Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

14 – A-lê-lu-gia Từ Trên Trời (Kh 19:1-10)

Posted on August 27, 2026August 27, 2026 by vcbc

Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. (19:1–10)

Kinh Thánh liệt kê ra nhiều lý do cho việc dâng lời cảm tạ đối với Đức Chúa Trời. Ngài đã được ngợi khen trước mọi sự hiện hữu trọn lành vinh hiển của Ngài. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ thúc giục: “Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra” (He 13:15; đối chiếu IISa 22:50; Thi 7:17; 44:8; 122:4; 140:13). Một trong những sự trọn lành Đức Chúa Trời đáng được ngợi khen là sự thánh khiết của Ngài. Trong Thi thiên 30:4 David tuyên bố: “Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy hát ngợi khen Ngài, cảm tạ sự kỷ niệm thánh của Ngài” (đối chiếu ISu 16:35; Thi 97:12; 106:47). Đức Chúa Trời cũng đáng được khen ngợi vì sự thương xót của Ngài. Khi kết thúc một Thi thiên mà sự nhơn từ yêu thương của Đức Chúa Trời trong đó đáng được ngợi khen ở từng câu một, Thi 136:26 truyền: “Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các từng trời! Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời” (đối chiếu ISu 16:41; IISu 20:21; Thi 107:8, 15, 21, 31; 118:1, 29; Gie 33:11). Kinh Thánh cũng tôn cao sự nhân từ của Đức Chúa Trời: Tác giả Thi thiên kêu lên: “Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện” (Thi 106:1; đối chiếu ISu 16:34; Exo 3:11; Thi 54:6; 107:1). Sự hiểu biết đầy yên ủi về sự gần gũi của Đức Chúa Trời khiến cho tác giả Thi thiên phải hô lên: “Hỡi Đức Chúa Trời, chúng tôi cảm tạ Chúa; Chúng tôi cảm tạ vì danh Chúa ở gần” (Thi 75:1).

Không những Đức Chúa Trời đáng được ngợi khen vì các thuộc tánh của Ngài, mà còn vì các công việc quyền năng của Ngài nữa. Ê-sai chép: “Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Đức Chúa Trời tôi! Tôi tôn sùng Ngài, tôi ngợi khen danh Ngài; vì Ngài đã làm những sự mới lạ” (Es 25:1; đối chiếu ISu 16:9; Thi 9:1; 26:7; 89:5; 105:2; 107:8, 15, 21, 31). Đứng đầu giữa các việc làm ấy là sự sáng tạo (Thi thiên 139:14; Kh 4:11) và sự cứu rỗi (ISa 2:1; Thi 9:14; 13:5; 35:9; Cong 11:21-23; 16:34; Ro 6:17; IITe 2:13).

Nhiều ơn phước phong phú mà Đức Chúa Trời ban hiến cho dân sự của Ngài cũng đáng được ngợi khen, đứng đầu các ơn phước đó là sự ban cho Con của Ngài. Sự ban cho vô đối ấy đã khiến Phao-lô hô lên lớn tiếng: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban cho của Ngài không xiết kể!” (IICo 9:15; đối chiếu Es 9:6; Lu 2:38; Gi 3:16). Phao-lô cũng ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự Ngài giải cứu ra khỏi tội lỗi ở bên trong (Ro 7:23-25), Sự đắc thắng của người tin Chúa đối với sự chết và mồ mả (ICo 15:57), và sự đắc thắng của Tin lành (IICo 2:14; 4:15). Sự kêu gọi của Ngài đối với chức vụ (ITi 1:12), đức tin được tỏ ra nơi nhiều người khác (Ro 1:8; IITe 1:3), và ân điển của Đức Chúa Trời đổ ra trên những người tin Chúa (ICo 1:4) cũng đã khiến Phao-lô dâng lên lời cảm tạ. Vị sứ đồ cũng nêu gương và dạy dỗ lẽ thật cho rằng Cơ Đốc nhân cần phải dâng lời cảm tạ cho các nhu cần cơ bản của cuộc sống (Cong 27:35; Ro 14:6; ITi 4:3-4), đó là những sự bày tỏ hiển nhiên về tình yêu thương và sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Tóm lại, việc dâng lời cảm tạ đối với Đức Chúa Trời cần phải được thực thi luôn luôn (Eph 5:20) và trong mọi sự (ITe 5:18).

Nhưng trong mọi sự Đức Chúa Trời cần phải được ngợi khen, có lẽ điều nhỏ bé nhất cần phải ngợi khen là sự Ngài huỷ diệt kẻ ác. Tuy nhiên, đấy cũng là một lẽ đạo quan trọng trong Kinh Thánh. Phu 32:43 chép: “Hỡi các nước! hãy vui mừng với dân Ngài, vì Đức Chúa Trời sẽ báo thù huyết của tôi tớ Ngài, trả thù kẻ cừu địch Ngài”. Thi 48:11 nói thêm: “Vì cớ sự đoán xét của Chúa, nguyện núi Si-ôn vui vẻ, các con gái Giu-đa mừng rỡ” trong khi Thi 58:10-11 lưu ý rằng: “Người công bình sẽ vui vẻ khi thấy sự báo thù; Người sẽ rửa chân mình trong huyết kẻ ác. Người ta sẽ nói rằng: Quả hẳn có phần thưởng cho kẻ công bình, quả hẳn có Đức Chúa Trời xét đoán trên đất”. Trong Thi 96:11-13 tác giả Thi thiên công bố: “Nguyện các từng trời vui vẻ và đất mừng rỡ, nguyện biển và mọi vật ở trong biển nổi tiếng ầm ầm lên. Nguyện đồng ruộng và mọi vật ở trong đó đều hớn hở; Bấy giờ những cây cối trong rừng đều sẽ hát mừng rỡ trước mặt Đức Giê-hô-va; vì Ngài đến, Ngài đến đặng đoán xét thế gian; Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, dùng sự ngay thẳng mà đoán xét muôn dân”. Giống như thì thế của con người đang kéo đến gần và nhà Vua chơn thật sửa soạn tái lâm trên đất, thiên đàng sẽ vui mừng. Những tiếng A-lê-lu-gia trên trời vang lên ở chương 19 trước sự huỷ diệt sau cùng của hệ thống thế giới gian ác và sự đắc thắng vinh hiển của Đấng Mê-si sắp tái lâm (đối chiếu 5:9-14).

Giống như thời gian được trông chờ từ lâu đã đến gần, bối cảnh trong sách Khải huyền thay đổi từ dưới đất, từ khi bối cảnh ấy đã có ở chương 6 lên đến thiên đàng. Các chương xen giữa mô tả chi tiết sự bùng nổ kinh hoàng của Đức Chúa Trời về cơn thạnh nộ phán xét giáng trên thế giới tội lỗi. Cơn giận dữ đó bắt đầu được đổ ra khi Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng kế tự hợp pháp của vũ trụ, nhận được công việc xứng đáng trên đất từ ​​Cha của Ngài (5:1-14). Khi Ngài mở cuộn sách đó ra và tháo bảy cái ấn của nó, những sự phán xét kinh khiếp đã đánh vào địa cầu. Những lần phán xét qua cái ấn được nối theo sau bởi những sự phán xét qua tiếng loa và cái bát gây ra nhiều phá tán.

Mục tiêu cụ thể cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là đế quốc tôn giáo, chính trị và kinh tế trên toàn thế giới của Anti-christ, được tiêu biểu bởi thành phố thủ phủ Ba-by-lôn của nó. Sự hủy diệt Ba-by-lôn đã được mô tả chi tiết trong các chương 17 và 18. Sự hủy diệt ấy, đã gây ra sự mất mát và tang thương trên đất (18:9-11, 15-19), giờ đây mang lại sự vui mừng cho thiên đàng. Với sự tàn phá thành phố thủ phủ của nó, đế quốc của Anti-christ đã bị xử lý với một cú đấm chết người. Sự huỷ diệt sau cùng các thế lực của thế gian sẽ diễn ra trong thời gian ngắn tại Ạt-ma-ghê-đôn (19:11-21).

Có người nghĩ sự vui mừng của thiên đàng trước sự hủy diệt của Ba-by-lôn là không hay lắm và không nên có. Nhưng cái nhìn thiển cận ngắn ngủi ấy bất chấp thực tại mà hạng tội nhân đó đã có cơ hội lớn lao nhất để ăn năn cho bất cứ ai đã từng sống. Họ sẽ trải nghiệm những thảm hoạ chưa từng thấy của Kỳ Đại Nạn, mà họ sẽ công nhận đấy là những sự phán xét của Đức Chúa Trời (6:17). Họ cũng đã nghe lời rao giảng đầy năng quyền nhất của Tin lành trong lịch sử, từ 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái, hai người làm chứng, cả đạo quân người được chuộc được cứu trong suốt Kỳ Đại Nạn, và ngay cả một thiên sứ đầy quyền phép (14:6-7). Tuy nhiên, bất chấp mọi sự ấy, họ vẫn cứ không chịu ăn năn cho đến cuối cùng (9:20-21; 16:9, 11), cứng lòng trong sự vô tín không thể đảo ngược và cứ thù hận thách thức Đức Chúa Trời.

Sự khen ngợi được thấy ở trên trời xuyên suốt sách Khải huyền (4:8-11; 5:9-14; 7:10-12; 11:15-18; 15:3-4; 16:5-6) lên tới đỉnh cao trong phân đoạn Kinh Thánh này. Sự vui mừng trên trời không nhắm vào sự rủa sã những kẻ chối bỏ Đức Chúa Trời (đối chiếu Exe 18:23, 32; 33:11), mà vì Đức Chúa Jêsus Christ sẽ sớm loại bỏ hạng tội nhân bẩn thỉu kia ra khỏi thế gian. Khi ấy Đức Chúa Trời sẽ được tôn vinh cách xứng đáng, Đức Chúa Jêsus Christ lên ngôi, và đất phục hồi lại sự vinh hiển bị mất của nó. Thiên đàng vui mừng vì lịch sử cuối cùng sẽ đạt được đỉnh cao của nó khi nhà Vua thiết lập vương quốc của Ngài trên đất.

Khi phân đoạn Kinh Thánh mở ra, năm lý do cho niềm vui mừng của thiên đàng ra rõ ràng. Thiên đàng vui mừng vì ơn cứu rỗi trọn vẹn đã đến, bởi vì sự công bình được tỏ ra, bởi vì sự loạn nghịch đã kết thúc, bởi vì Đức Chúa Trời đang tễ trị, và vì cuộc hôn nhân của Chiên Con đã được hoàn tất.

VÌ ƠN CỨU RỖI TRỌN VẸN ĐÃ ĐẾN

Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. (19:1)

Như trong cả sách Khải huyền (đối chiếu 4:1; 7:9; 15:5; 18:1), cụm từ sự đó đoạn đánh dấu phần khởi đầu của sự mặc thị mới. Mặc thị mới này diễn ra sau sự hủy diệt Ba-by-lôn (các chương 17-18) và trước sự tái lâm đắc thắng của Đức Chúa Jêsus Christ (19:11-21) thiết lập Vương quốc Thiên Hi Niên (20:1-10). Khi những tiếng than vãn ồn ào về sự huỷ diệt Ba-by-lôn lặng đi trong yên tĩnh, những tiếng a-lê-lu-gia vang dội trên thiên đàng.

Trong sự mặc thị của ông, Giăng nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm. Câu nói không xác định tiếng lớn hỗn hợp mà Giăng nghe, song họ chính là những thiên sứ. Lũ đông này dường như không bao gồm các thánh đồ đã được chuộc, một khi họ được khích lệ hiệp vào sự ngợi khen sau đó (các câu 5-8). Hàng triệu thiên sứ thánh không đếm được hiệp thành một dàn hợp xướng hùng vĩ và đầy cảm hứng.

Giai điệu thiên sứ mở ra với từ ngữ A-lê-lu-gia quan trọng, một sự tung hô ngợi khen Đức Chúa Trời. Từ ngữ Hy-lạp All¯elouia là một phiên âm của từ ngữ Hy-bá-lai bao gồm động từ halal (“ngợi khen”) và danh từ Yah (“Đức Chúa Trời”). Cụm từ xuất hiện ở chương này trong Tân Ước (đối chiếu các câu 3-4, 6). Cụm từ Hy-bá-lai xuất hiện trong Thi 104:35: “Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!” Ở lần xuất hiện đầu tiên của nó trong Cựu Ước, giống như ở lần xuất hiện đầu tiên trong Tân Ước, A-lê-lu-gia tỏ ra sự ngợi khen việc phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên những kẻ gian ác áp bức dân sự Ngài. Cụm từ tiếng Hy-bá-lai được gắn với sự Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài ra khỏi Ai-cập trong các Thi thiên 113-118, được biết đến với tên gọi chung là Egyptian Hallel. Đây là một cụm từ thường gắn với cả hai: sự phán xét kẻ bất kỉnh và ơn cứu rỗi của dân sự Đức Chúa Trời.

Thiên đàng đặc biệt vui mừng vì sự cứu chuộc đã đến cho dân sự Đức Chúa Trời, và cùng với ơn ấy, sự vinh hiển và quyền phép thuộc về Đức Chúa Trời (đối chiếu ISu 29:11) đã được bày ra. Cụm từ sự cứu chuộc không tập trung vào việc xưng công bình hay sự nên thánh, mà tập trung vào việc tưởng niệm khía cạnh sau cùng của lịch sử cứu chuộc, sự vinh hiển của các thánh đồ trong vương quốc của Đấng Christ. Sự đến sắp xảy ra của Đức Chúa Jêsus Christ nhắc nhở lời ngợi khen này là việc các thiên sứ lường trước sự vinh hiển vương quốc của Ngài.

BỞI SỰ CÔNG BÌNH ĐƯỢC TỎ RA

“Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra” (19:2)

Thiên đàng cũng vui mừng vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình (đối chiếu 16:7), như đã chứng kiến bởi sự huỷ diệt Ba-by-lôn gian ác đáng phải chịu. Niềm vui mừng đó trỗi hơn chỗ sự công bình đắc thắng, là điều mà có nhiều người cầu xin và làm việc cho sự chánh trực có thể liên quan đến. Xuyên suốt lịch sử dân sự của Đức Chúa Trời đã bị quấy rối bởi sự ngược đãi, bất công, và không chánh trực trong thế gian, và đã ao ước sự công bình của Đức Chúa Trời mau đến. Khi lường trước sự đến của Đấng Mê-si, Ê-sai chép:

Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm nên sự ấy! (Es 9:5-6)

Giê-rê-mi cũng lường trước thời điểm Đấng Mê-si sẽ đem lại sự chánh trực và công bình cho địa cầu: “Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất” (Gie 23:5). Ở phần đầu sách Khải huyền những người tin Chúa tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn “đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?’” (Kh 6:10). Giống như Ê-sai và Giê-rê-mi, họ đã lường trước cái ngày mà sự công bình của Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng. Dân sự của Đức Chúa Trời thù ghét tội lỗi vì nó chế nhạo Đức Chúa Trời và yêu mến sự chánh trực vì điều đó tôn vinh Ngài. Họ khao khát muốn có một thế giới được đánh dấu bằng sự thánh khiết và sự công bình. Song điều đó chỉ sẽ xảy ra khi Đấng Christ thiết lập vương quốc công bình của Ngài và tễ trị với một cây gậy sắt (câu 15; 2:27; 12:5; Thi 2:9).

Bối cảnh được đề ra cho sự thiết lập vương quốc ấy khi Đức Chúa Trời đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian. Ba-by-lôn bị xác định là đại dâm phụ (đối chiếu 17:1, 15-16), Sa-tan và hệ thống của Anti-christ đã quyến dụ thế giới vô tín tin theo những lời dối trá của Sa-tan. Bởi vì hệ thống đó đang cai trị thế giới, vì thế nó lấy điều dâm loạn làm hư hỏng thế gian (đối chiếu 14:8; 17:2; 18:3, 9). Sự gian ác của Ba-by-lôn tôn giáo và thương mại sẽ lan rộng và thống trị, dẫn tới sự báo trả công bằng, hợp lý đến từ Đức Chúa Trời.

Thêm một lý do nữa cho sự phán xét Ba-by-lôn là sự nó ngược đãi dân sự của Đức Chúa Trời (đối chiếu 18:24). Kết quả là, Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra”. Nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ báo thù chính xác cho dân sự của Ngài đã được dạy dỗ rõ ràng trong Kinh Thánh. Phu 32:42-43 chép:

“Ta sẽ làm cho các mũi tên ta say huyết; Lưỡi gươm ta ăn thịt, tức là huyết của kẻ bị giết và của phu tù, thịt của đầu các tướng thù nghịch. Hỡi các nước! hãy vui mừng với dân Ngài, vì Đức Chúa Trời sẽ báo thù huyết của tôi tớ Ngài, trả thù kẻ cừu địch Ngài, và tha tội cho xứ và cho dân của Ngài”.

