Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

11 – Bảy Tai Nạn Sau Cùng (Kh 16:1-21)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Bấy giờ, tôi nghe một tiếng lớn từ trong đền thờ ra, phán với bảy vị thiên sứ rằng: Hãy đi, trút bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất. Vị thiên sứ thứ nhất đi trút bát mình xuống đất, thì trở nên ghẻ chốc dữ và đau trên những người có dấu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó. Vị thiên sứ thứ hai, trút bát mình xuống biển, thì biển biến ra huyết, như huyết người chết; phàm sanh vật ở trong biển đều chết hết. Vì thiên sứ thứ ba trút bát mình xuống các sông cùng các suối nước, thì nước biến ra huyết. Tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng: Hỡi Đấng Hiện Có, Đã Có, tức là Đấng Thánh, Ngài là công bình, vì Ngài đã phán xét thể nầy; bởi vì chúng nó đã làm đổ huyết của các thánh đồ cùng của các đấng tiên tri, và Ngài đã cho chúng nó uống huyết: thật là đáng lắm. Tôi lại nghe bàn thờ nói rằng: Phải, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời toàn năng, những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình. Vị thiên sứ thứ tư trút bát mình trên mặt trời, thì mặt trời được quyền lấy lửa làm sém loài người. Loài người bị lửa rất nóng làm sém, chúng nó nói phạm đến danh Đức Chúa Trời là Đấng có quyền trên các tai nạn ấy, và chúng nó cũng không ăn năn để dâng vinh hiển cho Ngài. Vị thiên sứ thứ năm trút bát mình trên ngôi con thú, nước của nó bèn trở nên tối tăm, người ta đều cắn lưỡi vì đau đớn. Chúng nó nói phạm đến Đức Chúa Trời trên trời vì cớ đau đớn và ghẻ chốc mình, và cũng không ăn năn công việc mình. Vị thiên sứ thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơ-phơ-rát; sông liền cạn khô, đặng sửa soạn cho các vua từ Đông phương đến có lối đi được. Tôi thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra, giống như ếch nhái. Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng. Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. Vị thiên sứ thứ bảy trút bát mình trong không khí, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến mà phán rằng: Xong rồi! Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy. Thành phố lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống, và Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài. Mọi đảo đều ẩn trốn, các núi chẳng còn thấy nữa. Những cục mưa đá lớn, nặng bằng một ta-lâng, ở trên trời rớt xuống trên loài người; loài người bèn nói phạm đến Đức Chúa Trời bởi cớ tai nạn mưa đá ấy, vì là một tai nạn gớm ghê. (16:1-21)

Kinh Thánh cung ứng lẽ thật duy nhứt nói tới ngọn hải đăng sáng láng và hy vọng trong chỗ tối tăm và tuyệt vọng của thế giới. Trong các trang Kinh Thánh là lời lẽ yên ủi, khích lệ, và khẳng định về sự bình an, sự nhân từ, sự vui mừng, và lòng yêu mến ơn cứu rỗi. Những người tin Chúa được bảo đảm khi họ đọc thấy tình yêu thương và các lời hứa của Đức Chúa Trời và về cơ nghiệp đời đời của họ trong vương quốc của Ngài.

Nhưng trong khi Kinh thánh là một quyển sách nói tới hy vọng, Kinh Thánh cũng là một quyển sách nói tới sự phán xét. Bởi vì Đức Chúa Trời yêu mến sự công bình và đức tin, Ngài phải thù ghét tội lỗi và sự vô tín. Ngài không thể yêu mến lẽ thật nếu Ngài không thù ghét những điều dối trá. Ngài không thể yêu mến sự nhơn đức nếu Ngài không thù ghét sự gian ác. Ngài không thể ban thưởng nếu Ngài không sửa phạt. Cựu Ước lặp đi lặp lại những lời cảnh báo về sự phán xét sắp tới, đặc biệt trong những phân đoạn mô tả những sự phán xét sau cùng trong Ngày của Đức Giê-hô-va (thí dụ, Gio 2:28-32; Xa 14:1; Ma 4:1, 5).

Tân Ước cũng tỏ ra sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với hạng tội nhân. Giăng Báp-tít, người tiền khu của Đấng Mê-si, đã rao giảng một sứ điệp đối diện, thậm chí gay gắt nói tới sự phán xét. Ông gọi một số người đến gặp ông để chịu phép báp-têm là loài rắn (Lu 3:7) và đe dọa họ với sự phán xét, ông nói: “Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-tem cho các ngươi ăn năn; song Đấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Đấng sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa. Tay Ngài cầm nia mà dê thật sạch sân lúa mình và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt” (Mat 3:11-12). Giăng 3:36 cảnh cáo: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó”. Sứ đồ Phao-lô nói về “Đức Chúa Trời giáng cơn giận” (Ro 3:5), lưu ý rằng: “bởi những sự ấy cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên các con không vâng phục” (Co 3:6), và đã mô tả thì giờ kinh khiếp “khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài” (IITe 1:7-9). Tác giả thơ Hê-bơ-rơ nói thêm:

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi. Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay! (He 10:26-31)

Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi và sự phán xét sau cùng trong kỳ tận thế đối với hạng tội nhân, xoay quanh các lẽ đạo trong Kinh thánh, nắm lấy chặng trung tâm trong sách Khải huyền. Cơn thạnh nộ ấy, đã được trình bày trước đó trong sách Khải huyền bằng những sự phán xét qua cái ấn và tiếng loa, lên tới cao điểm tàn phá của nó với những lần phán xét bằng cái bát đã được mô tả trong chương này. Những sự phán xét bằng lửa lan nhanh sẽ diễn ra trong một thời gian rất ngắn, đánh dấu giờ cuối cùng Ngày của Đức Giê-hô-va. Chúng là sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên thế giới vô tín trước sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ (15:1). Chúng là sự bày tỏ sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi, sự bất công và sự phạm thượng đang lan tràn trên đất.

Sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ được mô tả trong chương 19 ngay sau bảy lần phán xét này. Các chương 17 và 18 quay trở lại thời gian để mô tả sự huỷ diệt đế chế Ba-by-lôn tôn giáo và chính trị trên toàn thế giới của Anti-christ. (Phần tóm tắt ngắt ngang dòng chảy của Khải huyền ở các chương 12-14). Ngay sau các sự phán xét bằng cái bát, Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm, tiêu diệt các đạo quân của thế gian trong chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn, và thiết lập quyền cai trị bao quát của Ngài trên trái đất. Thực vậy, những sự phán xét bằng cái bát tiên liệu trước chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn. Sự khô cạn của sông Ơ-phơ-rát như là kết quả của cái bát thứ sáu sẽ lót đường cho các lực lượng Đông phương đến với sự hủy diệt của chính họ.

Vì chúng là sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, những sự phán xét bằng cái bát sẽ trầm trọng hơn các lần phán xét trước đó. Mức độ trầm trọng của chúng là bằng chứng mạnh mẽ về cách Đức Chúa Trời cảm nhận về những kẻ khăng khăng cố ý chối bỏ Ngài. Kỷ nguyên đặc biệt này trong lịch sử loài người sẽ là thời điểm thích hợp cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời lên đến đỉnh cao của nó, còn sự loạn nghịch của loài người chống lại Đức Chúa Trời cũng sẽ lên đến cao điểm của nó. Bất chấp nhiều năm tháng phán xét thật khủng khiếp (họ sẽ thừa nhận các sự phán xét là đến từ Đức Chúa Trời — 6:15-17), hạng tội nhân sẽ ngoan cố bám theo tội lỗi của họ và kiên quyết trong cuộc loạn nghịch của họ (9:21). Sự giảng đạo Tin lành thật mạnh mẽ của 144.000 người, hai người làm chứng, vô số các tín đồ khác, và một thiên sứ từ trời cũng không đưa họ đến với sự năn năn (các câu 9, 11). Thay vì thế, sự loạn nghịch, sự thách thức và sự chối bỏ của họ đối với Đức Chúa Trời sẽ tăng lên cho đến khi có những sự phán xét sau cùng giáng xuống. Sự loạn nghịch khắp thế giới nhân loại tội lỗi sẽ mang lại các sự phán xét trên toàn cầu của Đức Chúa Trời thánh khiết.

“Bảy tai nạn sau cùng” (15:1), đã có tiên vị trong hai loạt tai nạn khác trong Kinh Thánh: các trận dịch mà Đức Chúa Trời giáng trên xứ Ai-cập (Xu 7-12) và bảy sự phán xét qua tiếng loa (các chương 8-11). Có những điểm tương đồng và khác biệt giữa ba loạt tai nạn. Các tai nạn thứ nhứt thì bị khoanh vùng, chỉ ảnh hưởng đến xứ Ai-cập. Loạt tai nạn thứ hai phá huỷ một phần ba thế giới (8:7-12; 9:15, 18). Các tai nạn sau cùng sẽ tác động đến toàn bộ thế giới. Cả ba loạt tai nạn bao gồm mưa đá, bóng tối tăm, hoá nước thành huyết, và một cuộc xâm lược từ Đông phương, trong trường hợp bởi côn trùng, ma quỉ, hoặc con người. Bảy cái bát phán xét sẽ tập trung lại mọi nỗi kinh hoàng và khủng khiếp từ hết thảy các lần phán xét trước đó của Đức Chúa Trời. Chúng sẽ tràn ngập khắp thế gian hoàn toàn, đưa nó đến bờ vực tàn phá hoàn toàn.

Khi sự mặc thị các lần phán xét qua cái bát sắp sửa mở ra, Giăng nghe một tiếng lớn từ trong bàn thờ mà ra. Tác động gây giật mình của tiếng lớn được nghe thấy khoảng 23 lần trong sách Khải huyền. Tiếng lớn này chắc chắn là tiếng của Đức Chúa Trời, một khi chẳng có ai khác ở trong đền thờ (15:8). Tiếng lớn phán xét của Ngài đã gợi nhớ lại Es 66:6: “Có tiếng om sòm nổi lên từ trong thành; có tiếng la lối vang ra từ đền thờ; là tiếng của Đức Giê-hô-va, Ngài báo trả cho kẻ thù nghịch mình”. Megal¯e (loud) xuất hiện khoảng nửa tá lần trong chương nầy (được dịch là “lớn”), một lần nữa nhấn mạnh độ lớn của những lần phán xét đã được ghi lại ở đây. Tiếng lớn của Ngài đã được nghe thấy một lần nữa sau khi cái bát thứ bảy được đổ ra (câu 17).

Bảy vị thiên sứ đã được giới thiệu ở 15:1, 6-8. Ở đó, họ đã được ban cho bảy cái bát chứa những lần phán xét sau cùng. Ở đây, Đức Chúa Trời truyền cho hết thảy bảy vị ấy: “Hãy đi, trút bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất”. Cả thảy đều là những sự phán xét, bảy cái bát sẽ là các hành động siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Câu Kinh Thánh nầy không chấp nhận các nỗ lực của một số nhà giải kinh toan cung ứng cho chúng một sự lý giải theo tự nhiên, thật đặc biệt. Chúng sẽ đụng chạm nhanh chóng với bất kỳ giải thích nào khác hơn chúng đến từ Đức Chúa Trời. Thực vậy, chỉ có một khúc ngắt ngắn mà thôi, chỉ lâu đủ để cho một trong các thiên sứ khẳng định rằng những lần phán xét bằng cái bát đều là công bình và ngay thẳng (các câu 5-7).

Một số trước giả đã nhìn thấy các lần phán xét qua cái bát nầy đều là phần tóm tắt lại những lần phán xét bằng cái ấn và tiếng loa. Có những điểm tương tự, nhưng cũng có nhiều điểm dị biệt, đặc biệt ở cấp độ của sự tàn phá. Cái bát thứ tư chẳng giống gì với các lần phán xét trước đây. Không một sự khổ ải riêng tư nào đi kèm với bốn tiếng loa đầu tiên, nhưng những cái bát đem lại hình khổ ngay từ lúc khởi sự. Những cái bát đều là phổ thông, còn ghê gớm hơn các lần phán xét trước đây, và được gọi là sự phán xét “sau cùng” (15:1), tỏ ra họ không quay lại đúng lúc nhắc lại các tai nạn đã có từ trước.

Cái Bát Thứ Nhứt

Vị thiên sứ thứ nhất đi trút bát mình xuống đất, thì trở nên ghẻ chốc dữ và đau trên những người có dấu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó. (16:2)

Đáp lại tức thì mạng lịnh của Đức Chúa Trời, vị thiên sứ thứ nhứt đi trút bát mình xuống đất. Như đã lưu ý trong phần bàn luận 15:7 ở chương trước, những cái bát thực sự là loại đĩa nông. Nội dung của chúng không được trút ra từ từ đâu, mà trút hết cùng một lúc. Cái bát thứ nhứt được trút ra hết kết quả trong ghẻ chốc dữ và đau giáng trên người ta. Dữ và đau dịch từ hai chữ phổ thông Hy-lạp nói tới điều ác (kakos và pon¯eros), chúng nhấn mạnh rằng ghẻ chốc sẽ thối rửa, đau đớn, và không thể chữa được. Ghẻ chốc dịch chữ helkos, tiếng Hy-lạp tương đương với Anh ngữ ulcer (loét). Nó mô tả loại vết loét, lầy, ghẻ lầy, tỉ như thứ ghẻ chốc đã tác động vào xứ Ai-cập (Xu 9:9-11; đối chiếu Phu 28:27, 35), Gióp (Giop 2:7), và thứ ghẻ phủ trên người gã ăn mày La-xa-rơ (Lu 16:21). Chúng sẽ mang lại sự đau đớn theo phần xác cho những kẻ đã chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ.

Ghẻ chốc sẽ không tác động lên người tin Chúa, tên của họ “ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (13:8). Chúng chỉ giáng trên những kẻ đã chọn bước theo Anti-christ, đã nhận lấy con dấu của hắn để tỏ ra lòng trung thành của họ (13:16-17), và thờ lạy hình tượng nó (13:12). Trong 14:9-11, một thiên sứ đã mô tả số phận của họ:

“Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay, thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ”.

Phân đoạn đó mô tả sự phán xét đời đời; phần phán xét trong hiện tại mô tả sự phán xét tạm thời. Những kẻ chạy theo Anti-christ sẽ gánh chịu các hậu quả của việc chối bỏ Tin lành và lời cảnh cáo của thiên sứ được đưa ra ở 14:7: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến”. Ghẻ chốc nầy làm sưng tấy, không thể chữa được, tương tự với loại tai nạn mà Xa-cha-ri đã viết ra: “Vả, nầy sẽ là tai vạ mà Đức Giê-hô-va dùng để phạt mọi dân tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem: Ngài sẽ lam cho ai nấy khi chơn đương đứng thì thịt mục nát ra, mắt mục trong vành nó, lưỡi mục trong miệng nó” (14:12).

CÁI BÁT THỨ HAI

Vị thiên sứ thứ hai, trút bát mình xuống biển, thì biển biến ra huyết, như huyết người chết; phàm sanh vật ở trong biển đều chết hết. (16:3)

Một trong những lý do mà các sự phán xét qua cái bát sẽ tàn phá đến nỗi các tác động của chúng cứ chồng chất lên mãi. Trước khi ghẻ chốc của bát thứ nhất có thể chữa lành, vị thiên sứ thứ hai, trút bát mình xuống biển, thì biển biến ra huyết, như huyết người chết; phàm sanh vật ở trong biển đều chết hết. Sự phán xét này tương tự như tai nạn thứ nhứt trong xứ Ai-cập (Xu 7:20-24) và sự phán xét với tiếng loa thứ nhì (8:8-9). Nhưng lần này, các tác động còn ghê gớm và lan rộng hơn; kể từ khi các đại dương bao phủ khoảng 70% bề mặt của trái đất, các tác động của sự phán xét này sẽ lan ra khắp thế giới. Sau khi thiên sứ ném cái bát của mình, biển, vô cùng quan trọng đối với mọi sự sống trên đất, biến ra huyết như huyết người chết. Trước sự kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng của thế gian, các đại dương sẽ không còn xuôi ngược nữa, song sẽ trở nên dày đặc, tối tăm và đông đặc, giống như hồ huyết chảy ra từ những kẻ bị đâm chết.

Các phương tiện siêu nhiên mà Đức Chúa Trời sẽ sử dụng thật chính xác để huỷ diệt các đại dương chưa được tỏ ra, song sẽ giống với các tác động của hiện tượng đã được biết là làn sóng đỏ. Nhà giải kinh John Phillips viết:

Đôi khi, ngoài khơi bờ biển California và những nơi khác, có một hiện tượng xảy được gọi là “làn sóng đỏ”. Các làn sóng đỏ nầy làm chết hàng triệu con cá và đầu độc những ai ăn thịt sò bị ô nhiễm. Vào năm 1949, một trong những làn sóng đỏ nầy đã ụp vào bờ biển Florida. Trước tiên, nước chuyển sang màu vàng, nhưng vào giữa mùa hè, nó dày và nhớt với vô số các tá dược, loại sinh vật một tế bào. Những hốc hẻm dài sáu mươi dặm đã làm xói mòn bãi biển. Nhiều sinh vật biển đã bị tiêu diệt, ngay cả loại mồi được ngư dân sử dụng cũng đã chết trên các móc câu. Cuối cùng, làn sóng đỏ giảm đi, chỉ để xuất hiện lại vào năm sau. Ăn cá bị ô nhiễm do làn sóng ấy tạo ra các triệu chứng nghiêm trọng gây ra bởi một chất độc thần kinh mạnh, một vài gam trong độc tố đó được phân phối ra, có thể tiêu diệt dễ dàng mọi người trên thế gian. Một sự bùng nổ không kiểm soát hết các chất độc tố độc hại sẽ giết hết các loài cá trên biển (Exploring Revelation, rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N.J.: Loizeaux, 1991], 190-91)

Mùi hôi thối từ xác chết, các cơ thể đang hư hỏng của mọi sanh vật trong biển (cái chết từng phần đã xảy ra lúc có tiếng loa thứ hai) sẽ không thể tưởng tượng nổi. Henry Morris viết:

Trong đại dương độc hại này, không có gì có thể tồn tại, và không bao lâu hàng tỉ loài cá và động vật biển có vú và các loài bò sát biển và vô số loài động vật không xương sống ở biển sẽ bị hư mất, do đó sẽ tiếp tục đầu độc các đại dương và làm ô nhiễm các bờ biển trên thế giới. Các đại dương đã hoàn tất hiệu quả chức năng dài lâu của chúng trong nền kinh tế vật lý của địa cầu, rồi sẽ chết đi. Khi Đức Chúa Trời đã tạo ra từng linh hồn sống ở trong nước (Sáng thế ký 1:21), vậy bây giờ mọi linh hồn sống đã ngã chết trên biển. (The Revelation Record [Wheaton, Ill.: Tyndale, 1983], 298).

Sự biến đổi các đại dương trên thế gian thành những cái ao đầy xác chết hôi thối sẽ là bằng chứng hiển nhiên cho thấy sự gian ác của con người, và ngược lại trong ngày Đức Chúa Trời nguyên đã ban sự sống cho tất cả sinh vật biển (Sáng thế ký 1:21).

CÁI BÁT THỨ BA

“Vì thiên sứ thứ ba trút bát mình xuống các sông cùng các suối nước, thì nước biến ra huyết. Tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng: Hỡi Đấng Hiện Có, Đã Có, tức là Đấng Thánh, Ngài là công bình, vì Ngài đã phán xét thể nầy; bởi vì chúng nó đã làm đổ huyết của các thánh đồ cùng của các đấng tiên tri, và Ngài đã cho chúng nó uống huyết: thật là đáng lắm. Tôi lại nghe bàn thờ nói rằng: Phải, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời toàn năng, những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình” (16:4-7)

Khi vị thiên sứ thứ ba trút bát mình xuống, cũng chính là sự phán xét gây kinh hoàng đã tác động các đại dương đã giáng trên các sông cùng các suối nước . . . chúng cũng biến ra huyết. Những gì đã xảy ra cho sông Ni-lơ trong xứ Ai-cập (Xu 7:20-24; Thi 78:43-44) giờ đây đang cung cấp nước sạch cho toàn bộ thế giới. Sự ô nhiễm các đại dương trên thế giới sẽ trở thành cơn ác mộng tồi tệ nhất của môi trường. Nhưng sự huỷ diệt nguồn cấp nước sạch còn lại của thế giới sẽ là cú đấm thê thảm, gây choáng váng cho nhân loại sa ngã.

Vào thời điểm bát thứ ba được trút ra, nước sạch sẽ thiếu hụt nghiêm trọng. Sự phán xét của tiếng loa thứ ba (8:10-11) sẽ kết quả trong việc đầu độc một phần ba nước sạch trên thế gian. Ngoài ra, hai người làm chứng “có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri [ba năm rưỡi trong Kỳ Đại Nạn]; hai người lại có quyền biến nước thành huyết” (11:6). Việc cầm lại tạm thời bốn hướng gió của đất (7:1) cũng sẽ gây ra hạn hán. Không có gió để di chuyển các đám mây và các hệ thống thời tiết, chu trình thuỷ văn sẽ bị gián đoạn và sẽ chẳng có mưa rơi xuống đất.

Sự tiêu diệt những gì còn sót lại trong nước sạch trên đất sẽ tạo ra những khó khăn và đau khổ không tưởng được. Sẽ không có nước để uống; không có nước sạch để rửa ghẻ chốc lầy lụa gây ra bởi sự phán xét qua cái bát thứ nhứt; không có nước để mang lại sự khuây khoả mát mẻ khỏi hơi nóng mà sự phán xét qua cái bát thứ tư sẽ sớm mang lại. Bối cảnh rất là kinh khủng đến nỗi mọi người sẽ lấy làm lạ, làm sao mà một Đức Chúa Trời hay thương xót, và ân điển lại có thể đưa ra một phán xét như thế. Và vì vậy, có một khoảng thời gian ngắn xen giữa việc trút ra những lần phán xét trong khi một thiên sứ đang rao giảng về sự bảo hộ của Đức Chúa Trời.

Thật là thích ứng, đó là thiên sứ của nước, Ngài đang bảo vệ sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời trong tiếng vang vọng bài ca của những kẻ đắc thắng trong 15:3-4. Ngược lại với những lời nguyền và sự phạm thượng của con người (đối chiếu các câu 9, 11) vị thiên sứ tuyên bố: “Hỡi Đấng Hiện Có, Đã Có, (đối chiếu 11:17; 1:4, 8; 4:8), tức là Đấng Thánh, Ngài là công bình, vì Ngài đã phán xét thể nầy”. Sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với hạng tội nhân đều là công bình bởi vì Ngài là Đấng Thánh. Và mặc dù cơn thạnh nộ của Ngài rất kinh khiếp và gây chết chóc, đó là một sự đáp ứng xứng đáng, thích ứng và công bình trước sự chối bỏ Ngài của hạng tội nhân.

Vị thiên sứ tuyên bố rằng những kẻ thù ghét Đấng Christ, từ chối Đức Chúa Trời đang nhận lãnh các sự phán xét này sẽ gánh lấy một gánh nặng phủ lút của tội lỗi. đã chối bỏ sự rao giảng Tin lành rõ ràng, mạnh mẽ và thuyết phục trong suốt Kỳ Đại Nạn. Còn hơn thế nữa, thiên sứ nhắc cho độc giả nhớ rằng chúng nó đã làm đổ huyết của các thánh đồ cùng của các đấng tiên tri.

Họ sẽ bắt bớ không chút thương xót và giết chóc những người tin Chúa xuyên suốt Kỳ Đại Nạn, khởi sự với những người tuận đạo của cái ấn thứ năm (6:9-11). Sau đó, Giăng nhìn thấy “vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là … Tôi thưa rằng: Lạy chúa, chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng: Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con” (7:9, 14), Hai người làm chứng đã tuận đạo (11:7), và các nước giận dữ (11:18) sẽ “say huyết các thánh đồ và huyết những kẻ chết vì Đức Chúa Jêsus” (17:6).

Thật là thích đáng, những người đã làm đổ nhiều huyết vô tội sẽ được cho uống huyết. Trong lời lẽ lạnh lùng của thiên sứ: “thật là đáng lắm”. Đức Chúa Trời là công bình, thánh khiết, Ngài sẽ thực thi việc báo thù cho dân sự Ngài (Ro 12:19; He 10:30). Sau khi cố ý chối bỏ sự hiểu biết lẽ thật (He 10:26), thì không có thứ gì để lại cho thế giới vô tín, duy chỉ nhận lãnh những gì họ đáng được: “nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi” (He 10:27).

Sau đó, sứ đồ Giăng “nghe bàn thờ nói rằng: Phải, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời toàn năng, những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình”. Bàn thờ được nhân cách hoá vang dội những tình cảm của thiên sứ bằng lời lẽ tương tự với 15:3. Có thể là chính bàn thờ mà dưới đó các thánh đồ được nhìn thấy trước đây đang cầu nguyện xin báo thù (6:9-11) giờ đây khẳng định rằng những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình là câu trả lời cho những lời cầu nguyện đó.

Sự phán xét của Đức Chúa Trời là chân thật và công bình là sự giảng dạy thường xuyên của Kinh Thánh. Chúng không giống như những lần phán xét thất thường liên kết với các tà thần giả dối. Trong Sa 18:25 Áp-ra-ham đã hỏi thật hùng biện: “Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?” David viết trong Thi 19:9: “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả”, trong khi ở Thi 119:75 tác giả Thi thiên nói thêm: “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết rằng sự xét đoán của Ngài là công bình”. Phao-lô đã viết về “ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời” (Ro 2:5). Trong 19:1-2 Giăng “nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra”.

CÁI BÁT THỨ TƯ

Vị thiên sứ thứ tư trút bát mình trên mặt trời, thì mặt trời được quyền lấy lửa làm sém loài người. Loài người bị lửa rất nóng làm sém, chúng nó nói phạm đến danh Đức Chúa Trời là Đấng có quyền trên các tai nạn ấy, và chúng nó cũng không ăn năn để dâng vinh hiển cho Ngài. (16:8-9)

Ngược lại với ba thiên sứ đầu tiên, họ đã trút bát của họ xuống đất, vị thiên sứ thứ tư trút bát mình trên mặt trời. Như một kết quả, mặt trời, kể từ ngày thứ tư của sự sáng tạo (Sa 1:14-19) đã ban cho thế gian ánh sáng, sự ấm áp, và năng lượng, trở nên tay sát thủ gây chết chóc. Bất kỳ hơi nóng quá mức hơn kinh nghiệm của con người sẽ làm sém người ta khốc liệt đến nỗi dường như bầu khí quyển đang rực cháy. Người nào sẽ bị sém với lửa rất nóng của mặt trời cũng như “những người có dấu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó” (câu 2).

Sự phán xét nghệt ngã nầy làm nhớ lại Es 24:4-6: “Đất thảm thương và tồi tàn; thế gian lụn bại và tồi tàn; những dân cao nhất trên đất hao mòn đi. Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời. Vậy nên sự rủa sả thiêu nuốt đất, những người ở trên nó mắc tội. Vì cớ đó dân trên đất bị đốt cháy, chỉ còn ít người sót lại”.

Một hậu quả nghiêm trọng khác của hơi nóng dữ dội của mặt trời sẽ là sự tan chảy của băng ở hai đầu cực. Sự dâng lên mực nước của đại dương sẽ làm ngập các khu vực ven biển, làm ngập lụt nhiều dặm nội địa với nước độc hại của các đại dương đang dãy chết. Thiệt hại và mất mát lớn lao về sinh mạng sẽ đi kèm với lũ lụt đó, thêm vào đó là sự đau khổ không thể tả được của hành tinh bị tàn phá. Giao thông bằng đường biển sẽ trở nên bất khả thi.

Người ta có thể nghĩ rằng những thảm hoạ không sánh được trong bốn sự phán xét qua cái bát đầu tiên sẽ khiến người ta ăn năn. Sự phán xét của Đức Chúa Trời được thiết kế để kêu gọi hạng tội nhân ăn năn (Ro 2:4), hoặc, giống như Pha-ra-ôn, làm chai cứng tấm lòng của họ. Thay vì đổ thừa cho tội lỗi của họ, trong một trường hợp gây sốc nhất về tình trạng cứng lòng trong lịch sử, họ đã nói phạm đến danh Đức Chúa Trời, là Đấng mà họ biết phải chịu trách nhiệm trực tiếp về mọi đau khổ của họ. Ngạc nhiên thay, họ nhìn biết rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng có quyền trên các tai nạn ấy đang giáng trên họ. Tuy nhiên, họ sẽ yêu mến tội lỗi của họ rất nhiều, và bị Anti-christ lừa dối, để họ sẽ không ăn năn để dâng vinh hiển cho danh Ngài. Cho đến thời điểm này, chỉ có Anti-christ đã được mô tả là phạm thượng (13:1, 5-6); ở đây thế giới đang vịn lấy bản chất gian ác của hắn. Không ân điển, cũng không có cơn thạnh nộ nào sẽ cảm động tấm lòng gian ác của họ để mà ăn năn (đối chiếu 9:20-21; 16:11). Trong 11:13 trận động đất đã khiến một số người chịu ăn năn, nhưng không phải thế trong loạt phán xét này. Sự cứng lòng mù quáng, phạm thượng thể ấy là khó tin trước bề mặt những lần phán xét tàn diệt mà họ sẽ kinh qua. Nhưng giống như cấp lãnh đạo tà ác của họ, là Anti-christ, họ sẽ tiếp tục thù ghét Đức Chúa Trời và từ chối không chịu ăn năn, để dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời là Quan Án chân thật và công bình đối với tội lỗi (đối chiếu Gios 7:19-25).

CÁI BÁT THỨ NĂM

Vị thiên sứ thứ năm trút bát mình trên ngôi con thú, nước của nó bèn trở nên tối tăm, người ta đều cắn lưỡi vì đau đớn. Chúng nó nói phạm đến Đức Chúa Trời trên trời vì cớ đau đớn và ghẻ chốc mình, và cũng không ăn năn công việc mình. (16:10-11)

Như Ngài đã làm từ lâu trong xứ Ai-cập (Xu 10:21-29), Đức Chúa Trời sẽ làm tăng thêm đau khổ ghê gớm của thế giới tội lỗi bằng cách tắt đi những ngọn đèn. Sau khi vị thiên sứ thứ năm trút bát mình trên ngôi con thú, nước của nó bèn trở nên tối tăm (đối chiếu 9:2; Xu 10:21-23). Các nhà giải kinh bất đồng ở chỗ cái bát này đặc biệt sẽ trút xuống. Có người nghĩ rằng đó sẽ là cái ngai thực sự mà con thú ngồi trên; những người khác nói về thành phố thủ phủ của hắn ở Ba-by-lôn; vẫn có những người khác nói tới toàn bộ vương quốc của hắn. Tốt nhất là xem cái ngai là một tham khảo đến vương quốc của hắn, vì cái bát trút xuống trên cái ngai làm tối tăm toàn bộ vương quốc. Bất chấp về địa điểm chính xác nơi cái bát được trút ra, kết quả: ấy là bóng tối tăm bao phủ lấy toàn bộ địa cầu, đó là vương quốc trên toàn thế giới của Anti-christ. Con thú sẽ trở nên vô dụng trước quyền phép của Đức Chúa Trời như bất cứ ai khác.

Giô-ên mô tả thời điểm phán xét này là “ngày mờ mịt và tối tăm, ngày của mây và sương mù . . . Đoàn đông dường nào, đoàn đông dường nào tại trong trũng đoán định! Vì trong trũng đoán định, ngày Đức Giê-hô-va đã gần. Mặt trời và mặt trăng tối tăm, các ngôi sao thâu sự sáng lại“ (Gio 2:2; 3:14-15). Sô-phô-ni mô tả Ngày của Đức Giê-hô-va như là “ngày tối tăm và mờ mịt, ngày mây và sương mù“ (So 1:15). Chúa Jêsus đã tuyên bố trong Bài Giảng Trên Núi rằng: “Trong những ngày ấy, sau kỳ tai nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu sáng nữa“ (Mac 13:24; đối chiếu Es 13:10; 24:23; Lu 21:25; Cong 2:20).

Tác động chồng chất của ghẻ chốc, các đại dương bị hôi thối, thiếu nước uống, hơi nóng tăng cao, tất cả chìm trong bóng tối dày đặc, sẽ mang lại đau khổ không thế chịu nổi. Tuy nhiên, hạng người gian ác, vô tín của thế gian vẫn cứ từ chối không chịu ăn năn. Giăng ghi nhận rằng họ đã cắn lưỡi (sát nghĩa, là “cứ nhai hoài”) vì cớ đau đớn dữ dội, thế mà với những cái lưỡi thể ấy, họ lại nói phạm đến Đức Chúa Trời ở trên trời (một đề tựa thường thấy trong Cựu Ước nói tới Đức Chúa Trời; đối chiếu 11:13; Sa 24:3; Exo 5:11-12; Ne1:4-5; Thi 136:26; Da 2:18- 19, 37, 44; Gion 1:9) vì cớ đau đớn và ghẻ chốc mình (có lẽ liên quan đến việc thiếu ánh sáng mặt trời, cũng như tác động của các tai nạn trước đó) và cũng không ăn năn công việc mình — hành động thách thức sau cùng bởi những kẻ bị chìm đắm vô vọng trong hệ thống thuộc Sa-tan của Anti-christ. Đây là lần tham khảo cuối cùng nhắc đến thái độ không bằng lòng ăn năn của họ. Năm tai nạn đầu tiên là lời kêu gọi ăn năn sau cùng của Đức Chúa Trời. Hạng tội nhân đã bất chấp lời kêu gọi ấy, và giờ đây đã được xác định bằng sự vô tín của họ. Hai cái bát cuối cùng, có chứa sự phán xét nghiệt ngã nhất trong các sự phán xét, sẽ được trút ra trên hạng người cứng lòng, không xiêu lòng, không chịu ăn năn.

CÁI BÁT THỨ SÁU

Vị thiên sứ thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơ-phơ-rát; sông liền cạn khô, đặng sửa soạn cho các vua từ Đông phương đến có lối đi được. Tôi thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra, giống như ếch nhái. Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng. Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. (16:12-16)

Không giống như năm cái bát trước, bát thứ sáu, giống như bát thứ năm (6:9-11), không có cuộc tấn công cụ thể nào vào con người, song chuẩn bị cho những gì sắp xảy tới. Khi đến lượt mình, vị thiên sứ thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơ-phơ-rát. Ơ-phơ-rát xuất hiện trước đó trong sách Khải huyền liên quan đến sự phán xét bằng tiếng loa thứ sáu (9:14), khi 200 triệu ma quỉ bị trói gần sông ấy đã được thả ra. Là con sông dài nhất và quan trọng nhất ở vùng Trung Đông, sông Ơ-phơ-rát xứng đáng được gọi là sông cái (đối chiếu 9:14; Sa 15:18; Phu 1:7; Gios 1:4). Nguồn của nó nằm trong sườn đầy tuyết và đỉnh băng của Núi A-ra-rát (ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), từ đó nó chảy khoảng một ngàn tám trăm dặm trước khi đổ vào Vịnh Ba Tư. Trong thời cổ đại, Vườn Ê-đen nằm trong vùng lân cận sông Ơ-phơ-rát (Sa 2:10-14). Sông Ơ-phơ-rát cũng tạo thành ranh giới phía đông của mảnh đất mà Đức Chúa Trời ban cho dân Israel (Sa 15:18; Phu 1:7; 11:24; Gios 1:4). Cùng với sông Tigris gần đó, sông Ơ-phơ-rát vẫn là huyết mạch của khu vực màu mỡ nầy.

Vào thời điểm cái bát thứ sáu được trút xuống, sông Ơ-phơ-rát sẽ rất khác hơn so với hôm nay hoặc đã từng có. Hơi nóng từ mặt trời kết hợp với cái bát thứ tư sẽ làm tan chảy tuyết và đỉnh băng trên Núi A-ra-rát. Việc đó sẽ làm tăng đáng kể lượng nước ở sông Ơ-phơ-rát, gây ra thiệt hại lớn lao và lũ lụt dọc theo đường chảy nó. Các cây cầu bắc qua sông chắc chắn sẽ bị tiêu diệt hết. Như vậy, lý do cho cái bát thứ sáu trở nên rõ ràng. Khi vị thiên sứ quăng cái bát của mình xuống, nước sông Ơ-phơ-rát liền cạn khô, đặng sửa soạn cho các vua Đông phương đến có lối đi được. Các đạo quân Đông phương sẽ cần băng qua sông Ơ-phơ-rát để đến địa điểm sau cùng của họ — Ạt-ma-ghê-đôn trong xứ Palestine.

Sự Đức Chúa Trời làm cạn khô sông Ơ-phơ-rát không phải là một hành động tử tế đối với các vua Đông phương đâu, mà là một hành động phán xét. Họ và quân đội của họ sẽ được đưa vào một cái bẫy chết người. Sự bốc hơi của sông Ơ-phơ-rát sẽ dẫn họ tới sự diệt vong của họ, giống như sự Biển Đỏ chia ra làm hai dẫn đến sự huỷ diệt quân đội Ai-cập vậy. Tại sao họ phải thực hiện cuộc hành trình đầy khó khăn đó, nó sẽ đưa họ đến chỗ diệt vong của họ, qua cơn hạn hán, nóng bức, tối tăm, và ghẻ chốc đau đớn của họ, đã được trình bày ở các câu 13-14.

Bất kể động cơ về mặt con người của lực lượng xâm lăng này là gì đi nữa, cho dù cuộc nổi dậy về chính trị hay chủ nghĩa bài Do-thái, lý do thực sự ở đằng sau việc ra quân của họ hướng về xứ Palestine sớm trở nên rõ ràng hơn. Trong một sự mặc thị kỳ dị, giống như một thứ gì đó từ bộ phim kinh dị, Giăng đã nhìn thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra (đối chiếu Mat 10:1; Mac 1:23; Cong 5:16) giống như ếch nhái. Từ miệng (biểu tượng cho nguồn ảnh hưởng) của mỗi thành viên trong ba ngôi bất khiết (con rồng [Satan], con thú [Anti-christ], và tiên tri giả) mà ra ba tà thần, giống như ếch nhái vậy. Ếch nhái là thứ động vật ô uế (Le 11:10, 41), nhưng đây chẳng phải là ếch nhái như trong dịch lệ ở Ai-cập đâu (Xu 8:5; Thi 78:45). Giăng xác định hiện tượng ếch nhái là tà thần. Minh hoạ sinh động, ghê tởm, và đội lốt như thế nầy chỉ ra sự ô uế máu lạnh của bầy quỉ nầy, chúng quyến dụ các vua từ Đông phương bước vào thực hiện cuộc hành trình gian khổ đến với số phận của họ tại Ạt-ma-ghê-đôn dưới ảnh hưởng lừa đảo của chúng (đối chiếu IVua 22:19-22).

Là một phần lừa đảo của chúng, ma quỉ chắc chắn sẽ thi thố những dấu lạ siêu nhiên. Trước đó, trong Kỳ Đại Nạn, tiên tri giả đã “làm những phép lạ lớn”, thậm chí “đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta” (13:13). Như một kết quả, hắn có quyền lừa dối “dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú” (13:14). Thậm chí nó có có khả năng “khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại” (13:14). Các tà thần ô uế này sẽ làm ra nhiều dấu kỳ dối giả để lừa gạt các vua Đông phương.

Lũ ma quỉ nầy sẽ có quyền dối gạt thể ấy chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Chúa Jêsus đã mô tả rằng “Những christ giả, tiên tri giả sẽ nổi lên, làm những dấu lạ phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng dỗ dành chính những người được chọn” (Mac 13:22; đối chiếu IITe 2:9-10). Chắc chắn bầy quỉ nầy sẽ có quyền phép dối gạt thậm chí lớn lao nữa. Vì vậy, chúng sẽ có ít khó khăn trong việc lừa dối các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh. Sứ mệnh của ma quỉ là nhóm lại không những các thế lực Đông phương, mà còn các bậc cầm quyền và quân đội của thế gian để hiệp thành các lực lượng đến từ phương Đông về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng. Với sự kiêu ngạo, kiêu căng, và dại dột, các nước thế gian bị ma quỉ dối gạt sẽ hội tụ lại tại xứ Palestine để đánh trận với chính mình Đức Chúa Trời tại Ạt-ma-ghê-đôn. Theo 17:12-14, có đến 10 vị vua dính dáng vào.

Giô-ên nói tiên tri về thời kỳ nầy trong Gio 3:2, 9 -13:

“thì ta sẽ nhóm hết thảy các nước lại, và đem chúng nó xuống trong trũng Giô-sa-phát. Tại đó, ta sẽ phán xét chúng nó vì cớ dân ta, và Y-sơ-ra-ên là sản nghiệp ta, mà chúng nó đã làm cho tan tác giữa các dân tộc; và chúng nó đã chia đất ta ra” …

Hãy rao điều nầy ra giữa các nước: Khá sắm sửa sự đánh giặc, giục lòng những người mạnh bạo dấy lên. Hết thảy những lính chiến khá sấn tới, và xông vào trận! Hãy lấy lưỡi cày rèn gươm, lấy liềm rèn giáo. Kẻ yếu khá nói rằng: Ta là mạnh! Các ngươi hết thảy, là những nước xung quanh, hãy vội vàng đến, và hãy nhóm lại. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin khiến những người mạnh mẽ của Ngài xuống đó! Các nước khá dấy lên, khá lên trong trũng Giô-sa-phát, vì ở đó là nơi ta sẽ ngồi đặng phán xét hết thảy các dân tộc xung quanh. Hãy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã chín. Hãy đến, hãy đạp, vì bàn ép đã đầy; các thùng đã tràn, vì tội ác chúng nó là lớn.

Xa-cha-ri cũng viết về thời kỳ đó:

Vậy ta sẽ nhóm mọi nước lại tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem, và thành sẽ bị lấy, nhà sẽ bị cướp, đờn bà sẽ bị hãm, phân nửa thành sẽ đi làm phu tù; nhưng dân còn lại sẽ không bị trừ bỏ khỏi thành. Bấy giờ Đức Giê-hô-va sẽ ra đánh cùng các nước đó, như Ngài đã đánh trong ngày chiến trận. (Xa 14:2-3)

Trong tình huống tương tự, tác giả Thi thiên đã viết:

Nhân sao các ngoại bang náo loạn? Và những dân tộc toan mưu chước hư không? Các vua thế gian nổi dậy, Các quan trưởng bàn nghị cùng nhau nghịch Đức Giê-hô-va, và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài, mà rằng: Chúng ta hãy bẻ lòi tói của hai Người, và quăng xa ta xiềng xích của họ. (Thi 2:1-3)

Chiến tranh qua thật nhanh: “Chúng chiến tranh cùng Chiên Con, Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua” (17:14). Thực vậy, đây sẽ chẳng phải là một cuộc chiến, mà đó sẽ là một cuộc tàn sát, như 19:11-21 phác hoạ ra rõ ràng.

Ở giữa mọi kinh khiếp của sự phán xét, sự lừa dối, và chiến tranh có một lời nói khích lệ trong dấu ngoặc đơn khích lệ các tín hữu: “Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình!” Câu nói giàu ơn này từ trời sẽ đến trước sự trút ra bát thứ bảy và bảo đảm với các tín hữu rằng họ sẽ không bị bỏ quên đâu. Câu nói đó tương tứng với sứ điệp xinh đẹp trong sách Ma-la-chi, ở đây vị tiên tri đề cập đến lời lẽ yên ủi từ Đức Chúa Trời đến cùng người công bình, là những kẻ lo sợ khi đến gần Ngày kinh khiếp của Đức Giê-hô-va: “Bấy giờ những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau, thì Đức Giê-hô-va để ý mà nghe; và một sách để ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va và tưởng đến danh Ngài. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình“ (Ma 3:16-17). Đức Chúa Trời bảo họ đừng sợ vì họ thuộc về Ngài. Ngài không bao giờ quên những ai thuộc về Ngài. Cũng có những lần hoãn tương tự để khích lệ dân sự của Đức Chúa Trời giữa cái ấn thứ sáu và cái ấn thứ bảy (7:1-17) và giữa tiếng loa thứ sáu và tiếng loa thứ bảy (10:1-11:14). Bởi vì những sự phán xét qua cái bát diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, thời gian xen giữa cái bát thứ sáu và cái bát thứ bảy là rất ngắn.

Lời lẽ yên ủi của Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu 22:7, 12, 20) khởi sự: “Kìa, ta đến như kẻ trộm”. Giống như tên trộm đến, Chúa Jêsus sẽ đến cách nhanh chóng và bất ngờ. Song không giống như kẻ trộm, Ngài sẽ đến không phải để trộm cắp, mà là để lấy những gì là hợp pháp thuộc về Ngài. Hình ảnh Chúa Jêsus đến như kẻ trộm xuất hiện ở các chỗ khác trong Tân Ước. Trước đó trong sách Khải huyền, Chúa Jêsus đã cảnh báo Hội thánh Sạt-đe: “Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình” (3:3). Trong Bài Giảng Trên Núi Ngài nói thêm: “Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến. Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình” (Mat 24:42-43). Sứ đồ Phao-lô nhắc cho người Tê-sa-lô-ni-ca nhớ rằng “ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy” (ITe 5:2), một lẽ thật mà Phi-e-rơ cũng đã khẳng định (IIPhi 3:10). Sự trở lại đột ngột và bất ngờ của Chúa Jêsus sẽ đem lại sợ hãi và mất tinh thần cho các kẻ thù của Ngài, nhưng hy vọng và yên ủi cho dân sự Ngài.

Khi ấy, Chúa được tôn cao công bố phước lành thứ ba trong bảy phước lành (ơn phước, chúc phước) trong Khải huyền (đối chiếu 1:3; 14:13; 19:9; 20:6; 22:7, 14): “Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình!” Câu này mô tả những người, giống như năm nữ đồng trinh có tánh thận trọng (Mat 25:1-13), đã biết chuẩn bị cho sự đến của Ngài. Tuy nhiên, hình ảnh ở đây không phải là hình ảnh của các cô phù dâu chuẩn bị cho một đám cưới, mà là hình ảnh của các chiến binh cảnh báo và đang làm nhiệm vụ. Chỉ có một chiến binh vẫn tỉnh thức và gìn giữ áo xống mình sẵn sàng chiến đấu. Những kẻ bị bắt trước khi trận đánh nổ ra sẽ “đi lõa lồ và người ta thấy sự xấu hổ mình!” — sự xấu hổ của một người lính lơ là trong bổn phận mình. Người nào mà Đức Chúa Trời đã “mặc áo cứu rỗi cho” và “khoác áo choàng công bình cho” (Es 61:10), họ đã “mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ” (Ro 13:14), sẽ sẵn sàng khi sự phán xét đến. Giăng giục giã trong thư tín thứ nhứt của ông: “Vậy bây giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài, hầu cho, nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài trong kỳ Ngài ngự đến” (IGi 2:28). Những người ấy Chúa Jêsus thấy họ biết sửa soạn khi Ngài trở lại sẽ được chúc phước cho.

Sau khoảng thời gian ngắn xen giữa đem lại sự khích lệ cho kẻ được chuộc, câu chuyện có tính cách tiên tri trở lại với các sự kiện của cái bát thứ sáu. Tà thần lừa dối sẽ tập hợp các nước lại với nhau ở một địa điểm mà theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. Ha-ma-ghê-đôn là một từ Hy-bá-lai có nghĩa là “Núi Mê-ghi-đô”. Vì không có hòn núi cụ thể nào mang cái tên đó, và Har có thể đề cập đến xứ đồi núi, có lẽ đó là một tham khảo đến vùng đồi núi vây quanh Đồng bằng Mê-ghi-đô, khoảng sáu mươi dặm về phía Bắc thành Jerusalem. Đã có hơn hai trăm trận đánh đã diễn ra trong khu vực đó, bao gồm cả sự Ba-rác đánh bại dân Ca-na-an, chiến thắng của Ghê-đê-ôn đối với dân Ma-đi-an (Các Quan Xét 7; đối chiếu Cac 6:33; “đồng bằng Gít-rê-ên” là một danh xưng khác nói tới đồng bằng Ách-ca-lôn), và sự bại trận của Giô-ách dưới tay Pha-ra-ôn Nê-cô (IISu 35:22). Đồng bằng Mê-ghi-đô và đồng bằng Ách-ca-lôn gần đó sẽ là điểm nhấn cho chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn, diễn ra ác liệt trên toàn bộ chiều dài xứ Israel về phía Nam là thành Bốt-ra của dân Ê-đôm (Es 63:1). Nhiều trận đánh khác cũng xảy ra trong vùng lân cận thành Jerusalem (Xa 14:1-3).

“Chiến trận” sẽ kết thúc liền giống khi nó khởi sự, khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm để giải cứu dân sự Ngài (đối chiếu Xa 14:1-3; Gio 3:16) và đánh bại các kẻ thù của Ngài. Việc tàn sát là hậu quả của các đạo quân thế gian sẽ gần như không thể tưởng tượng được, với huyết lên tới vài feet và có lẽ chảy thành suối xuyên suốt một khoảng cách dài hai trăm dặm (14:20). Cái bát thứ sáu đề ra chặng cuối cùng, nhưng trước khi trận chiến “ngắn ngủi” này, tai nạn thứ bảy và sau cùng sẽ xảy ra.

Cái Bát Thứ Bảy

Vị thiên sứ thứ bảy trút bát mình trong không khí, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến mà phán rằng: Xong rồi! Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy. Thành phố lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống, và Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài. Mọi đảo đều ẩn trốn, các núi chẳng còn thấy nữa. Những cục mưa đá lớn, nặng bằng một ta-lâng, ở trên trời rớt xuống trên loài người; loài người bèn nói phạm đến Đức Chúa Trời bởi cớ tai nạn mưa đá ấy, vì là một tai nạn gớm ghê. (16:17-21)

Cái bát thứ bảy là sự đổ ra sau cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên hạng tội nhân sống trong đất hiện tại này. Sau đó, Chúa Jêsus sẽ đến và dựng lên vương quốc thiên hi niên của Ngài. Vào cuối thời kỳ ngàn năm đó, sẽ có một hành động loạn nghịch cuối cùng, sẽ nhanh chóng bị đè bẹp (20:7-10). Nhưng sự phán xét đó sẽ không xảy ra trên thế giới như chúng ta biết, vì đất sẽ bị thay đổi đáng kể trước khi vương quốc đến.

Sự phán xét cuối cùng của kỷ nguyên hiện tại sẽ diễn ra trong thời kỳ khi “sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn“ (10:7). Đây là tai nạn cuối cùng của “bảy tai nạn sau cùng, vì bởi các tai nạn nầy làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời“ (15:1). Cái bát thứ bảy sẽ là thảm hoạ tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới, thảm hoạ trọn vẹn và gây tàn phá nhất mà trái đất từng kinh qua. Các tác động của nó dẫn tới sự thành lập vương quốc Đấng Christ trên đất. Giống như vị thiên sứ thứ tư, vị thiên sứ thứ bảy đã không trút bát mình xuống đất, mà trút ra … trong không khí. Các tác động đầu tiên của nó xảy ra trên bầu khí quyển của trái đất, giống như thể Đức Chúa Trời đang làm sạch các lãnh vực trước đây của Sa-tan và các quỉ sứ hắn (12:9). Trái đất (câu 2), biển (câu 3), nước (câu 4), mặt trời (câu 8), và cuối cùng là bầu không khí là các mục tiêu của phán xét.

Khi thiên sứ trút cái bát của mình ra, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến. Tiếng ấy là của Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng sở hữu trời và đất. Lời tuyên bố long trọng của Ngài: “Xong rồi” loan báo đỉnh cao của ngày sau cùng của Đức Giê-hô-va, sẽ rao báo số phận của toàn địa cầu. Thì động từ trọn vẹn gegonen (việc đã xong rồi) mô tả một hành động được trọn với kết quả đang diễn ra. Nó cũng tương tự với lời lẽ sau cùng của Chúa Jêsus trên cây thập tự: “Mọi sự đã được trọn” (Gi 19:30). Sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với Đấng Christ trên đồi Gô-gô-tha đã cung cấp ơn cứu rỗi cho hạng tội nhân biết ăn năn; sự phán xét của cái bát thứ bảy đem lại số phận cho hạng tội nhân không biết ăn năn.

Việc trút ra cái bát thứ bảy tác động mạnh vào bầu khí quyển; có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang. Giống như cái ấn thứ bảy (8:5) và tiếng loa thứ bảy (11:19), giông bão. Nhưng các trận bão trước đó chỉ là những hình ảnh xem trước về cơn bão rất mạnh của cơn thạnh nộ hiện đang bùng nổ ra trên đất.

Mặc dù cái bát thứ bảy đã được trút xuống bầu khí quyển của trái đất, nó cũng sẽ có tác động gây tàn phá trên đất. Đức Chúa Trời sẽ kết thúc sự phán xét sau cùng này nghịch cùng hạng tội nhân với một trận động đất (đối chiếu Es 24:19-20; Ag 2:6), giống như Ngài đã thực hiện sự phán xét tội lỗi của Ngài tại đồi Gô-gô-tha (Mat 27:51-54). Trận động đất này sẽ là trận động đất mạnh nhất từng xảy ra trên đất; Giăng mô tả nó là một trận động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy. Trong khi luôn luôn có và sẽ tiếp tục là động đất tại địa phương (Mat 24:7), thì trận động đất dữ dội này sẽ là có một không hai, trong đó Đức Chúa Trời sẽ lay động quả địa cầu, như đã được nói tiên tri trong Ag 2:6 và He 12:26-27. Sự rung chuyển sẽ trầm trọng đến nỗi nó sẽ cải tạo và cấu tạo lại địa cầu trong sự chuẩn bị cho vương quốc ngàn năm, khôi phục địa cầu lại giống như tình trạng trước khi có Nạn Lụt (câu 20).

Tác động đầu tiên của trận động đất dữ dội và lớn này, ấy là thành phố lớn bị chia ra thành ba phần. Thành phố lớn không thể là Ba-by-lôn, như có người nghĩ, vì nó được phân biệt với “Ba-by-lôn lớn” được nhắc tới về sau trong câu 19. Một sự ví sánh với 11:8 xác định rõ ràng thành lớn là Jerusalem: “thành lớn. . . nơi Chúa cũng bị đóng đinh trên thập tự giá”. Thành lớn khác biệt với các thành phố của các nước cung ứng thêm bằng chứng cho thấy đây là thành Jerusalem. Trận động đất lớn sẽ chia Jerusalem ra thành ba phần, bắt đầu một loạt sự thay đổi địa vật lý đối với thành phố và vùng phụ cận sẽ kết thúc khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm. Xa 14:4-10 mô tả chi tiết các thay đổi này. Núi Ô-li-ve sẽ chia ra làm hai, và một thung lũng mới chạy về phía đông và phía tây sẽ được tạo ra (Xa 14:4). Một suối nước sẽ chảy quanh năm từ Jerusalem đến Địa Trung Hải và Biển Chết (Xa 14:8), làm cho sa mạc trổ hoa như bông hường (đối chiếu Es 35:1). Thành Jerusalem sẽ được nâng lên, và khu vực xung quanh bằng phẳng thành một đồng bằng (Xa 14:10). Vì thế, mục đích của trận động đất liên quan đến thành Jerusalem không phải là để xét đoán thành phố đâu, mà là để nâng cao nó. Thành Jerusalem bị xét đoán trước đó trong Kỳ Đại Nạn bởi một trận động đất, dẫn đến sự cứu rỗi của những kẻ không bị giết (11:13). Do đó, không cần phải phán xét thêm giáng trên thành ấy nữa. Những thay đổi về mặt vật lý sẽ chuẩn bị cho Jerusalem vai trò trung tâm mà nó sẽ đóng trong vương quốc ngàn năm, khi Đấng Christ làm vua trị vì (Thi 110:2; Es 2:3; 24:23; Mi 4:7).

Không giống như Jerusalem, thành này được nâng cao bởi trận động đất, thành của các dân Ngoại sẽ sụp xuống, có lẽ cùng lúc với việc Chiên Con đánh bại Anti-christ (17:12-14). Về mặt tự nhiên, một trận động đất mạnh như thế sẽ gây ra sự phá hủy to lớn, rộng khắp. Đặc biệt cho thấy Ba-by-lôn lớn, Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài. Là thành phố thủ phủ của đế quốc Anti-christ, Ba-by-lôn đặc biệt sẽ được uống chén rượu thạnh nộ của Ngài. Sự sụp đổ của Ba-by-lôn, được nhắc tới ở đây sẽ được mô tả rất dài ở các chương 17 và 18.

Tác động sau cùng của trận động đất, như đã nói ở trên, là chuẩn bị cho địa cầu tiếp đón sự trị vì ngàn năm của Đức Chúa Jêsus Christ. Đối với cứu cánh đó, địa hình của trái đất sẽ bị thay đổi mạnh mẽ; mọi đảo đều ẩn trốn, các núi chẳng còn thấy nữa. Mọi đảo, là những ngọn núi dưới biển, sẽ biến mất và núi non trên đất sẽ bị dẹp đi (Es 40:4), hoàn thành tiến trình bắt đầu ở cái ấn thứ sáu (6:12-14). “Địa hình lượn sóng nhẹ nhàng của thế giới như nguyên thuỷ được dựng nên sẽ được phục hồi. Sẽ không còn có núi non hay không thể cư ngụ hay sa mạc hoặc băng tuyết hay thiên thạch không thể tiếp cận. Môi trường vật lý của thiên niên kỷ sẽ là, một lượng lớn, một sự phục hồi của môi trường giống như đã có trước khi Nạn Lụt” (Henry M. Morris, The Revelation Record, 321. Việc nầy sẽ khiến cho thành Jerusalem trở thành điểm cao nhất trên đất, khiến nó trở thành một ngôi vị thích hợp với Nhà Vua Vĩ Đại sẽ cai trị ở đó trong cả ngàn năm (Gie 3:17).

Người nào không cứ cách nào đó thoát khỏi sự tàn phá gây ra do trận động đất sẽ phải đối mặt với tai hoạ khác, một tai hoạ chưa chưa từng có trong lịch sử của địa cầu. Họ sẽ bị ném với những tảng đá khổng lồ, mỗi tảng đá nặng bằng 1 ta-lâng, từ trên trời rớt xuống trên loài người. Không giống như trận dịch thứ bảy của Ai-cập (Xu 9:23-24) và sự phán đoán qua tiếng loa thứ nhứt (8:7), sức mạnh của các tảng đá nầy không thể tưởng tượng được. Thuật ngữ Hy-lạp dịch khoảng một trăm cân Anh mô tả trọng lượng nặng nhất của một người bình thường có thể mang lấy, bất cứ đâu từ 90 đến 135 cân Anh. Trận mưa đá nặng nhất từng được ghi lại với những hòn đá nặng khoảng 2 cân Anh; những khối băng khổng lồ này sẽ nặng hơn năm mươi lần. Chúng sẽ thêm vào sự tàn phá gây ra do trận động đất và chà nát nhân loại, những người, họ, vì cớ quyền lực của trận động đất, không còn có nơi trú ẩn thích hợp nữa.

Cứ miệt mài trong tình trạng không chịu ăn năn, những kẻ còn sống sót sau trận mưa đá này đã nói phạm Đức Chúa Trời bởi cớ tai nạn mưa đá, vì là một tai nạn gớm ghê. Thật đáng kinh ngạc, nhân loại bị hành hại vẫn cứ ngang ngạnh chống lại Đức Chúa Trời — một sự thật sẽ khiến cho những ai nghĩ rằng dấu kỳ phép lạ sẽ thuyết phục mọi người tin theo đạo Tin lành là không thể. Người nào chối bỏ sự kỳ diệu, sự vinh hiển, và sự oai nghi của Con Đức Chúa Trời, là kẻ đạp đổ ân ban cứu rỗi miễn phí, sẽ không bị thuyết phục bởi bất kỳ dấu lạ nào (đối chiếu Lu 16:31). Đã quá muộn cho hạng tội nhân cứng lòng nầy; họ đã bán linh hồn họ cho Sa-tan; họ hoàn toàn phục theo hệ thống chống nghịch Đức Chúa Trời, thờ lạy hình tượng, và phạm thượng của Ani-christ. Họ là con cái của sự thạnh nộ, phóng túng phải ở trong địa ngục.

Cơn thạnh nộ đời đời và trong kỳ tận thế của Đức Chúa Trời là điều không tránh khỏi; không một người nào có thể ngăn trở hoặc cấm đoán nó không xảy đến (Es 43:13). Nhưng có một cách để tránh thoát nó, bởi vì “hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ“ (Ro 8:1). Người nào nhơn đức tin tin cậy nơi một mình Đấng Christ để được cứu sẽ thoát khỏi cơn thạnh nộ chung cuộc của Đức Chúa Trời (3:10) và cơn thạnh nộ đời đời của Ngài (ITe 1:10). Họ sẽ không đối diện với sự phán xét, bởi vì tội lỗi của họ đã bị phán xét khi Chúa Jêsus chịu chết trong chỗ của họ trên thập tự giá (IICo 5:21; IPhi 2:24). Trong ánh sáng của sự phán xét không thể tránh khỏi, lời cảnh báo cho hết thảy hạng tội nhân không chịu ăn năn là “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (He 4:7).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme