Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra. Kìa, ta đến mau chóng. Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy! Chính tôi là Giăng đã thấy và nghe những điều đó. Khi nghe và thấy đoạn, tôi sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi, để thờ lạy. Song người phán rằng: Chớ làm vậy! Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, là các đấng tiên tri, và với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời! Rồi người lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy; vì thì giờ đã gần đến. Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa! Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm. (22:6–12)
Các câu 6-21 của chương này hình thành lời mở đầu cho sách Khải huyền. Sau khi đã đưa độc giả lướt qua lịch sử tương lai thật lạ lùng đi trọn cho đến trạng thái đời đời, mọi sự còn chừa lại cho Giăng phải ghi lại là phần tái bút thiêng liêng này. Đến thời điểm này trong sách Khải huyền, mọi mục đích vinh hiển và giàu ơn mà Đức Chúa Trời đã ấn định trước khi sáng thế sẽ đạt được. Những sự phán xét gây tàn phá của Kỳ Đại Nạn đã được bày ra, và ký ức của chúng sẽ còn lại duy nhứt trong sự hành hại kẻ bị rủa sã. Đức Chúa Jêsus Christ sẽ trở lại trong sự vinh hiển rực rỡ, hành hình kẻ thù của Ngài, và tễ trị trên đất trong một ngàn năm. Mọi sự loạn nghịch, cả hai: thiên sứ và con người, sẽ bị kết án hình phạt đời đời sau cùng trong hồ lửa. Vũ trụ hiện tại đã “không được dựng nên”, và trời mới và đất mới đời đời được dựng nên, trong đó Vua các vua sẽ tễ trị với Cha của Ngài. Các thiên sứ thánh và người được chuộc trong mọi thời đại sẽ ăn ở trong phước hạnh đời đời với Ngài trong sự sáng tạo mới, đặc biệt là thành phố thủ phủ của Thiên đàng, Giê-ru-sa-lem Mới. Từ ngôi của Ngài ở trung tâm thành phố oai nghi đó, sự vinh hiển chói loà, rực rỡ của Đức Chúa Trời sẽ soi sáng khắp vũ trụ đã được tái tạo. Sự thánh khiết tuyệt đối và không thay đổi sẽ là đặc điểm cho hết thảy những ai cư ngụ trong vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời. Họ sẽ liên tục ca ngợi, thờ phượng và hầu việc Ngài xuyên suốt cõi đời đời trong một môi trường bình an trọn vẹn, vui mừng và phu phỉ.
Đóng ngoặc đơn sách Khải huyền cùng với lời kết là lời mở đầu, được ghi lại ở 1:1-3:
Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy. Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi.
Lời mở đầu giới thiệu chủ đề của sách Khải Huyền, lần đến thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ. Lời kết cung ứng một kết luận phù hợp cho sự mặc thị bằng cách chỉ ra đâu là phản ứng của người tin Chúa đối với Lần Đến Thứ Hai (các câu 6-12). Bài viết này cũng nhắm vào thời điểm sau cùng trong Kinh Thánh, mời gọi những người chưa tin Chúa đến với đức tin cứu rỗi nơi Đấng Christ trước khi sự việc quá muộn cho đến đời đời (các câu 13-21).
Trong một loạt các câu nói thật năng động, nhanh chóng trải qua không ngừng từ chủ đề này sang chủ đề khác, các câu 6-12 mô tả loại đáp ứng mà từng người tin Chúa sẽ có đối với sự đến tức thì của Đức Chúa Jêsus Christ. Những câu Kinh Thánh này truyền tải một loạt năng lực giận dữ, một loạt các nỗ lực xáo động phấn khích kêu gọi phản ứng tức thì đối với lẽ thật quan trọng mà chúng đang truyền đạt. Phân đoạn này cưu mang với sự khẩn cấp, gây áp lực trên từng độc giả phải nắm lấy hành động dựa trên các lẽ thật mà nó vừa trình bày.
Không có một sự truyền đạt nào rõ ràng, ý thức cấp bách hơn là sự lặp đi lặp lại cụm từ “Kìa, ta đến nhanh chóng” (các câu 7, 12; đối chiếu câu 20). Lời tuyên bố đó là sự kềm chế của phân đoạn này. Cụm từ xuất hiện ba chỗ khác trong sách Khải huyền; ở 3:11 đây là lời hứa của ơn phước, như nó vốn có trong ba lần sử dụng của nó trong chương 22. Mặt khác, ở 2:5 và 2:16, cụm từ cảnh cáo về sự đến của Chúa Jêsus trong sự phán xét. Ở 3:3 và 16:15, Chúa Jêsus ví sự đến của Ngài với sự đến bất ngờ của một tên trộm. (Tất nhiên, không giống như một tên trộm, Chúa Jêsus sẽ không đến để trộm cắp, mà để lấy lại những gì hợp pháp thuộc về Ngài). Vì Chúa Jêsus sẽ cất Hội thánh của Ngài lên bất cứ lúc nào, kích hoạt mọi biến cố cuối cùng lên đến đỉnh điểm nơi sự tái lâm của Ngài, những người tin Chúa (và những kẻ chưa tin) cần phải sẵn sàng.
Việc đọc Tân Ước theo cách tự nhiên cho thấy sự thật rằng đối với Hội thánh đầu tiên sự đến của Chúa Jêsus là ngay tức thì; có nghĩa là, việc ấy sẽ xảy ra bất cứ thời điểm nào. Họ tin rằng Ngài có thể trở lại để đón rước họ trong thời của họ. Đối với Hội thánh đầu tiên, ngay tức thì chứa các yếu tố, cả hai: tính chắc chắn và không chắc chắn. Họ dám chắc rằng một ngày nào đó Chúa Jêsus sẽ trở lại, nhưng (không giống như nhiều người qui định ngày giờ hiện đại) họ không dám chắc là khi nào. Không nhìn biết lúc nào Ngài sẽ tái lâm, họ đã khôn ngoan sống, sửa soạn cho và hy vọng Chúa Jêsus trở lại bất cứ giây phút nào.
Có một số phiên bản Tân Ước phản ánh niềm tin của Hội thánh đầu tiên về sự sắp xảy ra. Phao-lô khen ngợi người Cô-rinh-tô vì họ “đang trông đợi kỳ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta hiện đến” (ICo 1:7). Ông còn khuyên bảo họ: “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự khen ngợi mình đáng lãnh” (ICo 4:5). Vị sứ đồ gộp cả từ A-ram chưa được phiên dịch maranatha (“Lạy Chúa, xin hãy đến”) trong một thư tín gửi cho người Cô-rinh-tô nói tiếng Hy-lạp (ICo 16:22). Từ ngữ ấy rõ ràng đã trở thành một lối nói quen thuộc, tỏ ra thái độ khao khát của người tin Chúa về sự tái lâm tức thì của Đấng Christ. Phaolô viết cho người Phi-líp: “Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi 3:20). Ông khen ngợi người Tê-sa-lô-ni-ca vì họ “đã trở lại cùng Đức Chúa Trời, bỏ hình tượng đặng thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật, đặng chờ đợi Con Ngài từ trên trời” (ITe 1:9-10). Về sau, trong cùng thư tín ấy, Phao-lô tỏ ra hy vọng của ông rằng ông sẽ được sống lúc Chúa tái lâm: “Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi” (ITe 4:15). Vị sứ đồ quở trách các tín hữu kia ở Tê-sa-lô-ni-ca, họ bị áp đảo với Lần Đến Thứ Hai đến nỗi họ đã không chịu làm việc:
Khi chúng tôi ở cùng anh em, cũng đã rao bảo cho anh em rằng: nếu ai không khứng làm việc, thì cũng không nên ăn nữa. Vả, chúng tôi nghe trong anh em có kẻ ăn ở bậy bạ, chẳng hề làm lụng, trở chăm những sự vô ích thôi. Chúng tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ, bảo và khuyên những kẻ đó phải yên lặng mà làm việc, hầu cho ăn bánh của mình làm ra. (IITe 3:10-12).
Mặc dù họ rút ra kết luận không thích đáng từ đó, tuy nhiên họ đã tin nơi sự tái lâm tức thì của Đấng Christ. Phao-lô nhắc cho Tít nhớ rằng Cơ Đốc nhân cần phải “chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Tit 2:13). Gia-cơ khích lệ độc giả của ông phải “nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến” (Gia 5:7). Trong thư tín thứ nhứt của ông, sứ đồ Giăng khuyên độc giả của ông: “Vậy bây giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài, hầu cho, nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài trong kỳ Ngài ngự đến . . . Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy” (IGi 2:28; 3:2). Các phân đoạn này tỏ ra sự lường trước của những người tin Chúa đầu tiên về lần đến của Cứu Chúa họ một lần nữa.
Sự lặp lại ba lần cụm từ “Ta đến mau chóng” trong phân đoạn này (các câu 7, 12, 20) củng cố thực tại về sự tái lâm tức thì. Trạng từ Tantra (“mau chóng”) không đề cập đến tốc độ mà với đó Đấng Christ sẽ đi từ thiên đàng xuống trần gian khi Ngài tái lâm; thay vì thế, nó có nhận định “sớm” hoặc “trước khi lâu dài”. Mục đích, ấy là “kìa, Đấng xét đoán đứng trước cửa” (Gia 5:9), sẵn sàng trở lại bất cứ giây phút nào.
Khi lời kết mở ra, Giăng ghi lại rằng thiên sứ (vị thiên sứ đã cho ông nhìn thấy Giê-ru-sa-lem Mới, 21:9; 22:1) thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật. Lời nói của thiên sứ cung cấp sự chứng thực ở trên trời cho hiệu lực của mọi sự Giăng đã nghe và thấy xuyên suốt sách Khải huyền. Thiên sứ lặp lại cùng một lời khẳng định được đưa ra trước đó cho Giăng bởi chính mình Đức Chúa Trời: “Đấng ngự trên ngôi phán … Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật” (21:5). Cụm từ trung tín và chân thật cũng xuất hiện hai lần trong sách Khải huyền như một tước hiệu dành cho Đức Chúa Jêsus Christ (3:14; 19:11). Lời lẽ trong sách Khải huyền là trung tín và chân thật y như Đấng đã tiết lộ chúng cho Giăng thấy.
Lời nói của thiên sứ củng cố một lẽ thật quan trọng: Mọi sự Giăng đã thấy trong sách Khải huyền sẽ ứng nghiệm. Những gì vị sứ đồ đã được cảm thúc viết ra không thuộc diện huyền bí; Sự mặc thị không phải là một tường trình các điềm chiêm bao kỳ dị của ông hay là kết quả của một trí tưởng tượng quá khích. Đấy không phải là một câu chuyện ngụ ngôn mà từ đó độc giả có thể trích dẫn ý nghĩa ẩn bí theo cách pha chế của riêng họ. Đây là một mô tả chính xác về các biến cố và những nhân vật chưa đến. Các câu 18 và 19 của chương này đưa ra một lời cảnh cáo chống lại việc giả mạo với sách Khải huyền: “Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy”.
Giăng đã khẳng định phần làm chứng năng động của vị thiên sứ trước sự chân thật những gì ông đã thấy và nghe, ông ghi lại rằng Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra. Đức Chúa Trời là Đấng cảm động thần của các phát ngôn viên của Ngài các đấng tiên tri phải cảm thúc cả Cựu và Tân Ước cũng chính là Đức Chúa Trời là Đấng đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài (những người tin Chúa; đối chiếu câu 3; 1:1; 2:20; 7:3; 11:18; 15:3; 19:2, 5; Lu 2:29; Cong 4:29; 16:17; Ro 1:1; Ga 1:10; Phi 1:1; Co 1:7; 4:7; Gia 1:1; IIPhi 1:1; Giu 1:1) những điều kíp phải xảy ra (đối chiếu Lu 1:70; IIPhi 3:2). Không có một lời xưng nhận nào ngắn gọn cho bằng Giăng về sự cảm thúc trọn vẹn và hoàn toàn về sách Khải huyền. Những lời tiên tri được ghi lại bởi các đấng tiên tri trước kia trong Kinh Thánh đều đã được ứng nghiệm từng chữ một, và những lời tiên tri trong sách Khải huyền cũng sẽ ứng nghiệm y như thế (xem phần bàn luận ở chương 16 của tập sách này).
Tính chính xác, chi tiết và mức đúng đắn mà với đó những lời tiên tri trước kia đã được ứng nghiệm rồi đã trở thành khuôn mẫu cho những gì sắp được ứng nghiệm. Sự tường trình có tính tiên tri của Đức Chúa Trời là trọn vẹn. Ngài dự đoán Israel sẽ bị đi làm phu tù, và xứ sở cũng vậy (Le 26:33-39). Ngài dự đoán sự huỷ diệt của Ba-by-lôn (Es 13:1-14:27; Giê-rê-mi 50-51) và Ty-rơ (Es 23:1…), và các thành phố đó đã bị hủy diệt. Ngài tiên đoán rằng Đấng Mê-si sẽ chào đời tại thành Bết-lê-hem (Mi 5:1), cho một nữ đồng trinh (Es 7:14), và bị giết bởi hạng tội nhân (Es 53:7-10) và Ngài đã bị giết. Như vậy, khi Đức Chúa Trời tiên đoán các sự kiện trong tương lai, như sự cất Hội thánh lên, sự dấy lên của Anti-christ, những sự phán xét qua cái ấn, tiếng loa, và cái bát, trận chiến Ạt-ma-ghê-đôn, sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ, và Vương quốc ngàn năm trên đất của Ngài, các biến cố đó chắc chắn sẽ xảy đến. Đức Chúa Trời sẽ làm chính xác những gì Ngài phán Ngài sẽ làm, y như chính mình Ngài tuyên bố trong Es 46:9 -11:
Hãy nhớ lại những sự ngày xưa; vì ta là Đức Chúa Trời, và chẳng có Chúa nào khác; ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như ta. Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý. … Điều ta đã rao ra, ta sẽ làm hoàn thành, điều ta đã định, ta cũng sẽ làm.
Thực tại sự tái lâm tức thì của Chúa chúng ta kêu gọi bốn phản ứng nơi phần của từng người tin Chúa: vâng theo ngay lập tức, thờ phượng ngay lập tức, công bố ngay lập tức, và phục vụ ngay lập tức.
VÂNG THEO NGAY LẬP TỨC
“Kìa, ta đến mau chóng. Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy!” (22:7)
Kai (kìa) đánh dấu một sự thay đổi nơi phần các diễn giả (đối chiếu các câu 8, 9). Diễn giả không còn là vị thiên sứ nói ở câu 6 nữa, mà là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng đến mau chóng. Ngài công bố ra phước lành thứ sáu trong bảy phước lành có trong sách Khải huyền (đối chiếu câu 14; 1:3; 14:13; 16:15; 19:9; 20:6): “Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy!” Ba lần kia những lời … trong sách nầy (Khải huyền) được gọi là lời tiên tri (các câu 10, 18, 19). Mặc dù lời tiên tri theo định nghĩa đề cập đến bất kỳ sứ điệp nào nói về quá khứ, hiện tại hay tương lai, Khải huyền là một quyển sách lớn, chứa nhiều lời dự đoán và các lời hứa trong tương lai. Giữ phiên dịch hình thức phân từ của động từ t¯ere¯o, ý nói “gìn giữ” “nắm chặt” hay “canh chừng”. Cũng thuật ngữ đó được sử dụng ở 14:12 để mô tả “sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus”.
Những người tin Chúa được kêu gọi phải canh giữ hay bảo vệ sách Khải huyền. Sách ấy phải được bảo vệ chống lại những kẻ nào gièm pha, chối bỏ sự xác đáng của nó, chống lại phái phê bình nào chối bỏ tính chân thật và thẩm quyền của nó, cũng như chống lại những kẻ giải thích sai, làm cho ý nghĩa của nó ra mù mờ. Thực vậy, cả Kinh Thánh đều phải được canh giữ y như thế Phao-lô đã truyền cho Ti-mô-thê: “hãy giữ lấy sự giao phó đã nấy cho con, … Hãy lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ mà giữ lấy mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích, là sự con đã nhận lãnh nơi ta. Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều phó thác tốt lành” (ITi 6:20; IITi 1:13-14).
Những người tin Chúa được kêu gọi không những lo canh giữ Kinh Thánh, mà còn phải vâng theo Kinh Thánh nữa. Chúa Jêsus phán: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta . . . Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài” (Gi 14:15; 15:10; đối chiếu Gi 14:21, 23). Nhu cần vâng theo các mạng lịnh trong Kinh Thánh là lẽ đạo nền tảng trong thư tín thứ nhứt của Giăng: “Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người” (IGi 2:3-4); “Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài. Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề” (IGi 5:2-3). Người nào sống giống như thể Chúa Jêsus sẽ đến bất cứ giây phút nào sẽ sống trong sự vâng phục đối với Kinh Thánh.
Thắc mắc phát sinh đối với lời nào trong sách Khải huyền người tin Chúa được kêu gọi phải giữ lấy. Trước mạng lịnh này, không có một mạng lịnh cụ thể nào được gửi tới các Cơ-đốc nhân trong phân đoạn Khải huyền bao gồm các biến cố trong tương lai (các chương 4-22), mặc dù có một số mạng lịnh đề cập đến bảy Hội thánh (các chương 2-3). Như vậy, nói giữ sách Khải huyền sẽ có ý nghĩa như thế nào chứ? Đây là một mạng lịnh tổng quát phải khao khát sự trở lại của Đấng Christ và mối giao thông đời đời của chúng ta với Ngài. Nó kêu gọi người tin Chúa phải khát khao thiên đàng, ham muốn sự thánh khiết, mong mỏi nhìn thấy Đấng Christ cách rõ ràng và thắng hơn kẻ thù của Ngài, mong muốn sự rủa sã phải kết thúc, và mong mỏi sự vinh hiển vương quốc trần gian của Đấng Christ và trời mới đất mới. Sau khi đọc sách Khải huyền, Cơ Đốc nhân phải kính mến Đấng Christ nhiều hơn, ao ước muốn gặp Ngài tỏ tường trong sự vinh hiển Ngài, sống trong ánh sáng của thực tại rằng một ngày kia họ sẽ gặp Ngài, tự ngắt mình ra khỏi hệ thống thế gian hư mất, theo đuổi các thực tại trên trời, tìm cách được dựng nên giống như Đấng Christ, sự trông cậy về loại thân thể phục sinh của họ, và lường trước các phần thưởng đời đời của họ. Họ cũng phải hiểu sự phán xét đáng sợ đang chờ đợi những người nào chưa phải là Cơ Đốc nhân, và kêu gọi hạng tội nhân kia phải ăn năn và có đức tin cứu rỗi nơi Chúa Jêsus.
Đức Chúa Trời không truyền cho người tin Chúa phải đọc sách Khải huyền chỉ để thỏa mãn sự tò mò của họ về cuộc tương lai. Ngài không cảm thúc sách ấy để cung ứng dữ liệu cho loại biểu đồ chi tiết theo thời gian cho các biến cố của kỳ tận thế. Dường như có một luồng sách vỡ vô tận về lời tiên tri đang bị khuấy động lên, với những kế hoạch dự đoán lời tiên tri ad infinitum [vô hạn], ad nauseam [tới mức gây buồn nôn]. Nhưng đấy chẳng phải là mục đích của Đức Chúa Trời cung cấp cho Cơ Đốc nhân một bảng phân tích chi tiết về ý nghĩa tiên tri (nếu có) về các biến cố văn hoá, chính trị, quân sự hoặc xã hội đương đại. Đức Chúa Trời đã cảm thúc sách Khải huyền cho một mục đích: để tỏ ra sự vinh hiển của Con Ngài và kêu gọi người tin Chúa sống theo loại đời sống tin kính vâng phục trong ánh sáng sự tái lâm không bao lâu nữa của Ngài. Mục đích của sách Khải huyền không phải là cung ứng môn giải trí đâu, mà cung ứng động lực cho cuộc sống tin kính.
Sứ đồ Phi-e-rơ cũng dạy rằng sự hiểu biết của người tin Chúa về các biến cố kỳ tận thế sẽ khiến họ phải sống loại đời sống tin kính. Trong một phân đoạn mô tả Ngày của Đức Giê-hô-va trong tương lai, sự huỷ diệt vũ trụ hiện tại, và sự đến của trời mới đất mới, Phi-e-rơ viết: “Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào, trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến … Vậy nên, hỡi kẻ rất yêu dấu, vì anh em trông đợi những sự đó, thì phải làm hết sức mình, hầu cho Chúa thấy anh em ở bình an, không dấu vít, chẳng chỗ trách được” (IIPhi 3:11-12, 14). Các thực tại vinh hiển trong tương lai được mô tả trong sách Khải huyền thúc đẩy một sự cam kết nơi phần của người tin Chúa hướng tới loại đời sống thánh khiết. Sự sắp trở lại của Đấng Christ đòi hỏi sự vâng phục ngay tức thì.
THỜ PHƯỢNG NGAY LẬP TỨC
“Chính tôi là Giăng đã thấy và nghe những điều đó. Khi nghe và thấy đoạn, tôi sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi, để thờ lạy. Song người phán rằng: Chớ làm vậy! Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, là các đấng tiên tri, và với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời!” (22:8-9)
Mặc dù không biểu hiện trong bản Kinh Thánh New American Standard Bible Update Edition, một hình thức kai (kag¯o; từ kai, “và” cùng với eg¯o, “Tôi”) bắt đầu câu 8. Như vốn có ở câu 7, nó đánh dấu thay đổi về diễn giả; diễn giả không phải là Đấng Christ nữa, mà là Giăng, ông đã nêu tên của mình lần đầu tiên kể từ 1:9. Vị tiên tri được cảm thúc đã thêm lời làm chứng của mình về tính chân thật của sách Khải huyền với lời làm chứng của thiên sứ (câu 6), công bố tôi là Giăng đã thấy và nghe những điều đó. Khi ấy, đắc thắng bởi những gì ông đã thấy và nghe, Giăng sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi. Ông có sự phản ứng thích đáng, thờ lạy, nhưng bị phủ lút với sự kinh ngạc, Giăng vô tình hướng phản ứng ấy đến một đối tượng không đúng. Vị sứ đồ biết rõ rằng các thiên sứ không được thờ lạy; thực vậy, trước đó ông đã bị khiển trách vì đã cố gắng làm như thế (19:10). Nhưng giống như Ê-xê-chi-ên (Exe 1:28), Đa-ni-ên (Da 8:17; 10:9), và Phi-e-rơ, Gia-cơ, và bản thân ông nơi Sự Hoá Hình (Mat 17:6), Giăng đơn giản sấp mình xuống trong việc lạ lùng và thờ lạy.
Bởi vì chỉ một mình Đức Chúa Trời mới được thờ lạy (Xu 34:14; Mat 4:10), vị thiên sứ phán cùng Giăng: “Chớ làm vậy”. Ngài vội vàng nhắc cho vị sứ đồ nhớ rằng Ngài cũng là một tạo vật được dựng nên, tuyên bố Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, là các đấng tiên tri, và với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Đối với việc trở thành một đối tượng thờ phượng hợp pháp cho Giăng, vị thiên sứ thực ra là người anh em của ông, và không những của ông, mà còn là của anh em của Giăng, là các đấng tiên tri, và hết thảy người tin Chúa, được xác định ở đây là những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Xuyên suốt Kinh thánh, các thiên sứ được xem là đang phục vụ dân sự của Đức Chúa Trời. Họ tham gia vào việc ban Luật pháp cho Israel (Cong 7:53; Ga 3:19; He 2:2) và thường xuyên được nhìn thấy đang bảo vệ người tin Chúa (đối chiếu Xu 23:20; IISu 32:21; Thi 91:11; Da 3:28; 6:22; Cong 5:19; 12:7-11). Tóm tắt lại chức vụ của các thiên sứ đối với người tin Chúa, tác giả thơ Hê-bơ-rơ hùng hồn hỏi: “Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?” (He 1:14).
Sau khi kêu gọi vị sứ đồ còn đang hoang mang kia phải tỉnh táo và về đối tượng duy nhứt của sự thờ phượng, vì thiên sứ truyền cho Giăng hãy thờ phượng Đức Chúa Trời. Một sự hiểu biết thích ứng sách Khải huyền sẽ gợi ra sự thờ phượng; như vậy, thờ phượng là một lẽ đạo chính trong sách Khải huyền (đối chiếu 4:8-11; 5:8-14; 7:9-12; 15:2-4; 19:1-6). Như đã lưu ý ở trên, chỉ một mình Đức Chúa Trời là Thân Vị duy nhứt xứng đáng với sự thờ phượng. Kinh Thánh cấm đoán sự thờ lạy bất cứ ai khác, kể cả các thiên sứ, thánh đồ, nữ đồng trinh Mary, hay bất kỳ một hữu thể nào được dựng nên (đối chiếu Cô-lô-se 2:18).
CÔNG BỐ TỨC THÌ
“Rồi người lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy; vì thì giờ đã gần đến. Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!” (22:10-11)
Tiếp tục sứ điệp của Ngài với Giăng, vị thiên sứ truyền cho ông: “Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy”. Sứ điệp của sách Khải huyền không nên bị giấu kín (đối chiếu 10:11); đây là một sứ điệp cần phải được rao giảng ra để tạo ra sự vâng phục và thờ phượng. Như vậy, không giống như Đa-ni-ên (Da 8:26; 12:4-10), Giăng được dặn dò chớ niêm phong những lời tiên tri của sách Khải huyền. Công bố tức thì sách nầy được kêu gọi vì cớ sự đến của Đấng Christ là tức thì cho từng thế hệ từ thời của Giăng cho đến thời hiện tại đây.
Những lời đặc biệt của sách Khải huyền không được niêm phong lại nhấn mạnh một lần nữa rằng sẽ chẳng có một ý nghĩa nào kín giấu, bí mật so với ý nghĩa thông thường của quyển sách. Nếu lẽ thật không rõ ràng trong những lời nầy thế thì mạng lịnh sẽ ra vô nghĩa ngay. Nếu sự hiểu biết đơn giản, thông thường của những lời trong sách Khải huyền không chuyển tải ý nghĩa mà Đức Chúa Trời đã dự trù cho độc giả của nó nắm bắt, khi ấy những lời đó đã bị niêm phong rồi.
Ở phần đầu sách Khải huyền, Giăng được truyền cho: “Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh” (1:11). Sứ điệp của sách Khải huyền, rằng Chúa Jêsus sẽ trở lại đem theo ơn phước cho sự phán xét của chính Ngài và kinh khiếp giáng trên kẻ bất kỉnh, là quá nghiêm trọng không nên rao truyền. Do đó, không rao giảng sách Khải huyền không những là dại dột (đối chiếu 1:3), mà còn là tội lỗi nữa. Bất kỳ Cơ Đốc nhân nào thất bại không học biết lẽ thật của nó đều bị mất phước; bất kỳ nhà truyền đạo nào thất bại không công bố ra các lẽ thật của nó là bất trung phạm tội với nhiệm vụ của mình. Không rao giảng sách Khải huyền là thất bại không tôn vinh Đức Chúa Jêsus Christ với sự vinh hiển xứng đáng với Ngài. Còn hơn cả thất bại không rao giảng toàn bộ mưu luận của Đức Chúa Trời (Cong 20:27), đây là sự bất tuân đối với mạng lịnh không được niêm phong những lời của sách Khải huyền. Làm như thế, nó cướp đi người tin Chúa phần kết câu chuyện thiêng liêng của lịch sử trong mọi sự kỳ diệu và đầy trọn của nó. Không một người nào cứ lo phân chia mà rao giảng sách này một cách đúng đắn cho được.
Lời tuyên bố kế tiếp của vị thiên sứ dường như lạ lùng ngoài văn mạch trong phân đoạn nầy: “Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa!” Có người nghĩ rằng mối liên hệ của nó với mạng lịnh trước đó là không rõ ràng. Nhưng lẽ thật nó truyền tải, ấy là phản ứng của mọi người trước sự rao giảng lẽ thật sẽ phù hợp với số phận đời đời của họ. Người nào nghe lẽ thật nhưng cứ tiếp tục làm điều không công bình và sống ô uế bởi cách phản ứng cứng lòng đều thích ứng với số phận trong địa ngục đời đời của họ. Mặt khác, người nào tiếp tục làm theo sự công bình và cứ làm nên thánh cung ứng chứng cớ về đức tin cứu rỗi chân chính. Trạng từ eti (vẫn) sẽ có ý nghĩa “vẫn cứ thế”. Trong trường hợp đó, ý nghĩa cho thấy kẻ làm điều không công bình và ô uế trong đời này sẽ vẫn còn ở trong địa ngục đời đời, là nơi sẽ hoàn toàn không có ảnh hưởng tốt để giảm thiểu cái ác của họ. Ngược lại, người nào sống công bình và thánh khiết trong đời này sẽ hoàn toàn được thánh khiết trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển của họ trên thiên đàng.
Thật là nghiêm túc khi nhận ra rằng đáp ứng của con người đối với lẽ thật Tin lành của Đức Chúa Trời trong đời này sẽ quyết định số phận đời đời của họ. Khi họ qua đời, hoặc khi Chúa tái lâm, bản chất của họ sẽ được biến đổi vĩnh viễn. Người nào đáp ứng trước những lời cảnh cáo trong sách Khải huyền sẽ sống đời đời trên thiên đàng. Nhưng kẻ nào không chú ý đến những lời cảnh cáo đó và chịu ăn năn sẽ vẫn ở đời đời trong tình trạng tội lỗi của họ. Cũng rất thực ở chỗ Thánh Linh của Đức Chúa Trời không luôn luôn kêu gọi hạng tội nhân ăn năn, và Kinh Thánh cảnh cáo hạng tội nhân chớ có cứng lòng họ đến mức Đức Chúa Trời từ bỏ họ (Thi 95:7-8; He 3:15; 4:7). Tuy nhiên, thật là thê thảm, những lời cảnh cáo đó thường không được chú ý đến, và cơ hội ăn năn và tin theo Tin lành bị lãng phí (đối chiếu Mat 25:1-13; Lu 13:24-25). Khi nói về hạng tội nhân sai lạc của vương quốc phía Bắc (Israel), Đức Chúa Trời công bố: “Ép-ra-im sa mê thần tượng, hãy để mặc nó!” (Os 4:17). Chúa Jêsus phán về dòng Pha-ri-si cứng lòng: “Hãy để vậy: đó là những kẻ mù làm người dẫn đưa; nếu kẻ mù dẫn đưa kẻ mù, thì cả hai sẽ cùng té xuống hố” (Mat 15:14; đối chiếu Mat 23:16, 24; Lu 6:39). Cả hai phân đoạn ấy biểu hiện cơn thạnh nộ bác bỏ của Đức Chúa Trời (Ro 1:18-32), khi Ngài xây hạng tội nhân cứng lòng, không ăn năn qua các hậu quả của những lựa chọn của chính họ.
Việc rao giảng sách Khải huyền vẽ ra lằn ranh. Các lẽ thật của sách ấy sẽ làm tan chảy tấm lòng của kẻ biết ăn năn và làm cứng lòng của kẻ không chịu ăn năn. Cũng chính lẽ thật đó một là trở thành công cụ của sự cứu rỗi, hoặc một công cụ của sự rủa sã (đối chiếu ICo 1:18; IICo 2:15-16). Chúng phải được rao giảng để nhiều người nam người nữ sẽ nghe được chúng trong khi vẫn còn có thì giờ.
PHỤC VỤ TỨC THÌ
“Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm” (22:12)
Diễn giả không còn là thiên sứ nữa, mà là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài lặp lại lời công bố của Ngài ở câu 7: “Kìa, ta đến mau chóng”. Như đã lưu ý trong phần giới thiệu cho chương nầy, lời lẽ của Chúa Jêsus có ý nói rằng sự đến của Ngài là tức thì. Sự ấy dạy dỗ cùng một lẽ thật Ngài đã phán trong Mac 13:33-37:
Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào. Ấy cũng như một người kia đi đường xa, bỏ nhà, giao cho đầy tớ mỗi đứa cai quản một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh. Vậy, các ngươi hãy thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai, e cho người về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng. Điều mà ta nói cùng các ngươi, ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!
Khi Ngài đến, Chúa Jêsus đem phần thưởng theo với Ngài, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm. Các phần thưởng đời đời của người tin Chúa sẽ chiếu theo sự trung tín của họ trong sự phục vụ Đấng Christ ở đời này. Mọi việc làm của họ sẽ được thử nghiệm, và chỉ những công việc nào với giá trị đời đời sẽ còn lại (ICo 3:9-15; IICo 5:9-10). Các phần thưởng người tin Chúa hưởng trên trời sẽ là các khả năng cho sự phục vụ Đức Chúa Trời, sự trung tín của họ càng lớn lao trong đời này, cơ hội của họ phục vụ ở trên trời sẽ càng lớn lao hơn (đối chiếu Mat 25:14-30). Khi nhìn biết như thế, Giăng khuyên bảo những người tin Chúa: “Chính các ngươi hãy giữ, hầu cho khỏi mất kết quả của công việc mình, nhưng cho được phần thưởng đầy đủ” (IIGi 1: 8).
Sự hiểu biết rằng Chúa Jêsus có thể tái lâm vào bất kỳ thời điểm nào sẽ chẳng dẫn Cơ Đốc nhân tới một đời sống biếng nhác chờ đợi sự đến của Ngài (đối chiếu IITe 3:10-12). Thay vì thế, nó sẽ tạo ra sự phục vụ cẩn trọng, vâng phục, thờ lạy Đức Chúa Trời, và sự rao giảng cấp bách Tin lành cho những người chưa tin Chúa.