa sã trên đất (Sáng thế ký 3:17), được bảo hộ tránh khỏi đau khổ và chết chóc bởi cái ấn kia. (The Revelation Record [Wheaton, Ill.: Tyndale, 1983], 260)

144.000 người sẽ hiệp cùng ca đoàn thiên thượng trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời vì công tác cứu chuộc lạ lùng của Ngài. Một số lời lẽ của bài ca đó có thể được tìm gặp trong 15:3-4:

“Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra”.

Một dấu hiệu nói tới sự sống Cơ Đốc đắc thắng trong bất kỳ kỷ nguyên nào là liên tục khen ngợi Đức Chúa Trời. Không nghi ngờ chi nữa, 144.000 người đã ngợi khen Đức Chúa Trời trong suốt thời gian thử thách và bắt bớ của họ. Bởi vì thử thách của họ đã qua rồi và họ đang chiến thắng, họ sẽ hoan hô trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời vì ơn giải cứu của họ. Vui mừng là dòng chảy thích hợp của một tấm lòng tin tưởng vào quyền lực tối cao của Đức Chúa Trời (Phi 3:1; 4:4, ITe 5:16; Gia 1:2; IPhi 4:13).

TRINH KHIẾT

Những kẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà, vì còn trinh khiết. (14:4a)

Sự thờ lạy Anti-christ trong suốt Kỳ Đại Nạn sẽ là xấu xa và kỳ quặc khôn tả xiết. Như đã có trong các hệ thống thờ lạy hình tượng trong các thời cổ đại, tội lỗi về tình dục dường như tràn lan. Ngay cả trong thời phi đạo đức hiện nay, chúng ta khó có thể tưởng tượng được rằng sự đồi bại về tình dục xã láng trong Kỳ Đại Nạn sẽ là dường nào! Với mọi sự kềm chế thiêng liêng đã bị cất đi (IITe 2:6-7) và thế giới vô tín về mặt phán xét đã bị Đức Chúa Trời bác bỏ (Ro 1:24, 26, 28), tội lỗi sẽ được thả ra giống như một trận lụt, ngập tràn cả thế gian. Và việc thổi lên những ngọn lửa gian ác của địa ngục sẽ là Sa-tan cùng các sứ hắn — cả những ma quỉ bị quăng xuống từ trời cùng với hắn (12:9) và lũ ma quỉ độc ác đó mới được phóng thích ra khỏi ngục tù (9:1-11, 14-19).

Ở giữa sự tối tăm của thời kỳ Đại Nạn, 144.000 người ấy sẽ chiếu sáng như những người nêu gương trinh khiết. Bất chấp tội lỗi tình dục tràn lan ở xung quanh họ, họ sẽ không bị ô uế với đàn bà, nhưng cứ giữ mình trinh khiết. Đó là tội lỗi cụ thể mà họ tránh được không dính dấp đến đàn bà cho thấy rằng sự trinh khiết về tình dục đang được nhìn nhận ở đây chứ không phải là sự tách rời khỏi hệ thống thế gian đồi bại. 144.000 người sẽ biệt riêng ra khỏi đế quốc của Anti-christ đã được nói rõ; họ mang con dấu của Đức Chúa Trời, chớ không phải con dấu của con thú (7:3-4). Phân đoạn nầy cũng không dạy rằng hết thảy chúng ta đều không nên lập gia đình, một khi tình dục trong hôn nhân không làm ô uế ai cả (He 13:4). Ý ở đây muốn nói rằng họ sẽ đứng biệt riêng ra khỏi tội lỗi của xã hội lúc bấy giờ; 144.000 nhà truyền đạo trinh khiết về mặt đạo đức ở giữa sự ô uế đang ở xung quanh họ.

Trinh khiết về mặt tình dục là cần thiết cho sự sống Cơ Đốc đắc thắng. Trong ITe 4:3, Phao-lô đã ghi rất rõ ràng: “Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế“. Vị sứ đồ đã khuyên mục sư trẻ tuổi Ti-mô-thê: “Cũng hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ, mà tìm những điều công bình, đức tin, yêu thương, hòa thuận với kẻ lấy lòng tinh sạch kêu cầu Chúa“ (IITi 2:22). Phao-lô viết cho người thành Cô-rinh-tô: “Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn, Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại cái nọ và cái kia. Nhưng thân thể chẳng phải vì sự dâm dục đâu, bèn là vì Chúa, và Chúa vì thân thể … Hãy tránh sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình” (ICo 6:13, 18). Người nào phục vụ Đức Chúa Trời có hiệu quả phải có đời sống thánh khiết và trong sáng. Nhà truyền đạo người Tô-cách-lan vào thế kỷ thứ 19 tên là Robert Murray McCheyne đưa ra lời lẽ sau đây khuyên một mục sư trẻ đầy triễn vọng:

Đừng quên cốt lõi của người bề trong — tôi muốn nói đến tấm lòng. Nhân sự của đồi Gô-gô-tha phải tỉ mỉ dường bao giữ cho kiếm của mình phải luôn sạch sẽ và sắc bén; từng vết bẩn người phải lau chùi với sự chăm sóc kỷ lưỡng nhất. Hãy nhớ rằng bạn là gươm của Đức Chúa Trời, là công cụ của Ngài — tôi tin một cái bình được chọn cho Ngài phải mang lấy danh của Ngài. Ở một mức độ cao vời, theo sự trinh khiết và trọn lành của công cụ, sẽ là sự thành công. Đó không phải là do tài năng cao tột mà Đức Chúa Trời chúc nhiều phước cho đâu, mà là ảnh tượng của Chúa Jêsus. Một Mục sư thánh khiết là một thứ vũ khí khủng khiếp ở trong tay của Đức Chúa Trời. (Andrew A. Bonar, Memoirs of McCheyne [Chicago: Moody, 1978], 95)

TRUNG THÀNH

Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. (14:4b)

144.000 người được đánh dấu thêm là Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. Họ sẽ là những người ủng hộ cho đảng của Chiên Con. Từ điển Anh ngữ Oxford định nghĩa một đảng viên là “một người tham gia hay đứng bên cạnh người khác; một người ủng hộ hoặc ủng hộ viên của một đảng, con người hoặc lý tưởng . . . một người ủng hộ nhiệt thành hoặc sốt sắng . . . Một người hỗ trợ đảng của mình ‘thông qua dày và mỏng’; một đảng viên mù quáng, thành kiến, không có lý trí, hay cuồng tín”. 144.000 người đắc thắng sẽ trung thành hoàn toàn với Chiên Con, bất luận với cái giá nào. Theo lời lẽ của John Phillips,

Họ không cho phép đối thủ nào, không một sự bài bác nào, và không có một sự kềm chế nào tước đi sự tận hiến của họ đối với Ngài. Có phải Ngài cần ai đó đứng trên các nấc thang của Vatican và kêu gào nghịch cùng đám cưới của Giáo hội với Con thú không? Có 144.000 người sẵn sàng bước đi! Có phải Chúa cần ai đó đương đầu với con thú ở một địa vị cao trong nhà nước đoạn tuyệt với hắn, với chính sách của hắn, với hình thức quản lý của hắn, với tôn giáo của hắn, tẩy chay kinh tế của hắn, con dấu của hắn, các mục sư của hắn, liên minh của hắn với Satan? Có 144.000 người sốt sắng muốn đi! Có phải Chiên Con cần những nhà truyền đạo rao giảng cho hàng triệu người chưa được nghe Tin lành về Vương quốc hầu đến của Đức Chúa Trời? để leo lên dãy Himalaya cao nhất, để băng qua cát sa mạc, để thắp sáng các con đường truyền giáo qua khu rừng ngập mặn hoặc dùng chó kéo hành lý trên các vùng tuyết Bắc cực? Có 144.000 người sẵn sàng đi đấy! Và mặc dù con chó mật vụ của Con thú dọ theo các bước của họ rồi nảy ra ý định trút giận lên những người trở lại đạo của họ, tuy nhiên họ không hề nản chí và không chần chừ. Đó chính là tinh thần dâng mình của họ khi họ bước theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài dẫn dắt họ trên trần gian, và phần thưởng của họ thật rất là hậu hĩ. (Exploring Revelation, 180-81).

Đó là những môn đồ trung thành, tin kính mà Chúa Jêsus đang tìm kiếm. Trong Ma-thi-ơ 16:24 Ngài phán: “Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta“. Ngài khuyên vị quan trẻ tuổi giàu có: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta“ (Mat 19:21). Chúa Jêsus nói với những người Do-thái không tin Chúa rằng họ không phải là chiên của Ngài, và lưu ý rằng: “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta“ (Gi 10:27). Phao-lô công bố chính ông là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ (ICo 11:1), trong khi ở thư tín thứ nhứt, Giăng nhắc cho độc giả của mình nhớ rằng: “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm“ (IGi 2:6).

MỤC ĐÍCH

Những kẻ đó đã được chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con (14:4c)

Trong ngôn ngữ cứu chuộc làm gợi nhớ lại 5:9, Giăng giải thích rằng 144.000 người đã được chuộc từ trong loài người. Nhưng trong khi hết thảy những người tin Chúa đã được Đức Chúa Trời chuộc lấy (đối chiếu Cong 20:28; ICo 6:20; 7:23; IPhi 1:18-19), thì 144.000 người đã được chuộc vì một mục đích đặc biệt. Họ sẽ được chuộc như là trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con. Trong Cựu Ước, hoa quả đầu mùa, phần đầu tiên của vụ mùa, phải được dâng cho Đức Chúa Trời (Phu 26:1-11) để được sử dụng trong sự thờ phượng Ngài (Phu 18:3-5). 144.000 người, giống như hoa quả đầu mùa được dâng lên, sẽ được biệt riêng ra cho sự thờ phượng Chúa. Như đã đề cập trước đây, con số 144.000 này không tiêu biểu cho hết thảy các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, mà thay vì thế, chỉ ra một nhóm các nhà truyền giáo người Do-thái. Mục đích của đời sống họ sẽ là hầu việc Chúa bằng cách rao giảng Tin lành cho thế giới đang bị hư mất, đang chết mất, chối bỏ Đấng Christ.

Cũng có thể xem 144.000 người là trái đầu mùa theo ý nghĩa họ tiêu biểu cho người đầu tiên trong số nhiều người khác sẽ được cứu. Phao-lô sử dụng thuật ngữ theo ý nghĩa đó khi ông lưu ý rằng: “nhà Sê-pha-na là trái đầu mùa của xứ A-chai“ (ICo 16:15). 144.000 người có thể được xem một cách hợp pháp là trái đầu mùa của Israel được chuộc, báo trước sự cứu rỗi của dân tộc khi Đấng Christ tái lâm. Trong ngày đó: “chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng“ (Xa 12:10). Về ngày đó, Phao-lô đã viết:

“Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em khoe mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp; Ấy là sự giao ước mà ta sẽ lập với họ, khi ta xóa tội lỗi họ rồi (Ro 11:25-27)

144.000 sẽ minh hoạ cho mục đích, sự quyết đoán, sự cống hiến, và sự rõ ràng của mục tiêu cuộc sống đánh dấu các Cơ Đốc nhân đắc thắng (đối chiếu Ro 12:1-2).

TÍNH CHÍNH XÁC

trong miệng chúng chẳng có lời nói dối nào hết (14:5a)

144.000 người sẽ không truyền bá lời nói dối của Sa-tan, nhưng sẽ nói ra lẽ chơn thật của Đức Chúa Trời. Họ sẽ sống giống như những người mà Sô-phô-ni đã viết: “Những kẻ sót lại của Y-sơ-ra-ên sẽ không làm sự gian ác, không nói dối, không có lưỡi phỉnh gạt trong miệng chúng nó“ (So 3:13). Thế giới vô tín này sẽ bị hao mòn với “phép lạ dấu kỳ giả dối”, “mọi sự lừa dối gian ác” và “ảnh hưởng đáng kinh ngạc”, mạng lịnh mang tính cách phán xét của Đức Chúa Trời khiến cho những kẻ chối bỏ Tin lành “sẽ tin điều dối giả” (IITe 2:9-11). Nhưng 144.000 người đó rao giảng chính xác Lời của Đức Chúa Trời mà không chao đảo, nói nước đôi, hoặc thay đổi Lời ấy. Họ sẽ sống giống như Chúa của họ, về Ngài Kinh Thánh chép: “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá“ (IPhi 2:22).

Trong tất cả các thế hệ, Cơ Đốc nhân đắc thắng được đánh dấu bởi “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật” (Eph 4:15) và “chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình“ (Eph 4:25). Khi nhìn biết tầm quan trọng sống còn của việc “giảng dạy lời của lẽ thật“, họ sẽ “chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được“ (IITi 2:15). Họ sẽ không bao giờ phạm vào việc “theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Đức Chúa Trời“; thay vì thế: “tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng“ (IICo 4:2).

SỰ TRỌN LÀNH

cũng không có dấu vết gì.(14:5b)

Bởi vì họ sẽ tin cậy vào quyền phép của Đức Chúa Trời và hướng dẫn nhiều đời sống được tiêu biểu bằng sự ngợi khen, tinh sạch, trung thành, tin kính, và độc thân có mục đích, 144.000 người sẽ chẳng có dấu vít gì. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là họ sẽ không có tội (IVua 8:46; Giop 15:14-16; Thi 143:2; Ch 20:9; Tr 7:20; IGi 1:8-10), nhưng họ sẽ được nên thánh. Họ sẽ sống cao hơn, không bị quở trách, nêu gương sống tin kính trước mặt hết thảy những ai nom thấy họ.

Giống như 144.000 người kia, hết thảy Cơ Đốc nhân đều được kêu gọi đến với sự nên thánh. Trong Ê-phê-sô 1:4 Phao-lô viết: “trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (đối chiếu Co 1:22). Vị sứ đồ viết cho người thành Cô-rinh-tô: “bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ” (IICo 11:2; đối chiếu Eph 5:27). Phi-e-rơ khuyên các tín đồ phải “như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: ‘Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (IPhi 1:15-16). Giu-đe nhắc cho những người tin Chúa nhớ rằng “Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được” (Giu 1:24).

144.000 người xứng đáng với một vị trí trong “Sảnh Danh Vọng” của đức tin Cơ Đốc (Hê-bơ-rơ 11). Họ sẽ nêu gương sống thánh khiết và phục vụ hiệu quả cho Đức Chúa Trời trong suốt thời khắc đen tối nhất của lịch sử. Các nỗ lực mẫu mực của họ sẽ làm mũi nhọn cho sự tỉnh thức thuộc linh lớn lao nhất mà thế giới từng xem thấy (đối chiếu 6:9-11; 7:9). Câu chuyện được thần cảm về đời sống và chức vụ của họ cung ứng một khuôn mẫu sống đắc thắng Cơ Đốc cho hết thảy những người tin Chúa phải noi theo.

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme