Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con. Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên: phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con. Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành. Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau. Người lại đo tường thành: được một trăm bốn mươi bốn cu-đê, là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ. Tường thì xây bằng bích ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thủy tinh trong vắt. Những nền tường thành thì trang sức đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; nền thứ ba, bằng lục mã não; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm; nền thứ năm, bằng hồng mã não; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu. Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu; mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành. Đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt. Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó. Những cửa thành ban ngày không đóng, vì ở đó không có ban đêm. Người ta sẽ đem vinh hiển và phú quí của các dân đến đó; kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con.
Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra. Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa; ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài; chúng sẽ được thấy mặt Chúa, và danh Chúa sẽ ở trên trán mình. Đêm không còn có nữa, và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho; và chúng sẽ trị vì đời đời. (21:9-22:5)
Vào buổi tối trước sự chết của Ngài, Đức Chúa Jêsus Christ đưa ra lời hứa kỳ diệu của Ngài cho hết thảy những ai chịu tin theo Ngài. Ngài phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Gi 14:1-3). “Nhà Cha ta” Chúa Jêsus đề cập đến chính là Giê-ru-sa-lem Mới này, Đức Chúa Trời sẽ sống ở đó với dân sự Ngài cho đến đời đời. Đây là thiên đàng hiện tại Đức Chúa Trời sẽ ngự ở đó với các thiên sứ thánh, và người được chuộc đi đến đó khi họ qua đời. Như đã lưu ý trong chương đứng trước của tập sách này, chỗ mà Chúa đã sắm sẵn cho họ sẽ giáng xuống trong thể trạng đời đời, ở đó sẽ là thành phố thủ phủ của trời mới đất mới.
Giống như một người chuẩn bị đi qua một xứ khác muốn có thông tin về xứ đó, cũng một thể ấy những người tin Chúa muốn có một cái nhìn thoáng qua chốn vinh hiển kia mà họ sẽ sống đời đời ở đó. Với sự nhìn biết ý thức ấy của họ, Đức Chúa Trời đã cung ứng cho người tin Chúa với phần mô tả về thiên đàng. Mặc dù chỉ cung ứng cho một số ít người được chọn, họ đang kinh ngạc, tâm trí họ ngần ngại, và bị áp đảo.
Khi mặc thị về Giê-ru-sa-lem Mới mở ra, lịch sử đã kết thúc, và thời gian không còn có nữa. Giăng và các độc giả của ông được chuyển qua thể trạng đời đời. Sau khi mô tả nơi đến đời đời đáng sợ của kẻ bị rủa sã, là hồ lửa (câu 8; 20:14-15), mặc thị ấy đưa vị sứ đồ yêu dấu, bị lưu đày đến nơi yên nghỉ hạnh phước đời đời của người được chuộc. Bởi vì đây là thành phố thủ phủ của thiên đàng và là mối liên kết giữa trời mới và đất mới, Giê-ru-sa-lem Mới là trung tâm của sự mặc thị và được mô tả nhiều chi tiết hơn so với phần còn lại của thể trạng đời đời.
Sách Hê-bơ-rơ cũng nhắc tới thành phố thủ phủ vinh hiển của thiên đàng. Khi mô tả đức tin của Áp-ra-ham, tác giả thơ Hê-bơ-rơ nói rằng:
Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập (He 11:8-10).
Trong chương kế đó, tác giả đã ghi ra phần mô tả sau đây về Giê-ru-sa-lem Mới:
Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại, gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành, gần Đức Chúa Jêsus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy. (He 12:22-24).
Khi ông kết thúc thư tín ấy, ông nhắc cho độc giả nhớ rằng “Vì dưới đời nầy, chúng ta không có thành còn luôn mãi, nhưng chúng ta tìm thành hầu đến” (He 13:14). Những gì Áp-ra-ham, tác giả thơ Hê-bơ-rơ, và phần còn lại người được chuộc đã lượng trước bởi đức tin đã được Giăng tỏ ra và mô tả. Cái nhìn của ông về thủ phủ của thiên đàng bao gồm vài đặc điểm: Bề ngoài tổng quát, thiết kế ngoại tại, đặc điểm nội tại, cùng các đặc ân của cư dân nó.
BỀ NGOÀI TỔNG QUÁT
Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con. Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt (21:9-11).
Khi sự mặc thị mở ra, một thiên sứ xuất hiện kêu gọi sự chú ý của Giăng nhắm vào thành phố. Sự xuất hiện sau cùng của một thiên sứ là một ngàn năm trước đó vào lúc bắt đầu thiên niên kỷ (20:1). Các thiên sứ đóng một vai trò quan trọng trong sách Khải huyền, và vị thiên sứ đặc biệt này đã tham gia vào những sự phán xét trong Kỳ Đại Nạn. Những sự phán xét đó được mở ra trong ba loạt chồng chéo nhau: cái ấn, loa, và, về mặt khí hậu, các sự phán xét qua cái bát. Thiên sứ này là một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng (đối chiếu 15:1). Thiên sứ này, một là Ngài hay thiên sứ khác trong bảy thiên sứ kia cũng đã giới thiệu sự phán xét sắp xảy ra của thành phố Ba-by-lôn kỵ nữ (17:1), tạo ra sự tương phản giữa hai thành phố trở nên rõ ràng.
Sau khi khai mạc chuyến đi cá nhân của Giăng vào thành phố thủ phủ của thiên đàng, vị thiên sứ đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con”. Như đã lưu ý trong phần bàn luận ở 21:2 trong chương 18 của tập sách này, Giê-ru-sa-lem Mới được mô tả là cô dâu vì nó rút ra đặc điểm ấy từ cư dân của nó. Các cư dân này bao gồm cô dâu của Chiên Con, một tước hiệu nguyên được gán cho Hội thánh (19:7), nhưng giờ đây cơi rộng ra bao gồm hết thảy người được chuộc trong mọi thời đại, họ sống ở đó cho đến đời đời. Giê-ru-sa-lem Mới được ví như cô dâu bởi vì người được chuộc được kết hợp đời đời với Đức Chúa Trời và Chiên Con. Nó được xác định thêm là vợ Chiên Con vì hôn nhân đã xảy ra rồi (19:7).
Sự mặc thị đáng kinh ngạc của Giăng khởi sự khi Đức Thánh Linh cảm động đưa ông đi. Khi ông nhận lãnh các khải tượng gộp trong sách Khải Huyền, vị sứ đồ cao tuổi là một tù phạm của người La-mã trên hòn đảo Bát-mô (1:9). Nhưng ông đã được chuyển đi từ đó trong chuyến hành trình thuộc linh lạ lùng để nhìn xem những gì mà mắt con người không bao giờ trông thấy được. Những khải tượng của Giăng không phải là chiêm bao, mà là các thực tại thuộc linh, giống như những gì Phao-lô đã thấy khi ông cũng bị đưa lên tầng trời thứ ba vậy (IICo 12:2-4).
Điểm dừng chân đầu tiên là một hòn núi lớn và cao. Từ điểm lợi thế đó, thiên sứ chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem. Vị Sứ đồ lặp đi lặp lại phần quan sát của ông từ câu 2 rằng Giê-ru-sa-lem Mới từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống. Điều đó nhấn mạnh nguồn gốc thiêng liêng của nó; đó là thành phố “mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (He 11:10). Cần lưu ý rằng những gì được mô tả ở đây không phải là sự sáng tạo nên thiên đàng; nó chỉ đơn thuần giáng xuống những gì đã tồn tại rồi từ quá khứ đời đời, và giờ đây nằm ở trung tâm của trời mới và đất mới.
Đặc điểm phân biệt nhất của thành phố thủ phủ trong cõi đời đời, ấy chính là ngôi của Đấng đời đời, toàn năng, và vì lẽ đó đã có sự vinh hiển rực rỡ của Đức Chúa Trời trong đó. Sự vinh hiển đó sẽ đạt tới biểu hiện đầy đủ nhất của nó ở đó (Gi 17:24); nó sẽ không bị hạn chế và không bị giam hãm, loé lên từ thành phố đó xuyên suốt vũ trụ được tái tạo. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là toàn bộ tổng số các thuộc tánh của Ngài (đối chiếu Xu 33:18-19) và được tỏ ra như ánh sáng rực rỡ (Xu 13:21; 19:18; 24:17; 34:29-30, 35; 40:34; IVua 8:10-11; Thi 104:2; Es 4:5; Exe 10:4; Ha 3:3-4; Lu 2:9) và nơi Con của Ngài (Mat 17:2; 24:27, 30; ITi 6:16). Đáng buồn thay, mặc dù Đức Chúa Trời đã tỏ ra sự vinh hiển của Ngài, những kẻ bất tuân, loạn nghịch đã chối bỏ Ngài. Thậm chí Đức Chúa Jêsus Christ, hiện thân sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong hình thể con người (Gi 1:14), “bị khinh dễ và chán bỏ” (Es 53:3). Bức xạ từ Giê-ru-sa-lem Mới sẽ là sự rực rỡ của sự biểu hiện đầy đủ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhiều đến nỗi “thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành” (câu 23). Ê-sai đã đoán trước cùng một thực tại đó: “Ngươi sẽ chẳng nhờ mặt trời soi sáng ban ngày nữa, và cũng chẳng còn nhờ mặt trăng chiếu sáng ban đêm; nhưng Đức Giê-hô-va sẽ làm sự sáng đời đời cho ngươi, Đức Chúa Trời ngươi sẽ làm vinh quang cho ngươi” (Es 60:19).
Phần mô tả ảnh hưởng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tỏa ra từ Giê-ru-sa-lem Mới, Giăng lưu ý rằng sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Ph¯ost¯er (chói sáng) đề cập đến một thứ phát sáng ra. Bản Kinh Thánh 70, bản dịch Cựu Ước tiếng Hy-lạp, sử dụng nó trong Sa 1:14 và 16 để mô tả các vật thể phát sáng ở trên trời. Đối với Giăng, thành phố thiên đàng xuất hiện như một cái bóng đèn khổng lồ, với ánh sáng rực rỡ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời phát ra từ nó. Nhưng ánh sáng đó không chiếu qua tấm kính mỏng của bóng đèn, mà qua những gì chiếu vào Giăng như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Thành phố hiện ra cùng vị sứ đồ như một viên đá quí khổng lồ. Bích ngọc không đề cập đến loại ngọc hiện đại có cùng tên, vốn không rõ ràng; nó là một phiên âm của chữ iaspis tiếng Hy-lạp, mô tả một viên đá mờ. Chữ jasper [bích ngọc] trong đoạn văn này được hiểu rõ nhất như đề cập đến một viên kim cương, một kim cương rất đắt tiền bởi vì nó trong suốt và không bị vết. Vì vậy, thành phố thủ phủ của thiên đàng nhơn đó được hình dung như một viên kim cương khổng lồ, hoàn hảo, khúc xạ sự vinh hiển rực rỡ, sáng chói của Đức Chúa Trời xuyên suốt trời mới và đất mới.
THIẾT KẾ NGOẠI TẠI CỦA NÓ
Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên: phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con. Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành. Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau. Người lại đo tường thành: được một trăm bốn mươi bốn cu-đê, là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ. Tường thì xây bằng bích ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thủy tinh trong vắt. Những nền tường thành thì trang sức đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; nền thứ ba, bằng lục mã não; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm; nền thứ năm, bằng hồng mã não; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu. Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu; mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành. (21:12-21a)
Ngôn ngữ của con người là bất xứng khó mô tả đầy đủ sự rực rỡ khôn xiết quê hương đời đời không thể diễn tả của những người tin Chúa. Không bằng lòng nắm lấy ngôn ngữ của Kinh Thánh khi xét tới giá trị, nhiều người tìm kiếm một số ý nghĩa ẩn giấu ở đàng sau phần mô tả của Giăng. Nhưng nếu lời lẽ không thốt ra được những gì chúng nói, thì ai có thẩm quyền để nói ra những gì chúng muốn nói chứ? Từ bỏ nghĩa đen của phân đoạn Kinh Thánh chỉ dẫn đến các suy tưởng không nền tảng, vô căn cứ, hư không. Lẽ thật nói về thành phố trên trời được mô tả nhiều hơn, nhưng không ít hơn và không khác biệt đối với những gì đã được mô tả. Thành ấy là một sự sáng tạo theo vật chất, tuy nhiên rất độc đáo, chúng ta không thể suy tưởng hết được. Lời lẽ của Giăng cung ứng mọi chi tiết chúng ta đã được Đức Chúa Trời ban cho để kích thích niềm hy vọng của chúng ta.
Thành có một bức tường cao lớn cho thấy rằng đấy chẳng phải là một nơi không thể định hình, âm u, bềnh bồng. Nó có kích thước cụ thể; nó có các giới hạn; người ta có thể bước vào đó và đi qua mười hai cửa của nó. Với mười hai cửa đó, trên đó là mười hai thiên sứ, dự phần vào sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và phục vụ dân sự Ngài (đối chiếu He 1:14). trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên, kỷ niệm mọi quan hệ giao ước của Đức Chúa Trời đời đời với Y-sơ-ra-ên, dân sự của lời hứa, các giao ước, Kinh thánh, và Đấng Mê-si. Chúng được sắp đặt theo kiểu đối xứng; phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Sự sắp xếp đó gợi nhớ đến cách thức mười hai chi phái đóng trại xung quanh đền tạm (Dân số ký 2), và sự phân bổ đất đai cho các chi phái xung quanh đền thờ trong thời kỳ thiên hi niên (Ê-xê-chi-ên 48).
Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con. Loại nền đó kỷ niệm mối quan hệ giao ước của Đức Chúa Trời với Hội thánh, các vị sứ đồ là nền tảng trong đó (Eph 2:20). Ở trên cùng của mỗi cửa là tên của một trong các chi phái của Israel; ở phía dưới cùng của mỗi cửa là tên của một trong các sứ đồ. Vì vậy, cách bố trí các cửa thành phác hoạ sự ưu ái của Đức Chúa Trời giáng trên dân được chuộc của Ngài, cả những người ở dưới giao ước cũ, và những kẻ ở dưới giao ước mới.
Rồi một việc lạ lùng xảy ra. Vị thiên sứ Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành. Sự kiện thú vị này gợi nhớ đến việc đo đền thờ ngàn năm (Ê-xê-chi-ên 40:3…) và sự đo của đền thờ trong Kỳ Đại Nạn (11:1). Ý nghĩa của cả ba phép đo, ấy là họ đánh dấu những gì thuộc về Đức Chúa Trời.
Kết quả đo lường của vị thiên sứ cho thấy rằng thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ [sát nghĩa, 12.000 dặm; (12.000 sân vận động), một sân vận động khoảng 607 inches. Cho nên, các bức tường thành khoảng 1.380 dặm theo mỗi hướng]; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau. Một số nhà giải kinh đã đề xuất rằng thành phố có hình dạng của một kim tự tháp. Tuy nhiên, tốt nhứt thì phải xem nó có hình khối lập phương, như Mục sư Henry M. Morris chỉ ra:
Tuy nhiên, cách diễn giải như vậy là khá bắt buộc, ngôn ngữ của phân đoạn Kinh Thánh tự nhiên được hiểu nhiều hơn khi nói tới một khối lập phương, với bề dài và bề rộng và bề cao đều giống nhau…
Hình kim tự tháp. . . (dù ở Ai-cập, Mễ-tây-cơ, hoặc các tòa tháp có nấc thang về thực tế của các quốc gia xa xưa), dường như luôn luôn gắn liền với tà giáo, với đỉnh kim tự tháp được cung hiến cho sự thờ lạy thần mặt trời, hoặc các đạo binh trên trời. Cấu trúc đầu tiên thể ấy là Tháp Ba-bên, và Kinh Thánh sau này luôn lên án việc thờ lạy được thực hiện ở các nơi cao (Le 26:30) cho dù đây chỉ là những đồi cao tự nhiên hay đồi nhân tạo theo hình dạng kim tự tháp.
Khối lập phương. . . là hình dạng do Đức Chúa Trời quy định cụ thể cho nơi thánh . . . trong đền thờ của Vua Solomon (IVua 6:20), Đức Chúa Trời “ngự” giữa các chê-ru-bin ở đó. Cả hai: ngôn ngữ và nghệ thuật diễn đạt bằng tượng trưng đều ủng hộ hình khối, thay vì hình kim tự tháp, hình chóp. (The Revelation Record [Wheaton, Ill.: Tyndale, 1983], 450)
Morris cũng chỉ ra rằng một thành phố hình lập phương rất thích hợp cho sự tồn tại của các tạo vật đã được làm cho vinh hiển:
Cũng cần phải nhớ rằng loại thân thể mới của các thánh đồ được phục sinh sẽ giống như loại thân thể của các thiên sứ, không còn bị giới hạn bởi lực hấp dẫn hay lực điện từ như hiện nay. Do đó nó sẽ dễ dàng cho cư dân di chuyển theo chiều dọc cũng như theo chiều ngang, trong Giê-ru-sa-lem Mới. Kết quả là, “đường phố” của thành (câu 21) cũng có thể bao gồm các lối đi thẳng cũng như các lối đi ngang, và “khối” có thể là các khối lập phương thực, thay vì các khu vực hình vuông giữa các đường phố như trong một thành phố ngày nay trên đất. (The Revelation Record, 451).
Dựa trên những giả sử nhất định về thiết kế của thành phố và số lượng người được chuộc sẽ đến sống trong đó, Mục sư Morris tính toán rằng “khối lập phương” của mỗi người sẽ là khoảng bảy mươi lăm mẫu Anh ở mỗi cạnh (The Revelation Record, 451). Nếu như thành phố đó được xếp chồng lên Hoa Kỳ ngày nay, nó sẽ kéo dài từ Canada đến Vịnh Mễ-tây-cơ, và từ Colorado đến Đại Tây Dương (The Revelation Record, 450). Rõ ràng, Đức Chúa Trời sẽ thiết kế Giê-ru-sa-lem Mới với nhiều chỗ cho hết thảy người được chuộc (Gi 14:2-3).
Thiên sứ kế đó đo bức tường thành một trăm bốn mươi hai ếch-ta-đơ (72 yard, thước Anh [0,914m]) (gần như là bề dày của tường). Khi ấy, giống như thể nhấn mạnh rằng kích thước của thành phố là theo nghĩa đen và không có gì huyền bí, Giăng bổ sung phần chú thích đóng ngoặc đơn rằng các chiều kích ấy được đưa ra là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ. Một yard là gần một mét, một foot là một foot, và một dặm là một dặm, cho dù của con người hay của thiên sứ.
Vật liệu mà bức tường thành lớn được hình thành là từ bích ngọc — loại đá giống như kim cương được nhắc tới ở câu 11. Không những bức tường là trong suốt, mà bản thân thành phố còn là thứ vàng ròng, tợ như thuỷ tinh trong vắt. Các bức tường cùng các tòa nhà của Giê-ru-sa-lem Mới phải sáng láng cho thành phố tỏa ra sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Có người lo rằng sự sáng láng của thành phố sẽ loại bỏ bất kỳ sự riêng tư nào. Tuy nhiên, sẽ không có gì trên thiên đàng có cần cho sự riêng tư đó.
Kế đó, Giăng hướng sự chú ý của ông trong sự mặc thị đến những nền tường thành, ông mô tả chi tiết rất hay ở chỗ này. Chúng được trang trí bằng mọi loại đá quí, mười hai cái nền ấy mang tên của các sứ đồ. Tên của một số loại đá đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, làm cho việc xác định chúng là không chắc chắn. Tám trong số loại đá này được gắn trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm (Xu 28:17-20; 39:10-13). Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; như đã lưu ý trước đây, được xác định tốt nhứt là kim cương; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; loại đá có màu xanh rực rỡ; nền thứ ba, bằng lục mã não; loại đá mã não từ vùng Chalcedon của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, màu xanh da trời với các sọc màu; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm; loại đá màu xanh lá cây rực rỡ; nền thứ năm, bằng hồng mã não; loại đá có sọc đỏ và trắng; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; loại đá thạch anh phổ thông được tìm thấy có nhiều bóng màu đỏ đa dạng; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, loại đá màu vàng hoặc màu vàng trong suốt; nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; loại đá có nhiều màu khác nhau, bao gồm sắc xanh lá cây, vàng và xanh dương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; loại đá màu vàng xanh; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; loại đá màu xanh nhuốm vàng; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; loại đá màu xanh da trời hoặc nhuốm màu tím trong thời của Giăng, mặc dù loại đá tương đương hiện nay là loại ngọc có màu đỏ hoặc đỏ nâu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu; loại đá có màu tím. Các loại đá có màu sắc khúc xạ rực rỡ chiếu sáng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời thành một thứ có sắc màu rực rỡ. Bối cảnh là một trong những cảnh đẹp tuyệt vời, một dải màu rực rỡ nhấp nháy từ Giê-ru-sa-lem Mới xuyên suốt vũ trụ được tái tạo lại.
Khía cạnh tiếp theo của thành phố trên trời bắt mắt của Giăng là mười hai cửa, mười hai hột châu. Ngọc trai rất được ưa chuộng và có giá trị lớn trong thời của Giăng. Nhưng loại hột châu này không giống như ngọc trai từng được tạo ra bởi con hàu, bởi vì mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành cao gần 1,4 dặm. Có một lẽ thật thuộc linh được minh họa bởi sự thực cho rằng các cánh cửa được làm bằng ngọc trai, như John Phillips giải thích:
Thích hợp dường bao! Hết thảy các loại đá quí kia là kim loại hoặc đá, nhưng hột châu là một viên ngọc hình thành bên trong con hàu — loại ngọc duy nhất được hình thành bởi thịt sống. Con hàu khiêm tốn nhận lãnh một sự cấy ghép hay một vết thương, và xung quanh chỗ bị thương bị đâm thủng và làm tổn thương nó, con hàu tạo thành viên ngọc trai. Ngọc trai, chúng ta dám nói, là câu trả lời của con hàu đối với thứ gây thương tổn cho nó. Vùng đất vinh hiển là câu trả lời của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ, cho hạng người gian ác đã đóng đinh nhân vật đáng yêu của thiên đàng trên cây thập tự và khiến Ngài trở thành sự xấu hổ công khai. Thế mà Đức Chúa Trời đã làm những cánh cửa Giê-ru-sa-lem Mới bằng ngọc trai. Các thánh đồ, như họ đến rồi đi, sẽ được nhắc nhở cho đến đời đời, lúc họ đi qua các cánh cửa vinh hiển, bước vào ngôi nhà của Đức Chúa Trời chỉ vì đồi Gô-gô-tha. Hãy suy nghĩ đến kích thước của những cánh cửa đó! Hãy nghĩ đến loại ngọc trai siêu nhiên mà chúng được tạo ra từ đó! Đúng là đau khổ chồng chất được những cánh cửa bằng ngọc trai đó làm biểu tượng cho! Xuyên suốt nhiều kỷ nguyên bất tận, chúng ta sẽ được nhắc nhở bởi những cánh cửa bằng hột châu sự chịu khổ bao la của Đấng Christ. Các thứ hột châu đó, treo lơ lửng trên các con đường dẫn đến vinh quang, sẽ nhắc cho chúng ta nhớ đời đời về Đấng bị treo trên cây gỗ và là câu trả lời của Ngài cho những kẻ gây thương tích cho Ngài để mời chào họ đến dự phần trong nhà của Ngài. (Exploring Revelation, Rev. ed. [Chicago: Moody, 1987; reprint, Neptune, N. J.: Loizeaux, 1991], 254).
ĐẶC ĐIỂM NỘI TẠI
Đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt. Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó. Những cửa thành ban ngày không đóng, vì ở đó không có ban đêm. Người ta sẽ đem vinh hiển và phú quí của các dân đến đó; kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con.
Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra. Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân (21:21b-22:2)
Giống như thể chỉ nhìn thấy thành phố thủ phủ huy hoàng của thiên đàng từ một khoảng xa là chưa đủ đặc quyền, hướng dẫn viên thiên sứ của Giăng đưa ông vào bên trong. Khi ông bước vào thành, vị sứ đồ để ý thấy rằng đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt. Các đường phố ở Giê-ru-sa-lem Mới đều được làm bằng thứ vàng ròng với chất lượng cao nhất, giống như mọi thứ khác trong thành phố trên trời, giống như thuỷ tinh trong suốt. Vàng ròng không phải là thứ vật chất quen thuộc với chúng ta trên đất này. Nhưng mọi thứ đều rực rỡ để chiếu ra sự sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời mà không bị hạn chế.
Khi từng có mặt trong thành, điều đầu tiên Giăng đã để ý thấy không có đền thờ nào trong đó cả. Lên tới thời điểm này, chẳng có một đền thờ nào trên thiên đàng (đối chiếu 7:15; 11:19; 14:15, 17; 15:5-8; 16:1, 17). Nhưng sẽ không còn cần một đền thờ nào trong Giê-ru-sa-lem Mới nữa, vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. Sự vinh hiển rực rỡ của họ sẽ đầy ắp trời mới và đất mới, và sẽ không còn cần bất cứ ai đi bất cứ đâu để thờ phượng Đức Chúa Trời nữa. Sự sống sẽ là thờ phượng và thờ phượng sẽ là sự sống. Những người tin Chúa sẽ liên tục sống trong sự hiện diện của Ngài (đối chiếu 21:3); sẽ không hề có một phút nào mà họ không ở trong mối giao thông trọn vẹn, thánh khiết với Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con. Vì vậy, sẽ không cần phải đi đến một đền thờ, đại giáo đường, nhà thờ, nhà nguyện, hoặc bất kỳ ngôi nhà thờ phượng nào khác nữa mà chi. Những người tin Chúa sẽ là những người thờ phượng thật mà Đức Chúa Trời luôn luôn tìm kiếm (Gi 4:23).
Trở lại đề tài nói tới sự vinh hiển rực rỡ chói loà của Đức Chúa Trời, Giăng để ý thấy thành không cần mặt trời hay mặt trăng để soi sáng cho, vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. Trời mới và đất mới sẽ hoàn toàn khác biệt với đất hiện tại, hoàn toàn phụ thuộc vào mặt trời và mặt trăng. Chúng cung cấp các chu kỳ sáng và tối, và mặt trăng gây ra thủy triều trên đại dương. Nhưng trong trời mới và đất mới, chúng sẽ không còn cần đến nữa. Sẽ chẳng có biển (21:1) và do đó không có thủy triều. Mặt trời và mặt trăng cũng sẽ không còn cần đến để cung cấp ánh sáng nữa, vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho Giê-ru-sa-lem Mới và Chiên Con ngọn đèn của thành. Một lần nữa trong sách Khải huyền, Đức Chúa Cha và Chiên Con, là Đức Chúa Jêsus Christ, chia sẻ quyền lực (đối chiếu 3:21).
Bình luận về sự sáng chói lói phát ra từ Giê-ru-sa-lem Mới, J. A. Seiss viết:
Sự chiếu sáng đó không phải từ bất kỳ một sự đốt cháy vật liệu nào — không phải từ bất kỳ một sự tiêu thụ nhiên liệu nào cần được thay thế khi một nguồn cung cấp cạn đi; vì đây là sự sáng của Ngài không được dựng nên, vì Ngài là sự sáng, được phân phát bởi và qua Chiên Con là Ngọn đèn đời đời, cho ngôi nhà, và cho tấm lòng, và sự thông biết của các thánh đồ của Ngài đã được làm cho vinh hiển. Khi Phao-lô và Si-la bị thương và bị trói trong hầm ngục bên trong nhà tù thành Phi-líp, họ vẫn có ánh sáng thiêng liêng giúp cho họ tiêu khiển giờ giấc ban đêm với những bài ca hạnh phước. Khi Phao-lô đang trên đường đến thành Đa-mách, một thứ ánh sáng sáng hơn mặt trời lúc giữa trưa chiếu quanh ông, nó chiếu trên toàn thân ông với sự sáng láng và thông biết mới, và khiến cho linh hồn và thân thể ông sau đó thành ra sự sáng trong Chúa. Khi Môi-se đi xuống từ trên núi thông công với Đức Chúa Trời, gương mặt của ông rất sáng chói đến nỗi các anh em của ông không thể chịu đựng được khi nhìn vào mặt ông. Ông đã ở trong mối tương giao mật thiết với ánh sáng mà ông đã được biết là sự sáng, và đến với trại quân như một ngọn đèn của Đức Chúa Trời, rực rỡ với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Trên Núi Hoá Hình, cũng thứ ánh sáng đó phát ra từ thân thể và áo xống của Chúa Jêsus phước hạnh. Và với phần tham khảo đến chính thời điểm khi thành này hiện hữu, Ê-sai nói: “Mặt trăng sẽ xấu hổ, mặt trời sẽ mắc cỡ” — xấu hổ vì sự vinh hiển rạng ngời khi ấy sẽ xuất hiện tại Giê-ru-sa-lem Mới, khiến chúng chẳng còn cần đến để chiếu sáng nữa, một khi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chiếu sáng ở đó, và Chiên Con là ngọn đèn ở đó. (The Apocalypse [in lại, Grand Rapids: Kregel, 1987], 499).
Phần tham khảo đến các dân . . . và các vua trên đất đã khiến một số người xem phân đoạn Kinh Thánh này là một sự tóm lược của vương quốc thiên hi niên. Nhưng một cách giải thích như vậy không biện minh cho phần niên đại của sách Khải huyền, đặc biệt là cách sử dụng lặp đi lặp lại kai eidon để chỉ ra sự tiến triển theo thời gian (xem phần bàn bạc 21:1 trong chương 18 của tập sách này). Sẽ có những con người sống trong thời kỳ ngàn năm (Es 65:20-23), nhưng không có người sống nào về phần xác có thể tồn tại trong một môi trường không có biển (câu 1), mặt trời, hay mặt trăng (câu 23). Các dân dịch ethnos, cũng sẽ có nghĩa là “con người” và thường được dịch là “dân Ngoại”. Ý tưởng không phải là lai lịch dân tộc sẽ được bảo tồn trong trạng thái đời đời, mà ngược lại. Mọi người từ mọi lưỡi, mọi chi phái và dân tộc — cả người Do-thái và dân Ngoại — sẽ hiệp lại làm dân sự của Đức Chúa Trời. Từng người tin Chúa sẽ hoàn toàn bình đẳng trong thành phố thủ phủ đời đời.
Thực sự thì các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó cung ứng thêm bằng chứng về sự bình đẳng tuyệt đối trên thiên đàng. Cụm từ đó có thể chỉ ra rằng sẽ không có một cấu trúc xã hội hay giai cấp nào hết, rằng những người bước vào thành sẽ đem theo sự vinh hiển đời này của họ. Vì vậy, ai nấy sẽ ở cùng cấp độ. Phần giải thích khác khả thi, ấy là cụm từ này đề cập đến những người tin Chúa sống vào cuối thời kỳ ngàn năm. Theo quan điểm đó, thì câu các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào Giê-ru-sa-lem Mới đề cập đến phần dịch thuật nói tới những người tin Chúa đó trước tình trạng không được dựng nên của vũ trụ hiện tại (xem phần bàn luận ở 20:11 trong chương 17 của tập sách này).
Khi ấy, Giăng thêm một chi tiết khác vào phần mô tả của ông về Giê-ru-sa-lem Mới. Xuyên suốt thời gian ban ngày không dứt của trạng thái đời đời (vì sẽ không có ban đêm ở đó) những cửa thành ban ngày không đóng. Trong một thành phố cổ có tường bao quanh, các cổng thành đã bị đóng lại lúc đêm xuống để giữ không có xâm lược, cướp bóc, tội phạm, và những cá nhân nguy hiểm khác không xâm nhập được vào thành khi trời tối. Rằng sẽ không có ban đêm trong cõi đời đời, và những cánh cửa của Giê-ru-sa-lem Mới sẽ không hề cần bị đóng lại, mô tả sự an toàn trọn vẹn của thành phố. Đây sẽ là một nơi yên nghỉ, an ninh, và thoải mái, ở đây dân sự của Đức Chúa Trời sẽ “nghỉ ngơi khỏi công việc của họ” (14:13).
Các vua sẽ không phải là những người duy nhất đem tiếng tăm và vinh quang đời này của họ theo khi bước vào thiên đàng. Vinh hiển và phú quí của các dân cũng sẽ tan biến đi, như nó vốn là vậy, trong sự thờ phượng đời đời Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jêsus Christ. Giống như hai mươi bốn trưởng lão, hết thảy những ai bước vào thiên đàng “sẽ quăng mão triều thiên mình trước ngôi” của Đức Chúa Trời (4:10).
Mọi sự trong thiên đàng sẽ là thánh khiết một cách trọn vẹn. Vì vậy, kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành Giêrusalem Mới (xem phần bàn luận ở 21:7-8 trong chương 18 của tập sách này và 22:15 trong chương 21). Nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con. (Về phần bàn luận về sổ sự sống, hãy xem 3:5; 13:8; và phần bình luận ở 20:12 trong chương 17 của tập sách này).
Hướng dẫn viên thiên sứ của Giăng kế đó cho ông nhìn thấy sông nước sự sống. Không có biển nào hết trong thể trạng đời đời (21:1), không thể có chu kỳ thủy văn, và do đó không có mưa để làm đầy một con sông. Do đó, nước sự sống không phải là nước như chúng ta biết; nó là biểu tượng của sự sống đời đời (đối chiếu Es 12:3; Gi 4:13-14; 7:38). Giống như mọi thứ khác ở Giê-ru-sa-lem Mới, sông nước trong như lưu ly để nó có thể phản ánh sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Dòng sông ấy ra từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con thành một dòng chảy chói lọi, lấp lánh, không dứt. Dòng chảy tinh khiết, không bị ô nhiễm, không bị cản trở của nó tượng trưng cho dòng chảy liên tục của sự sống đời đời ra từ ngôi của Đức Chúa Trời đến với dân sự của Đức Chúa Trời.
Cụm từ ở giữa phố thành lẽ ra nên được dịch là “giữa các con đường của nó” và kết nối với cụm từ sau đây trên hai bờ sông có cây sự sống. Cây sự sống là bản sao trên trời đối với cây sự sống trong Vườn Ê-đen (Sa 2:9; 3:22-24), và cây này cung ứng cho những người nào bất tử. Cây sự sống là một khái niệm Do-thái quen thuộc chỉ ra ơn phước (đối chiếu 2:7; Ch 3:18; 11:30; 13:12; 15:4), và cây ở trên trời tiêu biểu cho ơn phước sự sống đời đời. Rằng cây trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái nhấn mạnh sự đa dạng vô hạn sẽ đầy dẫy thiên đàng. Việc sử dụng từ ngữ tháng không đề cập đến thời gian, một khi đây là thể trạng đời đời và thời gian không còn có nữa. Đây là lối nói theo con người về sự tiếp trợ đầy vui mừng của cõi đời đời được đặt trong các thuật ngữ quen thuộc nói tới thời gian.
Khi ấy, Giăng đưa ra phần quan sát hấp dẫn rằng những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. Ở cái nhìn đầu tiên, điều đó có vẻ khó hiểu, vì rõ ràng sẽ không có bệnh tật hoặc thương tích gì trên thiên đàng mà đòi hỏi sự chữa lành. Tuy nhiên, therapeia (chữa lành) không ngụ ý về bệnh tật đâu. Có lẽ cách dịch tốt hơn về từ ngữ này là “ban sự sống cho”, “ban sức khỏe cho”, hoặc “trị liệu”. Lá của cây có thể được ví với các vitamin siêu nhiên, một khi các vitamin không được dùng để điều trị bệnh, mà để kích thích sức khỏe nói chung. Cuộc sống trên thiên đàng sẽ tràn đầy sinh lực, phong phú và thú vị.
Phân đoạn Kinh Thánh không nói đến trường hợp các thánh đồ có thực sự ăn lá của cây hay không, mặc dù điều đó là khả thi. Các thiên sứ dùng thức ăn với Áp-ra-ham và Sa-ra (Sa 18:1-8), cũng như Đức Chúa Jêsus Christ đã dùng với các môn đồ của Ngài sau khi Ngài phục sinh (Lu 24:42-43; Cong 10:41). Có thể hiểu như vầy, các thánh đồ trên thiên đàng sẽ ăn, không phải vì cần thiết đâu, mà là để thưởng thức đấy thôi.
CÁC ĐẶC ÂN CỦA CƯ DÂN
Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa; ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài; chúng sẽ được thấy mặt Chúa, và danh Chúa sẽ ở trên trán mình. Đêm không còn có nữa, và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho; và chúng sẽ trị vì đời đời (22:3-5)
Khi Giăng đến với Giê-ru-sa-lem Mới, ông không làm sao khác hơn là thấy rằng sự sống rất khác biệt cho cư dân của nó. Sự thay đổi đáng kể nhất từ đất của hiện tại, ấy là sẽ chẳng còn có sự nguyền rủa nữa. Như đã lưu ý trong phần thảo luận 21:4 trong chương 18 của tập sách này, việc loại bỏ sự rủa sã ý nói sự kết thúc cho đến đời đời buồn rầu, đau khổ, và đặc biệt là sự chết — là phương diện kinh khiếp nhất của sự rủa sã (Sa 2:17).
Như đã lưu ý trước đây, dù chẳng có đền thờ nào trong Giêrusalem Mới, ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành (đối chiếu phần mô tả chi tiết bối cảnh có ngôi ở 4:2-11). Đức Chúa Cha và Chiên Con, là Đức Chúa Jêsus Christ, sẽ cai trị xuyên suốt cõi đời đời. Vì Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục đời đời trong vai trò nhà cai trị tối thượng của thiên đàng, các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài cho đến đời đời (đối chiếu 7:15). Họ sẽ dành cả cõi đời đời để lo liệu các công việc khác nhau mà tâm trí vô hạn của Đức Chúa Trời sẽ nghĩ ra. Thật đáng kinh ngạc, như thí dụ ở Lu 12:35-40 chỉ ra, Chúa cũng sẽ phục vụ họ.
Các thánh đồ trong Giê-ru-sa-lem Mới cũng sẽ được thấy mặt Chúa (Mat 5:8). Sống hoàn toàn thánh khiết và công bình, họ có khả năng chịu đựng cấp độ sự sáng rực rỡ, chói loà từ sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà không bị thiêu đốt — một việc bất khả thi cho con người hay chết (Xu 33:20; Gi1:18; 6:46; ITi 6:16; IGi 4:12).
Người được chuộc cũng sẽ trở thành tài sản riêng của Đức Chúa Trời; danh Chúa sẽ ở trên trán mình (đối chiếu 3:12; 14:1). Việc nhận diện đó chắc chắn cho thấy họ thuộc về Ngài cho đến đời đời. Giăng nhắc lại phần mô tả trước đây về sự rực rỡ của thiên đàng: Đêm không còn có nữa, và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho (đối chiếu 21:22-26). Khi ấy, ông thêm một phần lên giọng sau cùng mô tả kinh nghiệm trên trời của các thánh đồ: và chúng sẽ trị vì đời đời. Việc ấy sẽ là sự ứng nghiệm lời hứa của Đấng Christ ở 3:21: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài”. Phao-lô viết cho Ti-mô-thê: “lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị” (IITi 2:12).
Thành phố thủ phủ đời đời của thiên đàng, Giê-ru-sa-lem Mới, sẽ là một nơi có vẻ đẹp khôn tả xiết, không thể tưởng tượng nổi. Từ trung tâm của nó sự vinh hiển rực rỡ của Đức Chúa Trời sẽ chói loà qua những loại ngọc quí và vàng để chiếu sáng trời mới và đất mới. Nhưng thực tại vinh hiển nhất trong mọi sự, ấy là hạng loạn nghịch tội lỗi sẽ được xưng công bình, thưởng thức mối giao thông mật thiết với Đức Chúa Trời và Chiên Con, hầu việc họ, và đồng trị với họ cho đến đời đời trong niềm vui tuyệt đối và trong sự ngợi khen không dứt.