Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật. Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không. Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta. Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai. (21:1-8)
Xuyên suốt lịch sử của Hội thánh, dân sự Đức Chúa Trời đúng là đã có sự bận tâm mãi với thiên đàng. Họ vốn khao khát muốn có những niềm vui đó, bởi vì họ chỉ bị ràng buộc lỏng lẻo với thế gian này. Họ đã tự xem mình là “kẻ khách và bộ hành”, họ “mong muốn một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời” (He 11:13, 16). Cùng với tác giả Thi thiên, họ thưa với Đức Chúa Trời: “Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa. Thịt và lòng tôi bị tiêu hao; Nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi, và là phần tôi đến đời đời” (Thi 73:25-26); và “Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát khe nước. Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?” (Thi 42:1-2). Trải qua nhiều thế kỷ, ao ước muốn gặp Đức Chúa Trời đó (Mat 5:8) và để ở trong sự hiện diện và thưởng thức Ngài cho đến đời đời (Thi 16:11), và khao khát mãnh liệt rằng chẳng có gì trên trái đất này có thể làm cho thỏa mãn (He 11:13-16), đã ghi dấu những người tin Chúa.
Đáng buồn thay, điều đó là không còn thật đối với nhiều người trong Hội thánh ngày nay. Bị chẹt trong sự ào ạt điên rồ của xã hội chỉ muốn thỏa mãn ngay lập tức, thoải mái về vật chất, và niềm đam mê chỉ nhắm vào bản thân mình, Hội thánh đã trở nên thế gian. Không gì minh họa rõ ràng cho tình trạng thế gian đó là sự thiếu quan tâm về thiên đàng trong hiện tại. Hội thánh không ca hát hay rao giảng nhiều về thiên đàng, những người tin Chúa hiếm khi thảo luận về việc ấy, những bài ca không còn được viết về nó nữa, và loại sách nói về thiên đàng thì rất ít ỏi và xa vời. Những người tin Chúa không có thiên đàng trong tâm trí, họ tầm thường hoá đời sống của họ, làm ngăn trở quyền phép của Hội thánh, và cứ mãi bị các thứ ảo tưởng thuộc đời này trở vấn lấy.
Kinh Thánh nói rõ rằng những người tin Chúa phải tập trung vào thiên đàng. Trong Phi 3:20 Phao-lô ghi nhận rằng: “chúng ta là công dân trên trời”. Ông viết cho người Cô-lô-se: “Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất” (Co 3:1-2). Gia-cơ quở trách tình trạng thế gian bằng lời lẽ bất ổn: “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy” (Gia 4:4). Sứ đồ Giăng bổ sung: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời” (IGi 2:15-17).
Một nhận định thiên thượng rất là quan trọng, một khi mọi sự gắn với sự sống và số phận thuộc linh của người tin Chúa đều có ở đó. Cha của họ ở đó, cũng như Cứu Chúa và Đấng Yên Ủi của họ. Rất nhiều tín hữu của họ, những người đã chạy rất thành công các cuộc đua trong đời này của họ đang có mặt ở đó (He 12:23). Tên tuổi của những người tin Chúa đã được ghi lại trên thiên đàng (3:5; 13:8; 17:8; 20:12, 15; 21:27; Phi 4:3), họ là công dân trên trời (Phi 3:20), cơ nghiệp của họ đang ở đó (IPhi 1:4), và phần thưởng của họ (Mat 5:12) và của báu (Mat 19:21) của họ cũng ở đó. Tóm lại, mọi sự có tầm quan trọng lâu dài cho những người tin Chúa đều ở trên trời; đó là quê hương của họ, và họ là những khách lạ, phu tù, và là lữ khách trên đất (ISu 29:15; Thi 119:19; He 11:13-16; IPhi 2:11). Ngay cả sự chết, kẻ thù cuối cùng (ICo 15:26), chỉ đẩy người tin Chúa bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Lời lẽ của Nhà truyền đạo trong Tr 7:1, mặc dù hoài nghi và bi quan, tuy nhiên vẫn là thật đối với người tin Chúa: “ngày chết hơn ngày sanh”. Sự khao khát mãnh liệt của ông về thiên đàng đã khiến Phao-lô phải viết: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy … Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn” (Phi 1:21, 23).
Lòng khao khát thiên đàng tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ trên cuộc sống của những người tin Chúa ở đây trên đất. Trong thư thứ nhứt của ông, sứ đồ Giăng mô tả một trong những lý do chính mà các Cơ Đốc nhân cứ khao khát thiên đàng: “Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy” (IGi 3:2; đối chiếu Phi 3:21). Người tin Chúa sẽ nhận lãnh loại thân thể đã được làm cho vinh hiển, tương tự với thân thể đã được phục sinh của Đấng Christ, trong đó họ sẽ “thấy Ngài như vốn có thật vậy” (đối chiếu ICo 13:12). Khi ấy, Giăng cung ứng hiệu quả thực tế sự hiểu biết như vậy sẽ có trên đời sống của người tin Chúa: “Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch” (IGi 3:3; đối chiếu IIPhi 3:14).
Một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng có nhiều hàm ý và lợi ích quan trọng cho Cơ Đốc nhân. Một sự khát khao thể ấy là một trong những dấu hiệu chắc chắn nhất về sự cứu rỗi chân chính: “Vì của báu các ngươi ở đâu, thì lòng cũng ở đó” (Lu 12:34).
Một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng cũng tạo ra bản tánh Cơ Đốc cao nhất và quý giá nhất. Người nào dành nhiều thời gian suy gẫm về những việc ở trên trời không làm chi khác hơn là có đời sống của họ đã được biến đổi.
Một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng cũng mang lại sự vui mừng và yên ủi trong các cơn thử thách. Người nào tập trung vào sự vinh hiển của thiên đàng có thể chịu đựng bất cứ điều gì trong cuộc đời này mà không mất đi sự vui mừng của họ. Khi họ chịu khổ, họ có thể nói với Phao-lô: “Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên” (IICo 4:17).
Một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng cũng là chất bảo quản chống lại tội lỗi. Người nào đặt tâm trí của họ vào những điều trên cao thì ít có khả năng bị bẫy dò bởi những cám dỗ đời này. “Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh. Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an” (Ro 8:5-6).
Một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng cũng sẽ duy trì sự thờ phượng thuộc linh sống động của người tin Chúa. Người nào chễng mãng trong công việc của Chúa và chỉ đưa ra một nỗ lực thu nhỏ chiếu lệ phục vụ Ngài, tỏ ra ít quan tâm đến những việc đời đời. Họ dại dột lắm khi cứ nghĩ rằng phần thưởng cho việc theo đuổi những thứ thuộc đời này là lớn hơn phần thưởng cho việc theo đuổi những việc ở trên trời.
Sau cùng, một sự khao khát chân thành và mạnh mẽ về thiên đàng tôn vinh Đức Chúa Trời lên trên mọi thứ khác. Người nào tập trung vào thiên đàng tập trung vào Đấng Chí Cao ở trên trời. Bằng cách đặt tấm lòng của họ nơi Ngài, họ đang tôn vinh Đấng mà tấm lòng của Ngài đặt trên họ.
Kinh thánh đề cập đến thiên đàng hơn năm trăm lần. Một mình sách Khải huyền nhắc tới thiên đàng khoảng năm mươi lần. Kinh Thánh phân định ba tầng trời (IICo 12:2). Tầng trời thứ nhứt là bầu khí quyển của địa cầu (Sa 1:20; Giop 12:7; Exe 38:20); tầng trời thứ hai là không gian liên hành tinh và giữa các vì sao (Sa 15:5; 22:17; Phu 1:10; 4:19; Thi 8:3; Es 13:10); tầng trời thứ ba là nơi ngự của Đức Chúa Trời (Phu 4:39; IVua 8:30; Giop 22:12; Thi 14:2; Da 2:28; Mat 5:34; Cong 7:55; He 9:24; IPhi 3:22).
Thiên đàng là một chỗ có thật, chớ không phải là một trạng thái ý thức thuộc linh đâu. Điều đó là hiển nhiên bởi vì có người đã đến đó trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển, tỉ như Hê-nóc (Sa 5:24), Ê-li (IIVua 2:11), và Đức Chúa Jêsus Christ (Cong 1:9). Đấng Christ hiện đang sắm sẵn một chỗ cho những người tin Chúa và một ngày kia sẽ tái lâm để đưa họ lên trời (Gi 14:2-3; ITe 4:16-17) cung cấp thêm bằng chứng cho thấy rằng thiên đàng là một địa điểm. Kinh Thánh không cung ứng một địa điểm cho thiên đàng, nhưng hãy xem xét nó từ nhận định ở dưới đất lên (4:1; IICo 12:2). Mặc dù thiên đàng vốn xa xôi đối với thế giới được dựng nên trong một chiều kích khác, khi những người tin Chúa qua đời, họ sẽ ở đó ngay lập tức (Lu 23:43; IICo 5:8). Những người tin Chúa còn sống ở Sự Cất Lên cũng sẽ được đưa đến thiên đàng ngay lập tức (ITe 4:13-18; ICo 15:51-55).
Phân đoạn Kinh Thánh này mở ra sáu đặc điểm của thiên đàng sau cùng và đời đời, được gọi là trời mới đất mới: sự xuất hiện của trời mới đất mới, thủ đô của trời mới đất mới, thực tại tối cao của trời mới đất mới, những thay đổi trong trời mới đất mới, các cư dân của trời mới đất mới, và các thứ bị vứt bỏ khỏi trời mới đất mới.
SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRỜI MỚI ĐẤT MỚI
Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. (21:1)
Cụm từ kai eidon (Đoạn, tôi thấy) được sử dụng xuyên suốt sách Khải huyền để chỉ ra phần tiến triển theo thời gian (đối chiếu 6:1,2,5,8,12; 7:2; 8:2,13; 9:1; 10:1; 13:1, 11; 14:1, 6, 14; 15:1; 16:13; 17:3; 19:11, 17, 19; 20:1, 4, 11). Cụm từ đó giới thiệu từng biến cố đỉnh điểm bắt đầu với sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ trong 19:11. Khi chương 21 mở ra, hết thảy tội nhân trong mọi thời đại, cũng như Sa-tan cùng các quỉ sứ hắn, đã bị kết án quăng vào trong hồ lửa (20:10-15). Với hết thảy những con người bất kỉnh và thiên sứ bị trục xuất cho đến đời đời và vũ trụ hiện tại đã bị hủy diệt (20:11), Đức Chúa Trời sẽ dựng nên một lãnh vực mới cho kẻ được chuộc cùng các thiên sứ thánh ăn ở cho đến đời đời.
Cụm từ trời mới và đất mới rút ra từ hai phân đoạn trong sách Ê-sai. Ở Es 65:17 Đức Chúa Trời tuyên bố: “Ta sẽ dựng trời mới đất mới; những việc trước sẽ chẳng nhớ nữa, chẳng còn nhắc đến nữa”. Ở Es 66:22 Ngài phán thêm: “Vì như trời mới đất mới mà ta hầu dựng, sẽ cứ còn trước mặt ta thể nào, thì dòng giống và danh hiệu các ngươi cũng sẽ cứ còn thể ấy”. Những gì Ê-sai dự đoán giờ đây là một thực tại trong sự mặc thị của Giăng.
Kainos (mới) không có nghĩa là mới theo ý nghĩa của thời gian, mà là mới trong một ý nghĩa về phẩm chất. Trời mới và đất mới không những là nối tiếp vũ trụ hiện tại theo trình tự thời gian; chúng sẽ là một thứ mới mẻ, tươi mới, chưa từng thấy trước đây. Đức Chúa Trời phải dựng nên trời mới đất mới bởi vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất. Nguyên Đức Chúa Trời dựng nên trái đất để thích hợp làm một ngôi nhà thường trực cho nhân loại. Tuy nhiên, khi tội lỗi thâm nhập vào, làm hư hoại địa cầu và vũ trụ, và Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt chúng (đối chiếu 20:11). Những gì có ở trước mặt cho địa cầu không phải là một vụ hủy diệt hạt nhân hay sinh thái, mà là một sự phán xét thiêng liêng.
Cựu Ước mô tả sự ô nhiễm và sự hủy diệt của vũ trụ hiện tại. Giop 15:15 công bố rằng: “các từng trời cũng chẳng trong sạch trước mặt Ngài thay”. Es 24:5 nói thêm: “Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời”. Tác giả Thi thiên viết: “Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, các từng trời là công việc của tay Chúa. Trời đất sẽ bị hư hoại, song Chúa hằng còn; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo, và nó bị biến thay” (Thi 102:25-26). Đức Chúa Jêsus Christ đã khẳng định sự dạy của Cựu Ước đó khi Ngài công bố: “Trời đất sẽ qua” (Lu 21:33).
Gợi ý đầu tiên về trời mới và đất mới sẽ ra thể nào thì theo quan sát của Giăng sẽ chẳng còn có biển nữa. Đó sẽ là một sự thay đổi đáng ngạc nhiên đối với đất trong hiện tại, gần ba phần tư địa cầu bị biển bao phủ. Biển là biểu tượng của môi trường hiện tại chiếu theo nước. Mọi sự sống trên đất đều nương vào nước để mà tồn tại, và đất là chỗ được biết duy nhất trong vũ trụ rằng ở đó có đủ nước để duy trì sự sống. Nhưng loại thân thể đã được làm cho vinh hiển của người tin Chúa sẽ không đòi hỏi nước, không giống như loại thân thể của con người hiện tại, máu của họ là 90% nước, và thịt của họ là 65% nước. Như vậy, trời mới và đất mới sẽ chiếu theo nguyên tắc sống hoàn toàn khác với vũ trụ hiện tại. Sẽ có một dòng sông ở trên trời, không phải thuộc về nước, mà là “nước sống” (22:1, 17). Không có biển chi hết, sẽ chẳng có chu kỳ thủy văn, để từng tạo vật của sự sống và khí hậu sẽ khác nhau đáng kể.
Nói theo cách hình bóng, các nhà giải kinh xem sự thiếu mất của biển là biểu tượng của sự thiếu mất đi điều ác. Robert L. Thomas tóm tắt:
Hầu hết nhìn thấy sự trống trơn rõ ràng này tiêu biểu cho một ý nghĩa nguyên mẫu về biển (đối chiếu 13:1; 20:13), nguyên tắc rối loạn, bạo lực hoặc bất ổn đánh dấu sự sáng tạo cũ (đối chiếu Es 57:20; Thi 107:25-28; Exe 28:8) … Ấy chẳng phải bản thân biển là điều ác đâu, nhưng ở một mặt nó là một trong những sự thù nghịch đối với nhân loại. Thí dụ, biển là thứ canh gác Giăng trong cảnh tù đày của ông trên đảo Bát-mô và tách ông ra khỏi các Hội thánh ở châu Á … Biển là điều ác thứ nhứt trong bảy điều ác mà Giăng nói sẽ chẳng còn tồn tại nữa, sáu điều kia là sự chết, than vãn, khóc lóc, đau khổ (21:4), rủa sã (22:3), và ban đêm (21:25; 22:5). (Revelation 8-22: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1995], 440).
THỦ ĐÔ CỦA TRỜI MỚI ĐẤT MỚI
Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. (21:2)
Là chặng tiếp theo trong mặc thị của ông mở ra, sứ đồ Giăng chuyển từ phần mô tả về trời mới và đất mới nói chung sang phần mô tả về thành phố thủ phủ của tình trạng đời đời. Kể từ khi phân đoạn Kinh Thánh rõ ràng xác định như vậy, không có lý do gì để nghi ngờ rằng thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, là một thành phố có thật. Giê-ru-sa-lem mới không phải là thiên đàng, mà là thủ phủ của thiên đàng. Nó không đồng nghĩa với thiên đàng, bởi vì kích thước của nó đã được cung ứng cho ở 21:16. Đây sẽ là thành phố thứ ba có tên là Giê-ru-sa-lem trong lịch sử cứu chuộc. Thứ nhứt là thành Giê-ru-sa-lem lịch sử, thành David, hiện đang tồn tại trong xứ Palestine. Thánh Kinh liên tục gọi nó là thành thánh (11:2; Ne 11:1; Es 52:1; Da 9:24; Mat 4:5; 27:53) bởi vì nó được biệt riêng ra cho các mục đích của Đức Chúa Trời. Giê-ru-sa-lem thứ hai sẽ là Giê-ru-sa-lem được phục hồi, ở đó Đấng Christ sẽ cai trị trong vương quốc thiên hi niên.
Nhưng Giê-ru-sa-lem mới không thuộc về sự sáng tạo thứ nhứt, cho nên nó không phải là thành phố lịch sử, cũng không phải là thành phố ngàn năm; nó hoàn toàn là thành phố mới đời đời (đối chiếu câu 10; 3:12; He 11:10; 12:22-24; 13:14). Thành Giê-ru-sa-lem cũ, trong những đống đổ nát cả 25 năm khi Giăng nhận lãnh sự mặc thị này, đã quá bẩn thỉu với tội lỗi, một phần trong sự sáng tạo cũ còn tồn tại quá lâu không thể trở thành thể trạng đời đời được. Giê-ru-sa-lem mới được gọi là thành thánh bởi vì mọi người sống trong đó đều là thánh, vì “Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất!” (20:6). Khái niệm về một thành phố bao gồm các mối quan hệ, sinh hoạt, trách nhiệm, hiệp một, xã hội hoá, thông công, và sự cộng tác. Không giống như các thành phố gian ác của thế gian hiện tại, hạng người hoàn toàn thánh khiết trong Giê-ru-sa-lem mới sẽ sống và làm việc cùng nhau trong sự hài hòa trọn vẹn.
Trong sự mặc thị của ông, Giăng nhìn thấy Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, “Đấng đã xây cất và sáng lập” ra nó (He 11:10). Hàm ý cho thấy rằng nó đã tồn tại rồi, một sự thật được củng cố bởi He 12:22-23: “Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại, gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành”. Mọi sự trên thiên đàng hiện được chứa trong Giê-ru-sa-lem mới; nó được biệt riêng ra khỏi vũ trụ hiện tại, là nơi bị ô uế bởi tội lỗi. Những người tin Chúa nào qua đời đi thẳng đến “Giê-ru-sa-lem trên trời”, ở đó Chúa Jêsus đã đi trước họ để sắm sẵn một chỗ cho họ (Gi 14:1-3). Nhưng khi Đức Chúa Trời dựng nên trời mới đất mới, Giê-ru-sa-lem mới sẽ giáng xuống ở giữa vũ trụ mới thánh khiết đó (21:10), và đóng vai trò là nơi ở của người được chuộc cho cõi đời đời. Vì ngai vàng của Đức Chúa Trời sẽ ở trong Giê-ru-sa-lem mới, sẽ ngự xuống đất mới, thành phố đó sẽ là mối liên kết giữa đất mới và trời mới. (Về phần mô tả Giê-ru-sa-lem mới, hãy xem chương 19 của tập sách này).
Sau phần mô tả thêm về thành phố thủ phủ của thiên đàng, Giăng lưu ý rằng thành này sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. Thành phố được phác hoạ là một cô dâu vì nó chứa cô dâu và mang tính cách của cô dâu. Hình ảnh được vẽ ra từ một đám cưới của người Do-thái, thường có ba phần. Thứ nhứt là sự hứa hôn, giống như một lễ đính hôn ngày nay, nhưng ràng buộc về mặt pháp lý nhiều hơn. Sự hứa hôn của cô dâu của Đức Giê-hô-va đã diễn ra trong quá khứ đời đời khi Đức Chúa Trời thề với Con của Ngài một dân được chuộc. Chặng kế tiếp là lễ trình diện, một thời gian của kỷ niệm và tiệc tùng dẫn đến lễ cưới chính thức. Việc trình diện của cô dâu diễn ra theo sau Sự Cất Lên của Hội thánh, khi những người tin Chúa được đưa lên trời. Chặng thứ ba là buổi lễ, để cho cô dâu của Chúa bắt đầu tại bữa tiệc cưới của Chiên Con (19:7-9) và trải dài qua vương quốc ngàn năm. Chặng sau cùng là sự kết thúc, tương xứng với thể trạng đời đời. Giăng nhìn thấy cô dâu trang sức cho chồng mình bởi vì đã đến lúc phải hoàn thành. Adorned (Trang sức) ra từ động từ kosme¯o (“trang điểm” hay “sửa soạn”); kosmos danh từ liên quan (được dịch “trang sức” trong IPhi 3:3) là từ gốc của chữ Anh ngữ cosmetics “mỹ phẩm”. Cô dâu đã trang sức phù hợp với vẻ đẹp của nàng. Đến điểm này trong sách Khải huyền, khái niệm cô dâu mở rộng không những bao gồm Hội thánh (như đã có từ Công Vụ các Sứ Đồ 2), mà còn hết thảy phần còn lại kẻ được chuộc từ khắp mọi thời đại, họ sống cho đến đời đời trong thành phố đời đời đó (xem phần bàn bạc 19:9 trong chương 14 của tập sách này). Đây là khoảnh khắc được Phao-lô mô tả trong ICo 15:28: “Khi muôn vật đã phục Ngài, thì bấy giờ chính mình Con sẽ phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, hầu cho Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự”.
THỰC TẠI TỐI THƯỢNG VỀ TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI
Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. (21:3)
Sự vinh hiển tối thượng và sự vui mừng của thiên đàng là Thân Vị Đức Chúa Trời (đối chiếu Thi 73:25). Ở đây, hai mươi lần trước đây trong sách Khải huyền, có tiếng lớn báo trước một lời tuyên bố rất quan trọng. Nguồn gốc của tiếng ấy không được tiết lộ. Đấy chẳng phải là Đức Chúa Trời (người nói trong câu 5), nhưng có lẽ là một thiên sứ (đối chiếu 5:2; 7:2; 14:9, 15, 18; 19:17). Sứ điệp khăng khăng mà người đưa ra là: “nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người!” Sken¯e (đền tạm) cũng có nghĩa là “trại” hay “nơi ngự”. Đức Chúa Trời sẽ dựng trại của Ngài ở giữa vòng dân sự Ngài; Ngài không còn ở xa, xa vời, siêu việt. Sự hiện diện của Ngài không còn bị che phủ trong hình dạng con người của Đức Chúa Jêsus Christ, thậm chí trong sự oai nghi ngàn năm của Ngài, hoặc trong đám mây và trụ lửa, hay bên trong Nơi Chí Thánh. Thực tại đáng kinh ngạc cho thấy rằng “kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!” (Mat 5:8) sẽ ứng nghiệm. Lời cầu nguyện của Đấng Christ, được ghi lại trong Gi 17:24, sẽ được nhậm: “Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con” (đối chiếu Gi 14:1-3; ITe 4:13-17). Sẽ “không thấy đền thờ nào [trên thiên đàng]; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành” (21:22). Sự hiện diện của họ sẽ phủ lấy thiên đàng và sẽ không bị ngăn trở ở một chỗ tỏ ra nào.
Vì vậy, lẽ thật đáng kinh ngạc này cho thấy tiếng trên trời lặp đi lặp lại vấn đề đó bằng mấy cách thức. Đối với thực tại khuấy đão lý trí cho rằng đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người, Ngài nói thêm rằng Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng (đối chiếu 22:3-4). Đây sẽ là việc tỏ ra sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài như không cho ai khác trong lịch sử cứu chuộc và đỉnh cao của mọi lời hứa thiêng liêng và hy vọng của con người (Le 26:11-12; Gie 24:7; 30:22; 31:1,33; 32:38; Exe 37:27; 48:35; Xa 2:10; 8:8; IICo 6:16).
Sống trong sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời trên trời là sống như thế nào? Thứ nhất, người tin Chúa sẽ thưởng thức mối thông công với Ngài. Mối tương giao bất toàn, bị tội lỗi ngăn trở mà người tin Chúa có với Đức Chúa Trời trong đời này (IGi 1:3) sẽ trở nên trọn vẹn, hoàn toàn, và không giới hạn. Trong quyển sách kinh điển của ông viết về thiên đàng có đề tựa The Saints ‘Everlasting Rest [Sự Yên Nghỉ Đời Đời Của Thánh Đồ], Richard Baxter Mục sư Thanh Giáo của thế kỷ 17 mô tả sự hiệp thông thân mật với Đức Chúa Trời mà những người tin Chúa sẽ vui hưởng trên thiên đàng:
Chẳng có gì phải nghi ngờ khi Đức Chúa Trời thúc đẩy các giác quan của chúng ta, và phóng to năng lực của chúng ta, vậy thì Ngài sẽ thúc đẩy khả năng của các giác quan đó và lấp đầy chính mình Ngài với mọi năng lực đó … Khi ấy chúng ta sẽ có sự sáng mà không cần đèn, và mỗi ngày mà không cần có mặt trời … Rồi chúng ta sẽ được soi sáng các sự hiểu biết mà không cần có Kinh thánh, và bị quản trị mà không cần luật thành văn; vì Chúa sẽ hoàn thiện luật pháp của Ngài ở trong lòng chúng ta, và chúng ta sẽ được dạy dỗ đầy đủ về Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ có sự vui mừng, là điều mà chúng ta không rút ra được từ những lời hứa, và cũng không đem về nhà bởi đức tin hay bằng hy vọng. Chúng ta sẽ có sự tương giao mà không cần các thánh lễ, không cần trái của cây nho, khi Đấng Christ sẽ uống rượu nho mới với chúng ta trong vương quốc của Cha Ngài và làm cho chúng ta tươi mới với rượu yên ủi thưởng thức có liền. Có các nhu cần, mà không có nguồn cung cấp, là trường hợp của họ ở trong địa ngục. Để có nhu cần được cung ứng cho qua các phương tiện của các tạo vật, là trường hợp của chúng ta trên trái đất. Để có nhu cần được cung ứng liền từ Đức Chúa Trời, là trường hợp của các thánh đồ ở trên trời. Chẳng có nhu cần gì hết, là đặc quyền của chính mình Đức Chúa Trời. (The Practical Works of Richard Baxter [reprint; Grand Rapids: Baker, 1981], 7, 16)
Thứ hai, những người tin Chúa sẽ thấy Đức Chúa Trời như Ngài vốn có thật vậy. Trong IGi 3:2 sứ đồ Giăng viết: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”. Một cái nhìn thẳng thừng như thế về Đức Chúa Trời là bất khả thi cho hạng người hay chết. Không một người nào sống đã từng nhìn thấy Đức Chúa Trời trong sự đầy dẫy vinh hiển của Ngài (Gi 1:18; 6:46; IGi 4:12); Ngài là vô hình (Co 1:15; ITi 1:17) và “ở nơi sự sáng không thể đến gần được” (ITe 6:16; đối chiếu Thi thiên 104:2), tiếp xúc với điều đó có nghĩa là chết liền cho bất kỳ người nào sống (Xu 33:20). Nhưng trên thiên đàng: “kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời” (Mat 5:8), vì họ sẽ thánh khiết một cách hoàn toàn. Họ sẽ được ban cho một sự khải thị đời đời và mở rộng về Đức Chúa Trời biểu hiện trong sự vinh hiển chói loà của Ngài (21:11, 23; 22:5). Ngay cả các thánh đồ trong sự vinh hiển trên trời cũng sẽ không thể hiểu được mọi sự oai nghi vô hạn của sự sống kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Nhưng họ sẽ nhìn thấy mọi tạo vật đã được làm cho vinh hiển có khả năng hiểu được. Có điều kỳ diệu nào mà Phao-lô, khi suy nghĩ về sự vinh hiển của thiên đàng, ông lại “muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn”? (Phi 1:23)
Trong bài thánh ca tuyệt vời nhưng hiếm khi được hát của cô: “My Savior First of All,”, Fanny Crosby vang dội với tình cảm của Phao-lô:
Khi công việc đời tôi kết thúc và tôi vượt qua cơn sóng lớn, khi tôi nhìn thấy ban mai rực rỡ và vinh hiển,
Tôi sẽ gặp Đấng chuộc tôi khi tôi qua đến bờ bên kia, và điều đón tiếp tôi trước tiên sẽ là nụ cười của Ngài.
Qua hai cánh cổng thành, Ngài mặc bạch y không tì vết, Ngài sẽ dẫn tôi đến chỗ mà nước mắt sẽ chẳng hề tuôn,
Trong bài ca vui vẻ của mọi thời đại tôi sẽ hòa mình với sự thích thú — nhưng tôi ao ước được gặp Cứu Chúa tôi trước tiên.
Thứ ba, những người tin Chúa sẽ thờ lạy Đức Chúa Trời. Từng cái nhìn thoáng qua về thiên đàng trong sách Khải huyền đều chỉ ra kẻ được chuộc và các thiên sứ đang ở chỗ thờ phượng (4:10; 5:14; 7:11; 11:1, 16; 19:4). Điều đó không đáng ngạc nhiên, vì Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 4:23 rằng “những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy”. Trên thiên đàng, các thánh đồ đã được làm cho vinh hiển, hoàn hảo sẽ dâng lên Đức Chúa Trời sự thờ phượng trọn vẹn.
Thứ tư, những người tin Chúa sẽ phục vụ Đức Chúa Trời (22:3). Điều được nói về các thánh đồ ở trên trời đã được mô tả ở 7:15 rằng “ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài”. Khả năng của những người tin Chúa cho sự phục vụ trên trời sẽ phản ảnh lòng trung thành của họ trong đời này. Hết thảy những người tin Chúa sẽ được tưởng thưởng với nhiều khả năng cho sự thờ phượng ở trên trời, nhưng các khả năng đó sẽ khác nhau (ICo 3:12-15; 4:5).
Sau cùng, và đáng kinh ngạc nhất trong mọi sự, Chúa sẽ phục vụ những người tin Chúa.
Chúa Jêsus đã phán một thí dụ phản ánh lẽ thật ấy trong Lu 12:35-40:
Lưng các ngươi phải thắt lại, đèn các ngươi phải thắp lên. Hãy làm như người chờ đợi chủ mình ở tiệc cưới về, để lúc chủ đến gõ cửa thì liền mở. Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ thức canh! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ thắt lưng mình, cho đầy tớ ngồi bàn mình, và đến hầu việc họ. Hoặc canh hai, canh ba, chủ trở về, nếu thấy đầy tớ như vậy thì phước cho họ! Hãy biết rõ, nếu chủ nhà hay kẻ trộm đến giờ nào, thì sẽ tỉnh thức, chẳng để cho nó đào ngạch nhà đâu. Các ngươi cũng vậy, hãy chực cho sẵn sàng, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
Chúa Jêsus phác hoạ chính mình Ngài là một người nhà giàu, người trở về với tài sản của mình sau một chuyến đi dài. Sau khi thấy các tôi tớ mình phục vụ cách trung tín khi ông vắng mặt, ông ban thưởng cho họ bằng cách nắm lấy vai trò của một tôi tớ và dọn một bữa tiệc đãi họ. Cũng một thể ấy với những người tin Chúa ở trên trời, đời đời được phục vụ một bữa tiệc thiên thượng đầy sự vui mừng bởi Chúa của họ.
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI
“Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật. Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng” (21:4-6a)
Thiên đàng sẽ khác biệt đáng kể so với thế giới hiện tại mô tả nó đòi hỏi cách sử dụng những tiêu cực, cũng như những mặt tích cực trước đó. Để mô tả những gì hoàn toàn vượt trỗi hơn sự suy tưởng của con người cũng đòi hỏi việc chỉ ra nó khác biệt ra sao so với kinh nghiệm của con người trong hiện tại.
Sự thay đổi thứ nhứt từ sự sống trên đất những người tin Chúa ở trên trời sẽ kinh nghiệm, ấy là Đức Chúa Trời sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt họ (đối chiếu 7:17; Es 25:8). Nói như thế không có nghĩa là người nào bước vào thiên đàng sẽ khóc lóc và Đức Chúa Trời sẽ yên ủi họ. Như một số người tưởng tượng, họ sẽ không khóc lóc khi họ đối mặt với tường trình về tội lỗi của họ. Không có một tường trình nào như vậy hết, bởi vì “chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Ro 8:1), vì Đấng Christ “gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh” (IPhi 2:24). Những gì nó tuyên bố là sự thiếu vắng của bất cứ việc gì phải lấy làm tiếc — không có buồn rầu, không có thất vọng, không có đau khổ chi hết. Sẽ không có nước mắt của bất hạnh, nước mắt mất mát tình yêu, nước mắt của hối hận, nước mắt của nuối tiếc, nước mắt trước cái chết của người thân, hoặc nước mắt vì bất kỳ lý do nào khác.
Một sự khác biệt đáng kể đối với thế giới hiện tại sẽ là sự khác biệt ở trên trời, sẽ không có sự chết nữa (đối chiếu Es 25:8). Sự rủa sã lớn lao nhất về sự tồn tại của con người sẽ không còn có nữa. “Sự chết”, như Phao-lô đã hứa, “bị nuốt mất trong sự thắng” (ICo 15:54). Cả hai: Sa-tan, kẻ có quyền lực của sự chết (He 2:14) và bản thân sự chết sẽ bị quăng vào trong hồ lửa (20:10, 14).
Cũng sẽ không có than khóc, kêu ca hay đau đớn ở trên trời. Sự đau buồn, khổ sở và rầu rĩ tạo ra than khóc và biểu hiện bên ngoài của nó, kêu ca, sẽ không có trên thiên đàng. Thực tại vinh hiển này sẽ là sự ứng nghiệm của Es 53:3-4: “Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ”. Khi Đấng Christ gánh lấy tội lỗi của những người tin Chúa trên thập tự giá, Ngài cũng gánh lấy mọi sự buồn rầu của họ, vì tội lỗi là cái cớ cho sự buồn rầu đó.
Sự thánh khiết trọn vẹn và sự vắng mặt của tội lỗi đánh dấu thiên đàng cũng có nghĩa là sẽ chẳng còn có đau đớn nữa. Trên thập tự giá, Chúa Jêsus “đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh” (Es 53:5). Trong khi sự chữa lành đích thực trong câu nói ấy chủ yếu là sự chữa lành thuộc linh, nó cũng bao gồm sự chữa lành về mặt thuộc thể nữa. Sau khi nhận xét về sự Chúa Jêsus chữa lành cho bà gia Phi-e-rơ, Mat 8:17 chép: “vậy cho được ứng nghiệm lời của Đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng: Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta, và gánh bịnh hoạn của chúng ta”. Chức vụ chữa lành của Chúa Jêsus là một cái nhìn trước về sự mạnh giỏi sẽ đánh dấu vương quốc thiên hi niên và trạng thái đời đời. Những người tin Chúa có loại thân thể đã được làm cho vinh hiển, tự do đối với tội lỗi, họ sẽ có trên thiên đàng sẽ không là đối tượng cho đau đớn bất kỳ loại nào.
Mọi sự thay đổi đó sẽ đánh dấu trời mới và đất mới chỉ ra rằng những sự thứ nhứt đã qua rồi. Kinh nghiệm của con người cũ liên quan đến sự sáng tạo ban đầu, sa ngã đã biến mất cho đến đời đời, và cùng với nó hết thảy những sự than khóc, khổ sở, buồn rầu, bệnh tật, đau đớn và sự chết đã đánh dấu nó kể từ khi có Sự Sa Ngã. Việc tóm tắt những thay đổi đó theo một cách tích cực, Đấng ngự trên ngôi phán rằng: “Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật”. Đấng ngự trên ngôi là cùng một Đấng “trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa” (20:11). Như đã lưu ý trong chương 17 của tập sách này, vũ trụ hiện tại đã không được dựng nên. Trời mới và đất mới sẽ thực sự là một sự dựng nên mới, và không những là một sự tân trang lại của trời và đất hiện tại. Trong sự dựng nên mới đời đời đó, sẽ không có nhiệt lượng, không có sự hao mòn, không có sự phân rã, không có sự suy tàn, và không có sự lãng phí.
Dường như Giăng đã mất tập trung khi bị phủ lút bởi mọi sự mà ông đã xem thấy. Vì vậy, chính mình Đức Chúa Trời, Đấng vinh hiển, oai nghi ngự trên ngôi đã phán cùng ông: “Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật” (đối chiếu 1:19). Những lời Giăng được Chúa truyền cho phải chép đều là trung tín và chân thật (đối chiếu 22:6) y như Đấng đã tỏ chúng ra cho ông (3:14; 19:11). Mặc dù “trời và đất [hiện tại] sẽ qua đi”, nhưng “lời của Đức Chúa Trời sẽ không qua đi” (Lu 21:33). Sẽ có một sự kết thúc cho vũ trụ, nhưng không phải cho lẽ thật mà Đức Chúa Trời tỏ ra cho dân sự của Ngài. Dù con người có hiểu hay tin theo lẽ thật ấy hay không, lời ấy sẽ ứng nghiệm.
Cũng bằng cách tóm tắt, tiếng nói oai nghi của Đấng ngự trên ngôi đã phán cùng Giăng: “Xong rồi”. Những lời đó gợi nhớ đến lời lẽ của Chúa Jêsus trên thập tự giá: “Mọi sự đã được trọn!” (Gi 19:30). Lời lẽ của Chúa Jêsus đánh dấu sự trọn vẹn của công tác cứu chuộc; những lời này đánh dấu phần kết thúc của lịch sử cứu chuộc. Đó là thời điểm mà Phao-lô đã viết trong ICo 15:24-28:
Kế đó, cuối cùng sẽ đến, là lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã phá diệt mọi đế quốc, mọi quyền cai trị, và mọi thế lực; vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng đặt những kẻ thù nghịch dưới chơn mình. – Kẻ thù bị hủy diệt sau cùng, tức là sự chết. – Vả, Đức Chúa Trời đã để muôn vật dưới chơn Ngài; mà đã nói rằng muôn vật phục Ngài, thì chắc phải trừ ra Đấng làm cho muôn vật phục Ngài. Khi muôn vật đã phục Ngài, thì bấy giờ chính mình Con sẽ phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, hầu cho Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự.
Đấng ngồi trên ngôi đủ tư cách công bố phần kết thúc của lịch sử cứu chuộc, bởi vì Ngài là An-pha và Ô-mê-ga (hai mẫu tự đầu và cuối trong bảng mẫu tự Hy-lạp; đối chiếu 1:8), đầu tiên và cuối cùng (đối chiếu Es 44:6; 48:12). Đức Chúa Trời đã bắt đầu lịch sử, và Ngài sẽ kết thúc nó, và mọi sự trong đó đã được mở ra theo chương trình tối thượng của Ngài. Cũng chính cụm từ này được áp dụng cho Đức Chúa Jêsus Christ ở 22:13 cung ứng minh chứng về thần tánh và sự đồng đẳng trọn vẹn của Ngài với Đức Chúa Cha.
CÁC CƯ DÂN CỦA TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI
Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không. Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta. (21:6b-7)
Hai cụm từ có tính cách mô tả tỏ ra ai sẽ sống trong trời mới và đất mới. Thứ nhứt, một công dân của thiên quốc được mô tả là kẻ nào khát. Cụm từ đó chỉ ra hạng người biết công nhận nhu cầu thuộc linh tuyệt vọng của họ: “đói khát cho sự công bình” (Mat 5:6). Họ là những người mà Ê-sai kêu lên: “ Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước! Và người nào không có tiền bạc, hãy đến, mua mà ăn! Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền, không đòi giá” (Es 55:1). Người nào sẽ được chuộc rồi bước vào thiên đàng là những người không thoả lòng với tình trạng vô vọng, hư mất của họ và khao khát sự công bình của Đức Chúa Trời với từng chi tiết sự sống của họ. Tác giả Thi thiên đã tỏ ra sự khát khao mạnh mẽ trong Thi 42: 1-2: “Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát khe nước. Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?” Lời hứa dành cho những người tìm kiếm nghiêm túc thể ấy, là cơn khát của họ sẽ được thỏa mãn. Đức Chúa Trời sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không. Chúa Jêsus đã hứa với người đàn bà Sa-ma-ri tại bên giếng của Gia-cốp: “Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời” (Gi 4:13-14). Đây là nước mà Ngài đã nói trong Gi7:37-38: “Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy”. Chính lời hứa này cũng được lặp lại ở 22:17 (đối chiếu 7:17): “Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không”. Nước trong hết thảy các phân đoạn đó tiêu biểu cho sự sống đời đời. Người nào khát khao và nhiệt tình tìm kiếm ơn cứu rỗi là những người sẽ nhận lãnh ơn ấy và tận hưởng ơn phước đời đời của thiên đàng.
Thứ hai, thiên đàng thuộc về kẻ nào thắng. Một kẻ thắng, theo IGi 5:4-5, là một người luyện tập đức tin cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ. Kẻ thắng là người nhơn đức tin uống nước của sự cứu rỗi do Đức Chúa Trời ban hiến cho nhưng không. Giăng sử dụng thuật ngữ đặc biệt này cho những người tin Chúa trong lời hứa kết thúc của từng thư tín viết cho bảy Hội thánh (xem phần bàn bạc 2:7, 11, 17, 26; 3:5, 12, 21 trong Khải huyền 1-11, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1999], 53-141). Lời hứa ở đây cho kẻ nào thắng, ấy là họ hưởng những điều này làm cơ nghiệp. Họ sẽ có “cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho [anh em]” (IPhi 1:4). Họ sẽ thưởng thức sự trọn lành của linh hồn (He 12:23) và thân thể (20:6; Gi 5:28-29; Ro 8:23; ICo 15:35-44; IICo 5:2; Phi 3:21; IGi 3:2) đời đời trong ơn phước của trời mới và đất mới
Nhưng lời hứa tuyệt vời nhất cho kẻ nào thắng, người nào khát khao sự công bình, là lời hứa của Đức Chúa Trời, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người (đối chiếu Sa 17:7-8; Xu 6:7; 29:45; Le 26:12; Phu 29:13; IISa 7:24; Gie 7:23; 11:4; 24:7; 30:22; Exe 11:20; 34:24; 36:28; 37:23, 27; Xa 8:8). Thật ngạc nhiên khi lời hứa của Đức Chúa Trời cho rằng kẻ nào thắng sẽ làm con ta. Ngay cả trong đời này, đây là đặc quyền của người tin Chúa được làm con nuôi của Chúa Tễ của vũ trụ (Gi1:12; Ro 8:14-17; IICo 6:18; Ga 4:5; Eph 1:5; He 12:5-9; IGi 3:1). Nhưng chỉ trên thiên đàng, khi những người tin Chúa đến với cơ nghiệp của họ (IPhi 1:4), thì sự làm con nuôi ấy mới được nhìn biết cách đầy đủ (Ro 8:23).
NHỮNG KẺ BỊ RUỒNG BỎ NGOÀI TRỜI MỚI VÀ ĐẤT MỚI
“Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai” (21:8)
Giăng kết luận nhận định của mình về trời mới và đất mới với một lời cảnh cáo nghiêm trọng và trầm trọng. Ông phác họa ra những kẻ sẽ bị loại trừ không được dự phần gì trong các ơn phước của thiên đàng — hết thảy tội nhân không được tha thứ và không được cứu chuộc. Có những bảng danh sách tương tự của hạng tội nhân như thế trong 22:15; Ro 1:28-32; ICo 6:9-10; Ga 5:19-21; và IITi 3:2-5.
Nhóm thứ nhứt bị loại khỏi thiên đàng là kẻ hèn nhát. Đây là những kẻ không có sự nhịn nhục (Mat 24:13; Mac 8:35). Họ đã bỏ đi khi đức tin của họ bị thách thức hoặc bị phản đối, bởi vì đức tin của họ không phải là chân thật. Chúa Jêsus đã mô tả loại người thể ấy trong thí dụ nói tới các loại đất: “Người nào chịu lấy hột giống nơi đất đá sỏi, tức là kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy; song trong lòng không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự bắt bớ, thì liền vấp phạm” (Mat 13:20-21). Đây là những người “lui đi cho hư mất” (He 10:39). Trong Gi 8:31, Chúa Jêsus đã xác định những người có đức tin chân thật là những kẻ cứ tiếp tục trong Lời của Ngài. (Về phần bàn bạc vấn đề này sâu hơn, hãy xem các quyển sách của tôi Tin lành Theo Chúa Jêsus [rev. ed., Grand Rapids: Zondervan, 1994], và Tin lành theo các sứ đồ [Nashville: Word, 2000]). Bởi vì họ thiếu đức tin và chẳng tin, thái độ bất trung của họ loại trừ họ ra khỏi thiên đàng. Họ cũng đáng gớm ghét (xấu xa, bẩn thỉu, đáng ghét, hoàn toàn sống gian ác và xấu xa), kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép (từ tiếng Hy-lạp pharmakos, từ đó rút ra chữ Anh ngữ là “pharmacy” [dược] và “pharmaceuticals” [dược khoa]; chỉ ra những kẻ sử dụng các loại thuốc men làm cho tâm trí lệch lạc trong tà giáo), kẻ thờ thần tượng và kẻ nói dối. Những kẻ mà đời sống của họ được đánh dấu bởi các thứ ấy cung ứng bằng chứng cho thấy họ không được cứu và sẽ không bao giờ bước vào thủ phủ ở trên trời. Ngược lại, phần của họ sẽ ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai. Ngược lại với ơn phước đời đời của người công bình trên thiên đàng, kẻ ác sẽ gánh chịu hình khổ đời đời trong địa ngục. (Về phần bàn bạc sâu hơn nói tới hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai, hãy xem chương 17 của tập sách này).
Trời mới và đất mới đang chờ đợi những người tin Chúa và địa ngục sau cùng đang chờ đợi những kẻ chẳng tin. Đối với người tin Chúa, đó sẽ là một vũ trụ hạnh phước đời đời khi họ ở đời đời trong sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời. Còn đối với những kẻ chẳng tin, đó sẽ là một nơi kinh khiếp của hình khổ không thể chịu nổi và đau khổ ray rứt ở ngoài sự hiện diện của Đức Chúa Trời (IITe 1:9). Những lựa chọn mà người nam người nữ đưa ra trong đời này quyết định những lãnh vực mà họ sẽ sống đời đời trong đó.