Phao-lô viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca: “Vả, theo sự công bình Đức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em, và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi, trong khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (IITe 1:6-8). Kh 18:20 truyền: “Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó”. (đối chiếu 16:5-6; IISa 22:48; Thi 58:10-11; 79:10; 94:1-2; Gie 15:15; 20:12; 51:36; Gio 3:20-21). Cả hai: thích đáng và công bình cho kẻ nào gây ra sự đổ nát về đạo đức của thế gian và bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đối diện với sự báo thù của Ngài.

BỞI VÌ SỰ LOẠN NGHỊCH ĐÃ KẾT THÚC

Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời” (19:3)

Sự phán xét Ba-by-lôn kích hoạt sự bùng nổ đầu tiên thái độ vui mừng ở trên trời; hậu quả sự hủy diệt đó đã giục giã giai điệu thiên thượng thốt ra lần thứ hai: “A-lê-lu-gia!” Ở đỉnh cao sự phán xét ấy, Ba-by-lôn bị lửa “thiêu đốt” (18:8; 17:16) và tội nhân than khóc khi họ nhìn thấy luồng khói bay lên trên bầu trời (18:9, 18). Luồng khói ấy bay lên đời đời cho thấy rằng sự phán xét này là cuối cùng, vĩnh viễn và không thể đảo ngược. Lối nói tương tự với lối nói được sử dụng chỉ ra sự huỷ diệt của Đức Chúa Trời đối với thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 19:28) và Ê-đôm (Es 34:10). Lửa và khói cuối cùng sẽ tắt đi, nhưng sự phán xét là đời đời giáng trên những linh hồn của hạng tội nhân bị huỷ diệt. Và địa ngục là chỗ “sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt“ (Mác 9:48), nơi mà “chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời“ (14:10-11).

Sự hủy diệt đế quốc sau cùng và mạnh nhất trong lịch sử nhân loại đánh dấu sự kết thúc thì thế của con người. Cuộc nổi loạn đã xảy ra cách đây rất lâu trong Vườn Ê-đen đã kết thúc (chưa tính cuộc nổi loạn ngắn ngủi, hư không vào cuối Thiên niên kỷ, 20:7-10). Sẽ không có nhiều tôn giáo giả, triết học đời này, bất công, bất chính; mọi kết quả đáng tiếc của sự băng hoại của con người sẽ bị hủy diệt.

BỞI VÌ ĐỨC CHÚA TRỜI ĐANG NẮM QUYỀN TỂ TRỊ

“Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị” (19:4-6)

Hoà với giai điệu của thiên sứ, những tiếng a-lê-lu-gia vang dội từ các cư dân khác ở trên trời. Hai mươi bốn trưởng lão tốt nhất được xem là các đại biểu của Hội thánh (về phần bàn bạc lai lịch của hai mươi bốn trưởng lão, xem Khải huyền 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1999], 148-50). Bốn con sanh vật là chê-ru-bin, một đẳng cấp cao của hàng thiên sứ (phần thông tin về bốn con sanh vật, xem Khải huyền 1-11, 152-54). Hai nhóm này đã thờ lạy Đức Chúa Trời xuyên suốt sách Khải huyền (đối chiếu 4:8-11; 5:8-12, 14; 7:11; 11:16-18). Nằm sấp mình xuống trước ngôi của Đức Chúa Trời cộng thêm hai lần nữa cho giai điệu thiên thượng được hô lên: “Amen. A-lê-lu-gia!” Cụm từ ấy đến từ Thi thiên 106:48 và chỉ ra sự nhất trí trang trọng của chúng (đối chiếu cách sử dụng Amen, “nguyện sẽ được như vậy”, ở 5:14; 7:12) với sự vui mừng ở trên trời về sự sụp đổ của Ba-by-lôn.

Phân đoạn Kinh Thánh không xác định chủ nhân của tiếng từ ngôi đến, nhưng có thể đấy là một thiên sứ, một khi Ngài đề cập đến Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của chúng ta. Tiếng ấy có uy quyền kêu gọi nhóm kia hiệp với bài thánh ca ngợi khen “rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài!” Những người tin Chúa được chuộc ở trên trời được mô tả là tôi tớ của Đức Chúa Trời (đối chiếu câu 2; 1:1; 2:20; 7:3; 11:18; 15:3; 22:3, 6; Lu 2:29; Cong 4:29; 16:17; Ro 1:1; Ga 1:10; Phi 1:1; Co 1:7; 4:7; IITi 2:24; Tít 1:1; Gia 1:1; IIPhi 1:1; Giu 1:1), và hết thảy các ngươi vẫn kính sợ Ngài (đối chiếu Phu 6:13; 8:6; 10:12, 20; 13:4; Gios 24:14; ISa 12:14, 24; IIVua 17:39; Thi 22:23, 25; 25:14; 33:18; 34:7, 9; 85:9; 103:11, 13, 17; Lu 1:50). Cụm từ nhỏ hay lớn (đối chiếu 11:18) không kể đến những sự phân loại hay phân biệt, nó bao hàm hết thảy mọi người.

Khi người được chuộc vâng theo mạng lịnh từ tiếng ở trên trời rồi thêm giọng của họ vào giai điệu thiên thượng kia, âm thanh mà Giăng nghe thấy giống như tiếng của một đám đông vô số người. Giai điệu khen ngợi lớn tiếng đó cứ mạnh dần lên, là tiếng mà vị sứ đồ đã sánh với tiếng của nhiều nước lớn (đối chiếu 1:15; 14:2) hoặc như tiếng sấm dữ (đối chiếu 6:1; 14:2). Phần cáo chung phù hợp với lời ca ngợi trên trời là “A-lê-lu-gia” lần thứ tư, nối theo sau là động cơ cho sự ngợi khen ấy — “Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị”. Hệ thống gian ác cấp thế giới đã bị phá hủy hoàn toàn và vương quốc của Đức Chúa Trời đã đến trong sự trọn vẹn của nó. Cách sử dụng A-lê-lu-gia này gợi nhớ đến các Thi thiên 146-150, thường xuyên dâng lên lời ngợi khen dành cho sự trị vì tối cao của Đức Chúa Trời và mối thông công đời đời với người được chuộc. Tước hiệu Toàn Năng được sử dụng chín lần trong sách Khải huyền (câu 15; 1:8; 4:8; 11:17; 15:3; 16:7,14; 21:22).

BỞI VÌ HÔN NHÂN CỦA CHIÊN CON ĐƯỢC TRỌN VẸN

“Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri” (19:7–10)

Sự ngợi khen ở trên trời cứ tiếp tục với lời kêu gọi hãy hớn hở vui mừng, và dâng lên Ngài sự vinh hiển vì lý do thứ năm — Lễ Cưới Chiên Con. Hình ảnh hôn nhân được sử dụng thường xuyên trong Kinh Thánh. Một cuộc hôn nhân là sự tán dương lớn lao nhất và là sự kiện xã hội trong thế giới của Kinh Thánh. Những sự chuẩn bị cho tiệc cưới cùng sự tán dương trong các thời xa xưa thậm chí rất tỉ mỉ và nhiều đòi hỏi hơn các đám cưới thời nay và cũng kéo dài lâu hơn. Chúng gồm có ba chặng đường phân biệt. Thứ nhứt là đính hôn hay hứa hôn. Đây là một sự sắp đặt bởi cả hai bên cha mẹ làm hợp đồng hôn nhân cho con cái của họ. Hợp đồng này trói buộc về mặt luật pháp và chỉ có thể phá vỡ bằng một sự ly dị (đối chiếu Mat 1:18-19). Một hợp đồng đính hôn thường được ký kết rất lâu trước khi con cái đến tuổi có thể lập hôn nhân 13 hay 14 tuổi. Kể từ khi hôn nhân tiêu biểu cho sự hội hiệp của hai gia đình, hai bên cha mẹ dính dáng vào là điều rất tự nhiên. Và đã có nhiều năm trời lo chuẩn bị cho thời điểm hôn nhân, giống như chú rễ đã chuẩn bị cho cô dâu của mình. Chặng thứ hai của đám cưới là quà tặng, thời kỳ lễ lạc ngay trước nghi thức. Lễ lạc đó có thể kéo dài cả tuần lễ hoặc hơn, nương vào tình trạng kinh tế và xã hội của cô dâu và chú rễ. Chặng thứ ba và quan trọng nhất của đám cưới là nghi thức đích thực, trong suốt chặng đường này các lời thề sẽ được trao cho nhau. Ở phần cuối của lễ lạc trao quà, chàng rễ và những người tuỳ tùng của mình sẽ đi qua nhà của cô dâu đón nàng cùng các dâu phụ bước vào nghi thức. Sau nghi thức sẽ đến bữa tiệc sau cùng, tiếp theo sau là động phòng trong hôn nhân.

Kinh Thánh sử dụng hình ảnh quen thuộc của đám cưới để phác hoạ mối quan hệ của Chúa với Hội thánh của Ngài. II Côrinhtô 11:2 nhắc tới phần đính hôn của Hội thánh với Đấng Christ. Phao-lô viết: “Vì về anh em, tôi rất sốt sắng như sự sốt sắng của Đức Chúa Trời, bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ”. Hợp đồng đính hôn của Hội thánh được ký kết trong quá khứ đời đời khi Đức Chúa Cha hứa với Đức Chúa Con một dân được chuộc và viết ra tên của họ trong Sách Sự Sống. Sứ đồ Phao-lô mô tả diện mạo của Hội thánh trong Eph 5:25-27: “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch, đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài”. Phần trình diện sẽ diễn ra ngay sự Cất Lên. Sau khi nói cho hai bên biết thời điểm chuẩn bị hiện tại, khi Ngài dựng nên một quê hương cho cô dâu của mình, và khoảnh khắc trình diện, khi Ngài đến đón nàng, Chúa Jêsus phán: “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Gi 14:2-3). Trong hình ảnh tiệc cưới ngày xưa, sự Cất Lên đánh dấu thời điểm khi Chàng Rễ, là Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu Mat 9:15; Mac 2:19-20; Lu 5:34-35; Gi 3:28-29), đón cô dâu của Ngài vào nhà của Cha mình. Trong Kỳ Đại Nạn, Hội thánh được cất lên sẽ trình diện ở trên trời. Nhưng ở phần cuối của 7 năm giao thông vui mừng và lễ lạc tuyệt vời đó, thì giờ sẽ đến cho tiệc cưới, đám cưới của Chiên Con. Sự hội hiệp sau cùng của Chàng Rễ và cô dâu được đánh dấu bằng một bữa đại tiệc.

Có người đã cố gắng kết hợp các thí dụ về tiệc cưới trong Mat 22:1-14 và Mat 25:1-13 với Kh 19:7-10 để hình thành loại “thần học hôn nhân”. Nhưng làm như thế là vi phạm nguyên tắc giải thích cho rằng giáo lý không thể được xây dựng bằng cách kết hợp các yếu tố từ các hình ảnh minh hoạ hoặc thí dụ khác nhau. Hôn nhân là chuyện ngẫu nhiên trong hai thí dụ của Ma-thi-ơ; thực vậy, không một thí dụ nào nhắc tới cô dâu. Lẽ đạo trong thí dụ nói tới tiệc cưới (Mat 22:1-14) là sự bội đạo của Israel và sự chối bỏ Đức Chúa Trời. Những thực khách được mời, họ đã từ chối lời mời của Nhà Vua không đến với lễ cưới này làm biểu tượng cho Israel; những vị khách không được mời được dồn vô từ các đường phố làm biểu tượng cho Hội thánh Dân Ngoại (đối chiếu Mat 8:11-12). Như vậy, trong thí dụ này, Hội thánh không tiêu biểu cho cô dâu, mà là khách mời. Thí dụ nói tới mười người nữ đồng trinh (Mat 25:1-13) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chuẩn bị về mặt thuộc linh. Một lần nữa, những người tin Chúa trong thí dụ đó không được tiêu biểu cho cô dâu, mà là các nữ đồng trinh (tuỳ tùng của cô dâu). Năm người nữ dại thì giống như những người xưng mình tin Chúa, lại không chuẩn bị cho sự tái lâm của Đấng Christ (nghĩa là, không được cứu); năm người nữ khôn ngoan là những tín đồ chân thật, biết sửa soạn thật sự. Mục đích của thí dụ là những người xưng mình tin Chúa phải sẵn sàng (nghĩa là, thực sự được cứu) khi Đấng Christ tái lâm để thiết lập vương quốc của Ngài. Sẽ chẳng có cơ hội thứ hai cho người không biết sửa soạn (chưa được cứu) vì Ngày Phán Xét của Chúa là toàn bộ và là cuối cùng. Chỉ có những người tin Chúa sẽ sống còn để bước vào vương quốc.

Vì Tân Ước sử dụng hôn nhân để minh họa cho một sự đa dạng các nguyên tắc thuộc linh như thế, những minh họa đó không thể được dùng để diễn giải Khải huyền 19. Mỗi thí dụ hoặc minh hoạ phải được diễn giải theo văn mạch của riêng nó. Để trộn lẫn các chi tiết từ các minh họa không liên quan với một lẽ đạo không phải là cách giải thích phân đoạn Kinh Thánh này (hoặc bất kỳ phân đoạn nào).

Toàn bộ ca đoàn trên trời, gồm cả các thiên sứ (câu 1), hai mươi bốn trưởng lão (câu 4), bốn con sanh vật (câu 4) và cả đạo quân những kẻ được chuộc (câu 5) đều được khích lệ phải vui mừng hớn hở và tôn vinh Ngài bởi vì mọi sự chuẩn bị đã hoàn tất vì lễ cưới Chiên Con đã đến. Đã đính hôn trong cõi quá khứ đời đời, được trình diện trong nhà của Cha kể từ khi có Sự Cất Lên, Hội thánh giờ đây đã sẵn sàng cho tiệc cưới bắt đầu. Nghi thức ấy sẽ trùng với việc thiết lập vương quốc thiên hi niên, và kéo dài trong suốt thời kỳ ngàn năm đó để hoàn bị trong trời mới và đất mới (đối chiếu 21:1-2). Ý tưởng về nghi thức kéo dài hàng ngàn năm có thể dường như không được tự nhiên; tuy nhiên vấn đề chẳng có gì là khó khăn hơn vài ngàn năm đính hôn. Và phải nhớ rằng “Vì một ngàn năm trước mắt Chúa khác nào ngày hôm qua đã qua rồi, giống như một canh của đêm“ (Thi thiên 90:4), và “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày“ (IIPhi 3:8). Trong trời mới và đất mới, khái niệm cô dâu sẽ được mở rộng để bao gồm không những Hội thánh, mà còn cả những người được chuộc trong mọi thời đại khi Jerusalem Mới trở thành thành phố của cô dâu (21:1-2). Cần phải lưu ý ên 16:7-14; Os 2:16,19).

Trong sự chuẩn bị cho đám cưới của nàng với Chiên Con, và vợ Ngài đã sẵn sàng. Tất nhiên, đấy chẳng phải là bởi công việc riêng của nàng, mà thay vì thế bởi công việc giàu ơn của Đức Chúa Trời. Phao-lô dạy cho các tín đồ ấy biết, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, hãy dự phần vào công việc của Ngài trong đời sống của họ: “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi 2:12-13). Ông viết cho người Cô-lô-se: “Ấy cũng là vì đó mà tôi làm việc, nhờ Ngài giúp đỡ mà chiến đấu, là sức hành động cách có quyền trong tôi” (Co 1:29). Cô dâu tự dọn mình sẵn sàng trong quyền phép của Đức Chúa Trời, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, qua công tác của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Được làm sạch khỏi mọi tội lỗi và sự bất khiết (đối chiếu ICo 3:12-15), nàng là một nữ đồng trinh không vít, không nhăn, không chi giống như vậy.

Sau khi đã được trình diện thật vinh hiển, thật tinh sạch, và không vết ở trước ngôi của Đức Chúa Trời, Hội thánh đã được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn. Vải gia mịn là loại vải đắt tiền và đẹp đẽ (đối chiếu 18:12, 16), giống như loại vải gai mịn mà Giô-sép mặc (Sa 41:42), David (ISu 15:27), và Mạc-đô-chê (Et 8:15); lampros (sáng láng) ý nói lấp lánh, chiếu sáng, hay rực rỡ (đối chiếu cách dùng của nó ở Cong 10:30); katharos (tinh sạch) được dịch “trong vắt, trong suốt” 21:18, 21. Loại trang phục làm loá mắt đó được các thiên sứ mặc trong sách Khải huyền (15:6), và sẽ là trang phục của các đạo quân trên trời (được hình thành bởi các thiên sứ và các thánh đồ được chuộc) đi kèm với Đấng Christ khi Ngài tái lâm trên đất (câu 14).

Vải gai mịn mà cô dâu mặc trong sự mặc thị tiêu biểu cho công việc công bình của các thánh đồ. Khi được cứu, những người tin Chúa được mặc lấy sự công bình của Đấng Christ, được gán cho họ (Ro 3:21-24; 4:5; 5:19; ICo 1:30; IICo 5:21; Phi 3:8-9). Nhưng giờ đây, Hội thánh được mặc lấy với sự công bình của chính Hội thánh; những người tin Chúa đã được làm cho vinh hiển thực chất đều là công bình, giống như các thiên sứ thánh vậy. Hội thánh sẽ không còn là công bình bị gán cho nữa, mà khi ấy còn là một sự trọn lành thánh khiết được truyền đạt cho nữa. Lời hứa trong IGi 3:2: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy” (đối chiếu Ro 8:19-21) khi ấy được ứng nghiệm.

Thiên sứ phán cùng Giăng rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!” Đây là phước lành thứ tư trong bảy phước lành trong sách Khải huyền (đối chiếu 1:3; 14:13; 16:15; 20:6; 22:7, 14), hết thảy đều mở đầu bằng cụm từ Phước thay, ý nói “hạnh phúc”, “vui mừng”, “thoả lòng”, và “phu phỉ”. Những kẻ nhận lãnh phước hạnh này là những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con. Họ là khách được mời, đánh dấu họ là một nhóm phân biệt từ Hội thánh, một khi cô dâu chật vật lắm mới mời vào tiệc cưới của chính nàng.

Các khách mời này tiêu biểu cho những người tin Chúa thời Cựu Ước. Mat 8:11 and Lu 13:28 cả hai đề cập đến Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp như đang sinh sống trong vương quốc, và Lu-ca 13:28 cũng nhắc tới các vị tiên tri. Hết thảy các vị anh hùng đức tin được nhắc tới trong Hê-bơ-rơ 11 sẽ có mặt giữa vòng các vị khách được mời. Cũng một thể ấy với Giăng Báp-tít, người cao trọng nhất trong hàng tín đồ Cựu Ước (Mat 11:11), là nhân vật mô tả bản thân mình là bạn hữu của chàng rễ (Gi 3:29) và vì vậy là một trong các vị khách được mời. Hết thảy các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, đã được làm cho vinh hiển và vẫn còn sống trên đất và đã bước vào vương quốc thiên hi niên, sẽ là các thực khách.

Có người thắc mắc tại sao các tín đồ trong kỷ nguyên Hội thánh sẽ đương nhiên có vinh dự là cô dâu, trong khi các tín đồ từ các kỷ nguyên khác chỉ là thực khách thôi!?! Nhưng có người sẽ thắc mắc lý do tại sao Đức Chúa Trời biệt riêng dân Israel ra làm tuyển dân. Câu trả lời duy nhứt cho cả hai thắc mắc, ấy là Đức Chúa Trời đã quyết định sự việc ấy (đối chiếu Phu 7:7-8). Cần phải nhớ rằng hình ảnh đám cưới là đúng như thế; hình ảnh ấy chẳng phải là thực, song phác hoạ sự hội hiệp mật thiết với dân sự của Ngài. Sẽ chẳng có “công dân hạng hai” trong vương quốc của Đức Chúa Trời, giống như hết thảy những người đến dự trong sự vui vẻ của tiệc cưới. Như đã lưu ý ở trên, trong trời mới đất mới hình ảnh cô dâu sẽ được mở rộng bao hết kẻ được chuộc từ mọi kỷ nguyên (21:1-2).

Israel đã nhìn thấy trước tiệc cưới long trọng này:

Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ ban cho mọi dân tộc, tại trên núi nầy, một tiệc yến đồ béo, một diên rượu ngon, đồ béo có tủy, rượu ngon lọc sạch. Tại trên núi nầy Ngài sẽ trừ diệt mặt của đồ đắp trên muôn dân, và cái màn che phủ mọi dân tộc. Ngài đã nuốt sự chết đến đời đời. Chúa Giê-hô-va sẽ lau nước mắt khỏi mọi mặt, và trừ bỏ sự xấu hổ của dân Ngài khỏi cả thế gian; vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy. Trong ngày đó, người ta sẽ nói rằng: Kìa, ấy là Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã mong đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta. Ấy là Đức Giê-hô-va; chúng ta đã mong đợi Ngài, chúng ta sẽ nức lòng mừng rỡ và đồng vui về sự cứu rỗi của Ngài! Vì tay Đức Giê-hô-va sẽ đặt trên núi nầy; nhưng Mô-áp sẽ bị giày đạp trong nơi nó, như rơm bị giày đạp trong ao phân. (Es 25:6-10)

Es 26:1- 4 ghi lại một trong các bài ca vui mừng mà kẻ được chuộc của Israel sẽ hát lên:

Trong ngày đó, tại xứ Giu-đa, người ta sẽ hát bài nầy: Chúng ta có thành bền vững! Chúa lấy sự cứu làm tường làm lũy! Hãy mở các cửa, cho dân công bình trung tín vào đó! Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài. Hãy nhờ cậy Đức Giê-hô-va đời đời, vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là vầng đá của các thời đại!

Câu 19 của chương đó mô tả sự sống lại sẽ đem các thánh đồ thời Cựu Ước đến với bàn tiệc: “Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chổi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi”. Da 12:2 hứa sự sống lại của các tín đồ Cựu Ước, thân thể của họ đã ở trong sự hư nát lâu rồi: “Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời”. Linh hồn của các tín hữu ấy đang ở với Chúa rồi. Thân thể của họ sẽ được sống lại vì cớ vương quốc. Da 12:1 nối kết sự sống lại với Kỳ Đại Nạn: “Trong kỳ đó, Mi-ca-ên, quan trưởng lớn, là đấng đứng thay mặt con cái dân ngươi sẽ chổi dậy. Lúc đó sẽ có tai nạn, đến nỗi từ khi mới có nước đến kỳ đó cũng chẳng có như vậy bao giờ. Bấy giờ, trong vòng dân sự ngươi, kẻ nào được ghi trong quyển sách kia thì sẽ được cứu”. Cho nên, tốt nhứt là đặt sự sống lại đó ở ngay phần cuối của Kỳ Đại Nạn. Họ được sống lại làm thực khách tại tiệc cưới và tận hưởng mọi lễ lạc vinh hiển của vương quốc.

Việc đưa Israel vào trong các lễ lạc là một bằng chứng cho lời hứa giàu ơn của Đức Chúa Trời Ngài phục hồi Israel. Israel được phác hoạ là vợ của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước (Es 54:5-6) — buồn thay, lại là người vợ bội đạo, bất trung, như sách Ô-sê minh hoạ. Tuy nhiên, sự cách ly Israel sẽ chẳng phải là thường trực đâu. Trong Os 14:4 Đức Chúa Trời hứa: “Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của chúng nó. Ta sẽ lấy lòng tốt yêu chúng nó; vì cơn giận của ta đã xây khỏi nó rồi”. Trong vương quốc, Đức Chúa Trời sẽ phục hồi lại mối quan hệ của Ngài với người vợ bất trung của Ngài. Và Israel sẽ có một chỗ nổi bật trong Jerusalem Mới, như phần mô tả đã được kể ra trong Kh 21:10 -14 tỏ ra:

Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên: phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con.

Bất kỳ sự phân biệt nào đã được làm ra trong Kinh Thánh, hết thảy những người tin Chúa trong các kỷ nguyên đều sẽ tận hưởng trọn sự vinh hiển của cõi đời đời. Henry Morris viết:

Dù có những sự phân biệt nào tồn tại giữa các thánh đồ trong thời kỳ tiền-Áp-ra-ham, các thánh đồ trong Israel trước Đấng Christ, các thánh đồ giữa vòng các dân Ngoại từ Áp-ra-ham cho đến Đấng Christ, các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, và các thánh đồ trong Hội thánh từ Đấng Christ cho đến Sự Cất Lên . . . các sự phân biệt đó là phụ thuộc trước lẽ thật quan trọng chủ yếu cho rằng hết thảy đều có mặt ở đó bởi công đức cứu chuộc của Đấng Christ và sự tin cậy cá nhân của họ nơi Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá chơn thật và sự tiếp trợ ơn cứu rỗi của Ngài. (The Revelation Record [Wheaton, Ill.: Tyndale, 1983], 389)

Lẽ thật phước hạnh chỉ ra Đức Chúa Trời sẽ ở trong mối tương giao cá nhân đời đời với hết thảy các thánh đồ được chuộc trong mọi kỷ nguyên quan trọng đến nỗi thiên sứ long trọng khẳng định với Giăng: “Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời”. Đối với vị sứ đồ cao tuổi bị lưu đày, làm phu tù trên hòn đảo Bát-mô trơ trụi, cái điều bất khả thi, đáng kinh ngạc là khi Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng vào lúc sau cùng. Trong thời của Giăng, Hội thánh đã bị bắt bớ từ bên ngoài và bị tấn công bởi tà giáo từ bên trong, và nó đã nát vụn ra (xem phần bàn bạc về 7 Hội thánh ở Khải huyền 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1999], các chương 4-10). Sách Khải huyền cho thấy chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời không thể và sẽ không bị ngăn trở đã đem lại sự khuây khoả, yên ủi và vui mừng lớn lao cho vị sứ đồ.

Giăng quá đỗi kinh ngạc nơi sứ điệp của thiên sứ đến nỗi ông bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy (đối chiếu 22:8) — một cách thực hành bị cấm đoán nghiêm ngặt trong Kinh Thánh (Co 2:18; đối chiếu Mat 4:10). Lời quở trách kêu gọi ông ý thức trở lại, vị thiên sứ nói: “Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời”. Giống như Giăng, vị thiên sứ là một tôi tớ của Đức Chúa Trời, được sai đến phục vụ cho Giăng và với anh em ngươi là người giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Các thiên sứ phục vụ hết thảy những người tin Chúa (đối chiếu He 1:14), đặc biệt cho những người, giống như Giăng, có quan hệ đến việc rao giảng Tin lành (đối chiếu 22:9). Vị thiên sứ nhắc cho Giăng nhớ rằng ông cần phải thờ phượng chỉ Đức Chúa Trời mà thôi. Thờ phượng là lẽ đạo của lịch sử cứu chuộc, và mục đích vì đó những người tin Chúa đã được chuộc (Gi 4:23). Đấy cũng là công việc của họ xuyên suốt cõi đời đời.

Lời nói sau cùng của thiên sứ với Giăng là một sự nhắc nhớ rằng “Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri”. Lẽ đạo trọng tâm của lời tiên tri trong Cựu Ước và sự rao giảng Tân Ước là Đức Chúa Jêsus Christ. Cho tới khi sự đến của vương quốc Ngài, hết thảy những ai lo rao giảng Tin lành đều phải trung thành với sự làm chứng của Đức Chúa Jêsus, là sứ điệp Tin lành cứu rỗi, đó là sứ điệp của Ngài. Những người đó sẽ không mất đi sự khẳng định trên trời về chức vụ của họ.

Thực tại vinh hiển cho rằng Đức Chúa Trời sẽ xét đoán kẻ ác và đưa những người tin Chúa vào trong vương quốc của Ngài sẽ khiến cho hết thảy các tín đồ phải hớn hở vui mừng. Phao-lô viết: “Vả, theo sự công bình Đức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em, và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi, trong khi Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng, báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”. (IITe 1:6-8). Vì những người tin Chúa đã được xác định là những kẻ “yêu mến sự hiện đến của Ngài” (IITi 4:8), họ cần phải sốt sắng trông đợi sự tái lâm của Ngài đến từ trời (Phi 3:20).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme