“Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc. Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước. Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó. Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay, thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ” (14:6-11).
Con người liên tục hy vọng về một thời buổi tốt đẹp hơn. Các chính trị gia hứa sẽ mang lại những thời điểm tốt đẹp hơn nếu được bầu chọn. Các cấp lãnh đạo thế giới đang phấn đấu tìm cho ra nền tảng chung giữa các nước, tìm cách mang lại hòa bình và sự hòa hợp. Ai nấy đều muốn nhìn thấy thị trường chứng khoán tăng lên, tỷ lệ tội phạm giảm thấp, nghèo đói và bệnh tật được loại bỏ, môi trường được bảo vệ, và chấm dứt hận thù và xung đột.
Nhưng các nỗ lực của con người hầu đem lại một thế giới tốt đẹp, dù với ý định tốt đấy, cuối cùng là sụp đổ. Họ chỉ làm được một ít việc chẳng khác gì sắp xếp lại mấy hàng ghế trên tàu Titanic để giúp cho mọi người có cái nhìn tốt hơn khi chiếc tàu đắm chìm. Sự thật cho thấy không phải là một thời buổi tốt hơn, mà là một thời buổi tồi tệ hơn không tưởng được đang đứng ở trước mặt con người và cho thế giới của họ. Trong tương lai, Đức Chúa Trời sẽ trút cơn thạnh nộ và sự phán xét của Ngài lên một cấp độ chưa từng thấy trước đây. Chỉ sau khi địa cầu bị tàn phá trọn vẹn và những người không tin Chúa bị xét đoán thì một thời buổi tốt đẹp hơn sẽ xuất hiện — Vương quốc phước hạnh trên đất của Đức Chúa Jêsus Christ.
Sách Khải huyền có nhiều điều để nói về các sự phán xét hầu đến; như đã lưu ý rồi, chúng là mục tiêu chính của các chương 6-11 và 15-19, với các chương 12-14 hình thành một khoảng xen giữa ngắn ngủi trong sự mặc thị mở ra nói tới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Ai cũng thấy các chương 12 và 13 kể lại các biến cố của Kỳ Đại Nạn từ nhận định của Sa-tan; chương 14 trở lại với những gì Đức Chúa Trời sẽ làm. Trong ba sự mặc thị, phân đoạn nầy xem trước các sự phán xét còn lại của Kỳ Đại Nạn và sự tái lâm của Đấng Christ. Sự mặc thị thứ nhứt (các câu 1-5) nói tới 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái, họ sẽ xuất hiện với Đức Chúa Jêsus Christ trên Núi Si-ôn nơi lần đến thứ hai của Ngài. Trước mặt chúng ta trong các câu 6 đến 11 là phần tường trình về sự mặc thị thứ hai, trong đó sự phán xét được rao ra bởi ba sứ giả thuộc hàng thiên sứ.
Các thiên sứ phục vụ xuyên suốt Kinh Thánh trong vai trò sứ giả của Đức Chúa Trời; thực vậy, từ Hy Lạp angelos muốn nói tới “sứ giả”. Họ là những công cụ trong việc ban bố luật pháp Môi-se (Cong 7:38, 53; Ga 3:19; He 2:2). Họ cũng mang các sứ điệp đến cho các cá nhân, tỉ như Đa-ni-ên (Da 8:15-17; 9:21-22), Xa-cha-ri (Lu 1:11-19), Ma-ri (Lu 1:26-27), Giô-sép (Mat 1:20; 2:13, 19), mấy gã chăn chiên (Lu 2:9-13), Phi-líp (Cong 8:26) và Phao-lô (Cong 27:23-24). Các thiên sứ cũng phục vụ và chăm sóc những người tin Chúa (Mat 18:10; Cong 12:7-11; He 1:14).
Thiên sứ sẽ đóng một vai chính trong các biến cố của kỳ tận thế. Họ sẽ nhóm lại những kẻ không được chọn để dành cho sự phán xét (Mat 13:41-42, 49-50), những người được chọn để được sự vinh hiển (Mat 24:31) và cùng đi với Đức Chúa Jêsus Christ khi Ngài đắc thắng tái lâm trên đất (Mat 25:31; IITe 1:7). Trong sách Khải huyền, các thiên sứ tham gia vào việc đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (8:6…; 11:15…; 16:1…). Tuy nhiên không giống như các thiên sứ kia, ba thiên sứ được mô tả trong các câu 6-11 không bày ra sự phán xét. Thay vì thế, họ đưa ra những lời công bố đáng kinh ngạc đến từ Đức Chúa Trời về sự toàn mỹ của kỷ nguyên.
Ba thiên sứ đó không xuất hiện theo trình tự trước sau hoặc trình tự của thời gian. Thay vì thế, họ đưa ra các vấn đề và các biến cố trải ra trong thời kỳ Đại Nạn. Sứ điệp của họ nhắm đến sự phán xét của tiếng loa thứ bảy (11:15; các chương 15, 16), bao gồm các sự phán xét bằng cái bát sau cùng, cao điểm, và lửa lan nhanh ở phần cuối Kỳ Đại Nạn. Các sứ điệp mà họ mang lại đã được dàn dựng để tạo ra một nỗi sợ hãi kinh khiếp (đối chiếu Lu 12:5; He 10:31) dẫn đến đức tin cứu rỗi. Đức Chúa Trời sẽ giàu ơn hiến cho hạng tội nhân một cơ hội để ăn năn trước khi thả ra những sự phán xét bằng cái bát khủng khiếp (16:1…). Thiên sứ thứ nhứt rao giảng Tin lành, thiên sứ thứ hai công bố sự phán xét, và thiên sứ thứ ba hứa sự rủa sã.
THIÊN SỨ THỨ NHỨT: RAO GIẢNG TIN LÀNH
“Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc. Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước” (14:6-7)
Thiên sứ hoặc nhóm thiên sứ đặc biệt mà Giăng thấy một vị thiên sứ khác không được nói rõ. Trong khi các thiên sứ xuất hiện trong mỗi chương, từ chương 4 đến chương 12, lai lịch gần nhất là phần tham khảo đến Mi-ca-ên và các sứ của Ngài (12:7). Cụm từ cũng có thể chỉ ngược về thiên sứ thứ bảy (11:15). Trong bất kỳ trường hợp nào, hàng muôn hàng ngàn các thiên sứ khác (5:11) đã được chọn vì một mục đích rất là đặc biệt.
Thình lình, vị thiên sứ xuất hiện trên bầu trời đang bay giữa trời. Mesouran¯ema (giữa trời) đề cập đến một điểm trên bầu trời, ở đó mặt trời đạt đến đỉnh, tột đỉnh, hoặc đỉnh cao lúc giữa trưa (đối chiếu 8:13; 19:17). Từ thời điểm đó, thiên sứ sẽ được nhìn thấy rõ nhất đối với những người ở trên đất. Ở đó Ngài cũng sẽ ở ngoài tầm tay của Anti-christ, cũng như Sa-tan và các sứ hắn, hoạt động của chúng lúc đó sẽ bị hạn chế trên đất (12:7-9). Chiến trường hiện đang dữ dội trên các từng trời giữa các thiên sứ thánh và ma quỉ (đối chiếu Da 10:12-13) khi ấy sẽ kết thúc. Vị thiên sứ này đang giảng đạo không ai tiếp cận được, cái nhìn của thế gian về Ngài sẽ không bị cản trở, và chức vụ của Ngài sẽ không bị ngăn trở.
Vào thời điểm vị thiên sứ bắt đầu chức vụ của Ngài, thế gian sẽ phải gánh chịu sự tàn phá không tưởng của sự phán xét qua cái ấn và tiếng loa. Những cuộc tàn sát không dứt sẽ làm rung chuyển địa cầu, và các từng trời ổn định quen thuộc sẽ trở thành một nguồn tan rã kinh khiếp (đối chiếu 6:12-14). Trong thời điểm ấy, thế giới vô tín này đã nghe biết Tin lành được rao giảng bởi 144.000 nhà truyền giáo người Do-thái và hai người làm chứng, cũng như hàng muôn hàng ngàn người khác được cứu dưới các chức vụ của họ. Song bất chấp mọi sự ấy, phần lớn dân cư thế gian sẽ từ chối phúc âm (9:20-21; đối chiếu 16: 9, 11); do đó Đức Chúa Trời giàu ơn sai thiên sứ đầy năng quyền nầy đến rao giảng Tin lành cho họ thêm một lần nữa.
Khi bay giữa trời, thiên sứ sẽ có Tin lành đời đời, đặng rao truyền. Đây là lần xuất hiện duy nhất của danh từ euangelion (Tin lành) trong các tác phẩm của Giăng, mặc dù động từ liên quan được dịch là rao truyền cũng xuất hiện ở 10:7. Giống như một loại trang sức có nhiều mặt đa dạng, Kinh Thánh mô tả Tin lành bằng các thuật ngữ khác nhau, mỗi người nhìn vào đó theo một quan điểm khác. Tin lành được gọi là Tin lành nói tới vương quốc (Mat 4:23), Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ (Mac 1:1), Tin lành của Đức Chúa Trời (Mac 1:14), Tin lành của ơn Đức Chúa Trời (Cong 20:24), vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ (IICo 4:4), Tin lành về sự cứu rỗi (Eph 1:13), Tin lành bình an (Eph 6:15), và Tin lành vinh hiển (ITi 1:11). Ở đây Tin lành ấy được mô tả là đời đời bởi vì Tin lành ấy cung ứng phương tiện cho sự sống đời đời. Đây là tin tức tốt lành, vì Đức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi của những người biết ăn năn và tin theo Đức Chúa Jêsus Christ là con đường duy nhất của ơn cứu rỗi, và bởi đó sự ăn năn và đức tin cứu rỗi mới đưa họ vào vương quốc đời đời của Ngài.
Tin lành đời đời do thiên sứ rao truyền cũng là một Tin lành được rao giảng xuyên suốt cả lịch sử. Đây là tin tức tốt lành nói tới sự tha thứ và sự sống đời đời. Ngài sẽ công bố rằng con người là tội nhân, đang đối mặt với sự phán xét đời đời trong địa ngục, nhưng Đức Chúa Trời đã cung ứng sự chuộc tội qua sự chết có tính cách hy sinh của Đức Chúa Jêsus Christ. Sứ điệp tha thứ ấy đã được ban ra thậm chí trong thời Cựu Ước dựa trên các điều khoản của giao ước mới (đối chiếu Gie 31:31-34; Exe 36:25-27). Mọi phước hạnh của ơn ấy đã được áp dụng cho mọi người nào thực sự ăn năn và tìm kiếm ơn tha thứ và ân điển từ Đức Chúa Trời, mặc dù Cứu Chúa chưa chịu chết. Trong ý đồ của Đức Chúa Trời, công đức của Chiên Con bị giết tại đồi Gô-gô-tha đã được ban cho tất cả những ai thành thật ăn năn trong mọi thời đại. Trong Kỳ Đại Nạn, hầu hết mọi người đã quen thuộc rồi với Tin lành qua sự rao giảng của 144.000 người, hai người làm chứng và nhiều tín hữu khác nữa. Nhưng Chúa Jêsus tuyên bố rằng trước khi tận thế đến, cả thế giới sẽ nghe Tin lành nói về Nước Trời (Mat 24:14). Sự rao truyền của thiên sứ này sẽ đến với bất cứ ai vẫn chưa nghe sứ điệp Tin lành. Khi giờ tăm tối nhất của địa cầu đến, thiên sứ sẽ rao truyền các tin tức tốt lành chẳng có gì là quá trễ cả. Vẫn còn thời gian để ăn năn trước khi sự phán xét của Đức Chúa Trời tiếp tục.
Sứ điệp của thiên sứ được gửi đến cho dân cư trên đất — một cụm từ luôn được sử dụng trong sách Khải huyền đề cập đến những người không tin Chúa (đối chiếu 3:10; 6:10; 8:13; 11:10; 13:8, 12, 14; 17:2, 8). Cụm từ bao gồm mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc (đối chiếu 5:9; 7:9; 11:9; 13:7) nhấn mạnh đến bản chất toàn diện, toàn cầu sự rao truyền của thiên sứ. Thiên sứ sẽ cất tiếng lớn nói với hết thảy những kẻ chưa được tái sanh ở khắp mọi nơi. Tiếng lớn của Ngài bảo đảm rằng người ta sẽ nghe thấy và nhấn mạnh tính khẩn cấp của sứ điệp Ngài. Sứ điệp của thiên sứ cho hạng tội nhân là “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài“, Ngài sẽ kêu gọi dân cư trên thế giới phải đổi lòng trung thành của họ đối với con thú mà xây sang Chiên Con. Ngài sẽ giục giã họ không còn sợ hãi, tôn kính và thờ phượng Sa-tan và Anti-christ nữa, mà thay vì thế phải kính sợ, sùng bái và tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách xây lại với Con Ngài. Là Vua chí tôn của vũ trụ, một mình Đức Chúa Trời — Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh — mới có quyền được thờ lạy (19:10; 22:9; Es 42:8; 48:11; Mat 4:10).
Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại hoài con người phải kính sợ Đức Chúa Trời. Trong Thi 111:10 tác giả Thi thiên tuyên bố rằng: “sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan” (đối chiếu Ch 1:7; 9:10), trong khi Ch 23:17 chép: “Nhưng hằng ngày hãy kính sợ Đức Giê-hô-va”. Một người cha khôn ngoan khuyên con trai mình: “hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn kính vua” (Ch 24:21), trong khi Phierơ khuyên độc giả của ông phải “kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua” (IPhi 2:17). Trong Mat 10:28 Chúa Jêsus cảnh cáo: “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục”. Kính sợ Đức Chúa Trời là sống trong thực tại sự thánh khiết, sự tễ trị, và sự phán xét của Ngài đối với tội lỗi. Chính sự kính sợ Đức Chúa Trời, tôn trọng Ngài, sùng bái Ngài, yêu mến Ngài, nắm lấy Ngài trong sự kính sợ, và thờ lạy Ngài. Và mọi sự ấy chỉ được thực hiện qua việc yêu mến Con của Ngài là Đấng Cứu Thế (Gi 5:23).
Kèm theo với sự kính sợ Đức Chúa Trời, con người cần phải tôn vinh Ngài. Sự bắt buộc nầy nhắm thẳng vào nan đề quan trọng của người chưa được tái sanh, vì họ “dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa” (Ro 1:21). Từ chối không dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời nằm tại cốt lõi sự loạn nghịch đầy kiêu ngạo của con người.
Những kẻ vô tín sẽ được kêu gọi phải kính sợ và tôn vinh Đức Chúa Trời ngay lập tức vì giờ phán xét của Ngài đã đến. Cơ hội đang vờn đi rất nhanh; những sự phán xét bằng cái bát sẽ được đổ ra, và sẽ theo sau ngay khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm để xét đoán thế giới vô tín (Mat 25:31-46). Đây là lần xuất hiện đầu tiên của chữ krisis (phán xét) trong sách Khải Huyền. Từ ấy sẽ xuất hiện lại ở 16:7, 18:10, and 19:2. (Một từ Hy-lạp đồng nghĩa với krisis, là krima, xuất hiện ở 17:1; 18:20; và 20:4). Lên tới điểm nầy trong sách Khải huyền, cụm từ cơn thạnh nộ đã được sử dụng để mô tả sự phán xét của Đức Chúa Trời (đối chiếu 6:16-17; 11:18); hai thuật ngữ nầy sẽ tiếp tục được sử dụng hoán đổi nhau (đối chiếu các câu 10, 19; 15:1, 7; 16:1, 19; 19:15). Sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời là sự trút đổ ra cơn thạnh nộ của Ngài chống lại thế giới ngoan cố không chịu ăn năn.
Dường như là lời cảnh báo của thiên sứ sẽ là thừa thải. Rốt lại, vào thời điểm này, ai nấy đều đã trải nghiệm những sự phán xét qua cái ấn và tiếng loa gây tàn phá. Địa cầu sẽ bị tàn phá bởi chiến tranh ở khắp nơi, đói kém và động đất, kết quả trong sự hủy hoại môi trường, chứng kiến các dấu hiệu kinh khiếp trên bầu trời, và bị tấn công bởi lũ ma quỉ. Hết thảy mọi sự ấy sẽ kết quả trong sự chết chóc ở cấp độ qui mô chưa từng có trong lịch sử loài người. Tuy nhiên, mặc dù cuối cùng họ sẽ nhận ra rằng các thảm hoạ đó là những sự phán xét của Đức Chúa Trời (đối chiếu 6:15-17), người ta sẽ từ chối không chịu ăn năn (9:20-21). Nhưng Đức Chúa Trời, trong ân điển và ơn thương xót, một lần nữa kêu gọi hạng tội nhân ăn năn qua việc rao truyền của thiên sứ này.
Thiên sứ đưa ra một lý do cuối cùng cho hạng tội nhân phải xây khỏi Anti-christ sang Đức Chúa Trời, công bố rằng mọi người nên thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước. Vũ trụ được dựng nên, cả hai đưa ra bằng chứng về sự tồn tại của Đức Chúa Trời và cung ứng các lý do phải thờ phượng Ngài. David đã khẳng định trong Thi 19:1-4 rằng:
Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia, Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó. Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất, Và lời nói chúng nó truyền đến cực địa.
Es 40:21-26 cũng dạy rằng sự sáng tạo tỏ ra sự vinh hiển và oai nghi của Đức Chúa Trời:
Các ngươi không biết sao? Vậy thì các ngươi không nghe sao? Người ta há chưa dạy cho các ngươi từ lúc ban đầu? Các ngươi há chẳng hiểu từ khi dựng nền đất? Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất nầy, các dân cư trên đất như cào cào vậy. Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn, và giương ra như trại để ở. Chính Ngài là Đấng làm tiêu diệt các quan trưởng và làm cho các quan xét trên đất ra hư không. Họ mới trồng, mới gieo, cây mới châm rễ trong đất, hơi Đức Giê-hô-va thổi qua, thì khô héo; nầy, gió lốc đùa hết đi như rơm rác. Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta? Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật nầy? Ay là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm, và quyền năng Ngài rất cao.
Vì Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài ra trong sự sáng tạo của Ngài, loài người không chữa mình được về việc không nhận biết Ngài:
“Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (Ro 1:18-20).
Khi Phao-lô giảng đạo cho người Do-thái, ông luôn luôn khởi sự từ Kinh Thánh Cựu Ước. Song khi giảng cho những kẻ theo tà giáo, thường là hạng người đơn sơ (Cong 14:14-17) hay phức tạp (Cong 17:22-31), ông tuyên bố rằng Đức Chúa Trời hằng sống chơn thật người ta phải thờ lạy vì Ngài là Đấng Tạo Hoá của muôn vật, Việc xác định Tác Nhân Thứ Nhứt là thắc mắc quan trọng nhất về mặt tâm lý trước cả Darwin. Phao-lô đã giới thiệu họ với Ngài. Trong Kh 4:11 hai mươi bốn trưởng lão ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài là Đấng Tạo Hoá: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên” (đối chiếu Sáng thế ký 1, 2).
Lời cảnh cáo thẳng thừng của thiên sứ, ấy là Đấng Tạo Hoá cũng là vị Quan Án; Ngài là Đấng mà người ta phải kính sợ và thờ lạy, thay vì là Sa-tan và Anti-christ. Khi thế giới chìm vào bờ vực của thảm họa cuối cùng, Đức Chúa Trời giàu ơn hiến cho chúng ta một cơ hội khác để ăn năn. Ngài sẽ rút những ai chú ý đến lời cảnh cáo tránh khỏi ngọn lửa phán xét (đối chiếu Giu-đe 23), rồi chuyển họ ra khỏi Vương quốc tối tăm của Satan vào ngay trong vương quốc chói lọi của Con Ngài (Co 1:13).
THIÊN SỨ THỨ HAI: LOAN BÁO SỰ PHÁN XÉT
“Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó” (14:8)
Giăng thấy một thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau thiên sứ thứ nhứt. Không giống như thiên sứ thứ nhứt, vì thiên sứ này không rao truyền các tin tức tốt lành của đạo Tin lành, mà thay vì thế Ngài rao báo tin xấu nói tới sự phán xét. Buồn thay, điều đó ám chỉ rằng sứ điệp của thiên sứ thứ nhứt đã bị bác bỏ. Gần như là thiên sứ thứ hai xen vào thiên sứ thứ nhứt là vì chẳng có ai đáp ứng. Sứ điệp vắn tắt, trực tiếp của thiên sứ thứ hai là: “Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi”. Sự lặp đi lặp lại nhấn mạnh tính cách sau cùng, chắc chắn, và toàn diện sự phán xét của Ba-by-lôn. Sự sụp đổ của Ba-by-lôn trong tương lai chắc chắn đến nỗi có thể thốt ra điều đó giống như thể sự việc đã xảy ra rồi vậy. Lời rao truyền của thiên sứ sẽ đến như là một cú sốc cho thế giới vô tín kia. Rằng Đế chế mạnh nhất của Anti-christ, mạnh nhất trong lịch sử loài người, sẽ bị huỷ diệt không thể tưởng tượng được cho những kẻ chạy theo hắn (đối chiếu 13:4). Có thể là thành phố Ba-by-lôn đã được phục hồi sẽ là thành phố thủ phủ của Anti-christ. Song Ba-by-lôn trong phân đoạn này không những đề cập đến thành phố, mà còn đề cập đến đế quốc tôn giáo, kinh tế, chính trị trên toàn thế giới của Anti-christ.
Ba-by-lôn từ khi ra đời đã làm tiêu biểu cho điều ác và loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Nim-rốt đã thành lập thành phố nầy (Sa 10:9), một vị vua kiêu ngạo, đầy quyền lực, chối bỏ Đức Chúa Trời. Ba-bên (Ba-by-lôn) là bối cảnh của hệ thống có tổ chức đầu tiên của tôn giáo giả chuyên thờ lạy hình tượng (Sa 11:1-4). Tháp Ba-bên, biểu hiện của tôn giáo giả đó, là một đền thờ hình khối tam giác; một cấu trúc đồ sộ được thiết kế để tạo điều kiện cho việc thờ lạy hình tượng. Đức Chúa Trời xét đoán sự thờ lạy hình tượng bội bạc và loạn nghịch của dân sự bằng cách chối bỏ ngôn ngữ của họ và tan rải họ trên toàn cầu (Sa 11:5-9). Do đó các hạt giống của sự thờ lạy hình tượng và tôn giáo giả mạo lây lan khắp thế giới từ Ba-by-lôn, bắt nguồn từ bất cứ đâu mà những kẻ loạn nghịch kiêu ngạo nầy và dòng dõi của họ họ đến định cư.
Giống như nhân loại hợp lại trong tôn giáo giả thờ lạy hình tượng ở tại Ba-bên, cũng một thể ấy họ sẽ được hợp lại một lần nữa trong kỳ tận thế dưới sự bảo vệ của Ba-by-lôn sau cùng. Vì vậy, lịch sử sẽ xoay vòng lại. Ba-by-lôn sau cùng, được nhân cách hoá là một đại dâm phụ (đối chiếu 17:1-5), được mô tả là kẻ đã cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó. Thế giới sẽ bị mê hoặc, bị lừa dối, và bị quyến rũ bởi tôn giáo giả Ba-by-lôn do Anti-christ đứng đầu. Thumos (mê hoặc) mô tả các thứ dục vọng và ham muốn thật mạnh mẽ. Như một kết quả sự mê hoặc của họ, hạng tội nhân sẽ tham gia vào một cuộc nổi loạn, thờ lạy hình tượng, và thù hằn đối với Đức Chúa Trời. Trong khi tội lỗi về tình dục sẽ lan tràn, tình trạng phi đạo đức được nói tới ở đây là sự tà dâm thuộc linh trong tôn giáo giả của Anti-christ; nó phác hoạ ra thái độ bất trung đối với Đức Chúa Trời. Sau khi ngửi hít rượu của đại dâm phụ chuyên quyến rũ, các nước trên thế giới sẽ tiếp tục cuộc đào tẩu thuộc linh của họ xa khỏi Đức Chúa Trời và sẽ kết thúc trong việc uống “rượu thạnh nộ của Đức Chúa Trời” (câu 10). Như vị thiên sứ thứ ba tỏ ra, điều này sẽ minh chứng cho tai vạ. Sự phán xét này sẽ được trình bày chi tiết trong các cuộc bàn bạc ở 16:17-19 và các chương 17 và 18.
THIÊN SỨ THỨ BA: HỨA HẸN SỰ RỦA SÃ
“Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay, thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ” (14:9-11)
Ba thiên sứ xuất hiện trong một trình tự logic, nếu không phải theo trình tự thời gian. Sự chối bỏ Tin lành mà thiên sứ thứ nhất rao giảng kết quả trong việc loan báo sự phán xét bởi thiên sứ thứ hai, điều này sẽ được tỏ ra qua sự rủa sã được mô tả bởi thiên sứ thứ ba. Vị thiên sứ thứ ba sẽ đưa ra lời cảnh báo của Ngài với một tiếng lớn, hầu cho mọi người đều nghe thấy và hiểu rõ sứ điệp của Ngài. Đức Chúa Trời, là thánh khiết và công bình một cách trọn vẹn, Ngài xét đoán mọi người vì họ chối bỏ điều họ biết là đúng. Đấy là lý do tại sao mọi người bị kết án đi địa ngục sẽ không thể chữa mình được (Ro 1:20; 2:1).
Cảnh báo nguy hiểm của thiên sứ thứ ba được gửi đến cho bất cứ ai thờ phượng cùng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay. Như đã lưu ý ở chương 5 của tập sách này, mọi người sẽ bị buộc, ở dưới đau đớn của sự chết, phải thờ phượng con thú và tượng của nó. Là một dấu hiệu chỉ ra lòng trung thành với Anti-christ và để sinh hoạt trong nền kinh tế cấp thế giới của hắn, ai nấy sẽ bị buộc phải nhận một con dấu ghi trên trán hay trên tay. Dường như những kẻ bị dối gạt chạy theo Anti-christ, họ nhận lãnh con dấu đó cho thấy rằng họ đang xây lưng lại với phía chiến thắng. Song thiên sứ cảnh cáo rằng một số phận khủng khiếp đang chờ đón những kẻ nào, bất chấp mọi sự phán xét và cảnh báo của Đức Chúa Trời, cứ khăng khăng trong sự thờ lạy Anti-christ. Một lần nữa, Đức Chúa Trời giàu ơn kêu gọi hạng tội nhân phải ăn năn trong giờ cuối cùng.
Những ai uống rượu của đại dâm phụ Ba-by-lôn cũng sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài. Uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời là kinh nghiệm cơn thạnh nộ của Ngài (đối chiếu Giop 21:20; Thi 75:8; Es 51:17, 22; Gie 25:15). Sự giận dữ tràn đầy trong cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, lâu nay bị kềm chế, sẽ được thả ra. Sự thạnh nộ đó không phải là một sự bùng nổ bốc đồng của cảm xúc thiêng liêng nhắm vào người ta theo cách kỳ quặc đâu. Đó là đáp ứng đã an định, cố ý, không thương xót và vô ơn của Đức Chúa Trời công bình nghịch cùng hết thảy hạng tội nhân. Giăng mô tả thực tại đáng sợ đó bằng cách lưu ý rằng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ không pha rót trong chén thạnh nộ Ngài. Không pha với đầy đủ sức mạnh (sát nghĩa là: “pha không pha”) đề cập đến cách làm xưa kia khi dùng nước pha loãng rượu. Rượu rót đầy chén thạnh nộ Đức Chúa Trời, tuy nhiên, là thứ rượu mạnh, không pha. Cơn thạnh nộ lúc tận thế của Đức Chúa Trời sẽ là sự báo thù, không pha với chút xíu thương xót nào cả.
Số phận khủng khiếp đang chờ đón người nào uống rượu thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ chịu đau đớn bởi lửa và diêm. Động từ được dịch là chịu đau đớn nói đến sự đau đớn không chịu nổi cứ giáng ra không dứt. Hình thức danh từ của động từ đó được sử dụng trong Lu 16:23 để mô tả nỗi đau khổ của người giàu trong Âm phủ. Những kẻ mà Đức Chúa Trời bắt buộc phải uống từ chén thạnh nộ của Ngài sẽ không làm giảm đi hay lột bỏ được nỗi đau khổ của họ; họ sẽ chẳng hưởng được một phút nghỉ ngơi xuyên suốt cõi đời đời. Lửa và diêm thường được kết hợp trong Kinh thánh với sự phán xét thiêng liêng. Đức Chúa Trời đã sử dụng chúng để tiêu diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 19:24-25; Lu 17:29). Trong Thi 11:6 Đa-vít viết: “Ngài sẽ giáng xối trên kẻ ác những bẫy, lửa và diêm; Một ngọn gió phỏng sẽ là phần của chúng nó“. Địa ngục, chỗ nghỉ sau cùng của người chưa được tái sanh, được mô tả là “hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng” (19:20; đối chiếu 20:10; 21:8).
Kẻ chưa được tái sanh sẽ bị hành hại ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con sẽ thêm phần xấu hổ và bối rối cho nỗi khổ của họ. “Chịu khổ trong sự hiện diện của các cơ binh trên trời không phải để giảm bớt tính quyết liệt của sự phán xét, nhưng để làm cho nó khổ sở hơn. Cơ Đốc nhân đã mang nỗi nhục nhã của sự châm biếm và phản đối của dân chúng; không bao lâu nữa thì những kẻ đối kháng của họ sẽ phải chịu khổ trước khi có một sự nhóm lại trang trọng” (Robert H. Mounce, The Book of Revelation, The New International Commentary on the New Testament [Grand Rapids: Eerdmans, 1977], 276). Hạng tội nhân không ăn năn sẽ bị trục xuất ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời (đối chiếu 21:27; 22:15; Mat 7:23; 25:41; IITe 1:9); họ sẽ bị trục xuất khỏi mối giao thông yêu thương với Ngài, là mối tương giao mà những người tin Chúa đang vui hưởng. Tuy nhiên, họ sẽ không xa khỏi sự hiện diện của Ngài theo ý nghĩa sự tễ trị và sự toàn tri của Ngài — ngay cả trong địa ngục. Vua Đa-vít đã viết: “Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó” (Thi thiên 139:7-8). Những kẻ trong địa ngục sẽ chịu hình phạt đời đời nơi tay của Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng có khả năng “làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục“ (Mat 10:28).
Vị thiên sứ thứ ba kết thúc sứ điệp của Ngài với một ý nghĩ cuối cùng về sự trừng phạt những kẻ thờ lạy con thú, Ngài loan báo rằng khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời … cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ. Vị thiên sứ này sẽ mạnh mẽ không đồng ý với những ai chối bỏ sự đời đời của địa ngục. Phần mô tả của Ngài về địa ngục là chỗ khói của sự đau đớn của kẻ ác cứ bay lên đời đời (đối chiếu 20:10) là phù hợp với phần còn lại của Kinh thánh. Êsai (Es 66:24), Đa-ni-ên (Da 12:2), Giăng Báp tít (Mat 3:12; Lu 3:17), và sứ đồ Phao-lô (IITe 1:9) cũng khẳng định rằng địa ngục là đời đời. Nhưng không có ai dạy lẽ thật hiển nhiên đó rõ ràng hơn Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài phán địa ngục là nơi có “lửa đời đời” (Mat 18:8; 25:41), có “lửa chẳng hề tắt” (Mac 9:43, 48). Và trong Mat 25:46, Chúa Jêsus đã dạy rõ ràng rằng nỗi khổ của kẻ bị hư mất trong địa ngục sẽ kéo dài thật lâu như tình trạng phước hạnh của người được cứu chuộc trong thiên đàng. Mặc dù mọi cảm xúc của con người có thể bị chao đảo nơi lẽ đạo nói tới sự trừng phạt đời đời, nhưng chính cả hai chỉ ra sự dạy rõ ràng của Kinh Thánh và bị đòi hỏi bởi sự công bình và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Vì vậy, ba vị thiên sứ này đang phát ra lời kêu gọi phải ăn năn sau cùng của Đức Chúa Trời trước khi những sự phán xét cuối cùng giáng xuống và Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm. Nhưng những lời cảnh báo giàu ơn của Đức Chúa Trời sẽ không được hầu hết mọi người trong thế giới tội lỗi chú ý đến. Có lẽ chẳng có một minh họa nào rõ ràng trong Kinh thánh về sự thật đáng buồn vì “người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa“ (Gi 3:19).