Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

03 – Sự Mặc Thị Về Đức Chúa Con Vinh Hiển (Kh 1:9-20)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Jêsus, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Jêsus. Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa, rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. Bấy giờ tôi xây lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì; vừa xây lại thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa những chân đèn có ai giống như con người, mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực. Đầu và tóc người trắng như lông chiên trắng, như tuyết; mắt như ngọn lửa; chân như đồng sáng đã luyện trong lò lửa, và tiếng như tiếng nước lớn. Tay hữu người cầm bảy ngôi sao; miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi và mặt như mặt trời khi soi sáng hết sức. Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến, tức là sự mầu nhiệm của bảy ngôi sao mà ngươi thấy trong tay hữu ta, và của bảy chân đèn vàng. Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy” (Kh 1:9-20).

Gần lúc kết thúc thế kỷ thứ nhứt, Cơ đốc giáo đã trở thành một đảng phái tôn giáo bị thù ghét và xem khinh trong Đế Quốc La-mã. Viết cho Hoàng đế Trajan vào đầu thế kỷ thứ hai, Pliny, thống đốc La-mã xứ Bithynia, khi dễ Cơ đốc giáo là một “thứ dị đoan và mê tín”. Pliny tiếp tục phàn nàn rằng “sự lây lan của thứ mê tín dị đoan này đã trải rộng không những trong các thành phố, mà còn ở nhiều làng mạc cùng những khu vực nông thôn nữa” (trích dẫn Henry Bettenson, Documents of the Christian Church [London: Oxford University Press, 1967], 4). Sử gia La-mã là Tacitus, một người đương thời với Pliny, mô tả các Cơ đốc nhân là “một giai cấp bị thù ghét vì những sự gớm ghiếc của họ” (trích dẫn Bettenson, Documents, 2), trong khi Suetonius, một người đương thời khác với Pliny, đã bác bỏ họ như là “một nhóm người trung thành triệt để với một thứ tiểu thuyết và tệ nạn nguy hiểm” (trích Bettenson, Documents, 2).

Ngoài sự thù địch tự nhiên của hạng người sa ngã đối với lẽ thật của Tin lành, Cơ đốc nhân còn bị thù ghét vì một vài lý do khác nữa. Về mặt chính trị, người La-mã xem họ như bất trung vì họ từ chối không công nhận Caesar là thẩm quyền tối cao. Sự bất trung này đã được khẳng định trong con mắt các giới chức La-mã do Cơ đốc nhân từ chối không dâng các lễ vật có tính bắt buộc cho Hoàng đế. Nhiều lần nhóm lại của họ đã được tổ chức riêng lúc ban đêm, khiến các giới chức La-mã tố cáo họ đang hoạch định âm mưu chống chính quyền.

Về tôn giáo, Cơ đốc nhân đã bị tố cáo là hạng người vô thần vì họ chối bỏ đền thờ các thần linh của người La-mã và vì họ đã thờ lạy một Đức Chúa Trời không thấy được bằng mắt thường, chớ không thờ lạy một hình tượng. Nhiều sự đồn đãi hoang đường, dựa trên những sự hiểu lầm về các tín điều và thực hành Cơ đốc, họ bị tố cáo một cách dối trá về hình thức ăn thịt đồng loại, loạn luân và những ảo giác tình dục khác.

Về mặt xã hội, Cơ đốc nhân, đa số họ đều là những người xuất thân từ giai cấp thấp kém hơn trong xã hội (đối chiếu ICo 1:26), bị chế độ quý tộc La-mã xem khinh. Sự dạy Cơ đốc cho thấy rằng mọi người đều bình đẳng (Ga 3:28; Co 3:11) đã đe doạ làm suy yếu cấu trúc phân cấp trong xã hội La-mã và lật đổ tầng lớp ưu tú khỏi địa vị đặc quyền của họ. Nó cũng làm tăng nỗi sợ hãi của giới quý tộc La-mã về một cuộc nổi loạn của hạng nô lệ. Cơ đốc nhân không công khai chống đối chế độ nô lệ, song họ nghĩ là họ đã làm suy yếu chế độ ấy bởi sự dạy cho rằng giới chủ nhân và hạng nô lệ đều bình đẳng trong Đấng Christ (Phi-lê-môn). Sau cùng, Cơ đốc nhân từ chối không tham gia vào các hoạt động giải trí theo đời nầy, vì phần lớn là một phần của xã hội ngoại giáo, tránh các lễ hội, nhà hát, và các sự kiện dị giáo khác.

Về mặt kinh tế, Cơ đốc nhân bị xem là một mối đe dọa bởi giới tế lễ, thợ thủ công, và các thương gia, họ hưởng lợi từ sự thờ lạy hình thần tượng. Sự thù địch là hậu quả, đầu tiên được nhìn thấy trong cuộc bạo loạn tại thành Êphêsô (Cong 19:23 …), được đào sâu hơn khi Cơ đốc giáo trở nên phổ biến rộng rãi hơn. Trong thư gửi cho Hoàng đế Trajan được trích dẫn ở trên, Pliny phàn nàn rằng các chùa chiền dị giáo đã bị bỏ hoang, và những người bán thú vật làm sinh tế không tìm được nhiều người mua.

Trong kỷ nguyên mê tín dị đoan này, nhiều người La-mã e rằng các thảm hoạ trong thiên nhiên đã kết quả từ sự chễnh mãng đối với các tà thần. Nhà biện giải Cơ đốc là Tertullian, thuộc thế kỷ thứ ba nhận xét với sự châm biếm: “Nếu sông Tiber lên đụng các bức tường, nếu sông Nile không dậy lên phủ trên các đồng ruộng, nếu có nạn đói, nếu có dịch lệ, lúc ấy có tiếng kêu la: ‘Cơ đốc nhân cho bầy sư tử!’ Sao chứ, hết thảy họ cho một con sư tử sao?” (trích dẫn M. A. Smith, From Christ To Constantine [Downers Grove, Ill.: Intervarsity, 1973], 86).

Trong vài thập niên đầu sau cái chết của Đấng Christ, nhà cầm quyền La-mã coi Cơ đốc giáo là một tông phái của Do-thái giáo (đối chiếu Cong 18:12-16). Sau cùng, chính sự thù địch mà người Do-thái biểu lộ chống lại Cơ đốc nhân khiến người La-mã phải công nhận Cơ đốc giáo là một tôn giáo khác biệt với Do-thái giáo. Điều đó xác định Cơ đốc nhân là những người thờ phượng một tôn giáo bất hợp pháp (Do-thái giáo là religio licita, hay tôn giáo hợp pháp). Tuy nhiên, chẳng có một sự bắt bớ nào công khai bởi nhà cầm quyền La-mã cho đến thời của Nero. Nhằm tìm cách xoa dịu sự nghi ngờ của công chúng cho rằng ông đã gây ra đợt hỏa hoạn lớn ở Rome (ngày 19 tháng 7 năm 64), Nero đổ lỗi cho các Cơ đốc nhân về việc ấy. Kết quả là, nhiều Cơ đốc nhân đã bị hành quyết tại Rome (bao gồm, theo truyền khẩu, cả Phi-e-rơ và Phao-lô), nhưng vẫn chưa có cuộc bức hại khắp đế quốc. Ba thập kỷ sau đó, Hoàng đế Domitian đã xúi giục cuộc bức hại chính thức các Cơ đốc nhân. Các chi tiết chẳng có ai biết đến, nhưng cuộc bức hại lan rộng đến đến tỉnh Á châu (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Sứ đồ Giăng đã bị trục xuất ra quần đảo Bát-mô, và ít nhất là một người, một vị mục sư, đã tuận đạo rồi (Kh 2:13). Các tín hữu bị bắt bớ, bị bao vây, bị ngã lòng ở Tiểu Á, Giăng đã đề cập đến họ trong sách Khải Huyền, họ rất cần sự khích lệ. Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi Chúa Jêsus thăng thiên về trời. Thành Jerusalem đã bị phá hủy và xứ Israel bị tàn phá. Hội thánh đã đánh mất tình yêu ban đầu của mình, họ thỏa hiệp, dung chịu tội lỗi, trở nên bất lực, và xúc phạm đến chính mình Chúa (điều này được mô tả trong Khải huyền 2 và 3). Các vị sứ đồ khác đã chết, và Giăng bị lưu đày. Toàn bộ bức tranh trông rất ảm đạm. Đó là lý do tại sao sự mặc thị đầu tiên Giăng nhận được từ Đức Thánh Linh cảm thúc nói tới chức vụ hiện tại của Đấng Christ trong Hội thánh.

Các độc giả của Giăng cảm thấy thoải mái trong sự hiểu biết rằng Đấng Christ một ngày nào đó sẽ tái lâm trong vinh hiển rồi đánh bại các kẻ thù của Ngài. Phần mô tả về các biến cố trọng đại này chiếm hầu hết sách Khải Huyền. Nhưng sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ bắt đầu quyển sách không mô tả Chúa Jêsus trong sự vinh hiển tương lai của Ngài, mà mô tả Ngài trong thì hiện tại là Chúa của Hội Thánh đã được tôn vinh hiển. Bất chấp mọi thất vọng, Chúa đã không từ bỏ Hội thánh hoặc các lời hứa của Ngài. Sự mặc thị đầy năng quyền nầy về chức vụ hiện tại của Đấng Christ đối với họ đã cung ứng sự trông cậy và yên ủi lớn lao cho các Hội thánh đang kinh ngạc và chịu khổ mà Giăng đã viết về họ. Các câu 9-20 cung ứng bối cảnh của sự mặc thị, mở ra chính sự mặc thị ấy, và nói tới mọi tác động của nó.

BỐI CẢNH MẶC THỊ

“Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Jêsus, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Jêsus. Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa, rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê” (Kh 1:9-11).

Đây là lần thứ ba trong 9 câu đầu tiên của sách này mà Giăng đề cập đến bản thân ông đích danh (đối chiếu các câu 1, 4). Lần này, sự ngạc nhiên của ông khi nhận được sự mặc thị này khiến ông phải thêm một đại danh từ riêng Tôi. Giăng rất kinh ngạc về việc ấy, vì mặc dù ông hoàn toàn không xứng đáng, ông đã có đặc quyền vô giá nhận lãnh sự mặc thị quan trọng này.

Giăng là một vị sứ đồ, là một thành viên vòng trong mười hai người cùng với Phi-e-rơ và Gia-cơ, và là tác giả của một sách Tin lành và ba thư tín. Tuy nhiên, ông khiêm tốn tự các định mình một cách đơn sơ là anh em của anh em. Ông không viết như một người có ấn tượng với thẩm quyền của ông là một vị sứ đồ, ra lịnh, khích lệ hoặc vạch ra lẽ đạo, mà là một chứng nhân cho sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ khi khởi sự mở ra với sự mặc thị nầy.

Giăng tiếp tục khiêm tốn xác định với độc giả của mình bằng cách mô tả bản thân ông là bạn của họ, chia sẻ với họ trước hết là trong sự hoạn nạn. Giống như họ, lúc đó Giăng đã ở trong thời điểm chịu khổ nghiệt ngã trầm trọng vì lý tưởng của Đấng Christ, đã bị lưu đày với các tội phạm khác. Vì thế ông có thể xác định với các tín đồ chịu khổ mà ông đã viết cho họ. Giăng là một chi thể trong cùng một nước với các độc giả của ông — bầu không khí của sự cứu rỗi; cộng đồng được chuộc mà qua đó Chúa Jêsus tễ trị trong vai trò Chúa Tễ và Vua (câu 6). Ông chia sẻ mối quan hệ họ hàng với họ như một đối tượng anh em của Đức Chúa Jêsus Christ. Sau cùng, Giăng đã xác định với các độc giả của mình về vấn đề sự nhịn nhục. Hupomon¯e (sự nhịn nhục) sát nghĩa ý nói “vẫn ở dưới”. Nó nói đến sự gánh chịu với sự nhịn nhục những khó khăn mà không nhượng bộ.

Giăng mô tả thêm các kinh nghiệm này như trong Đức Chúa Jêsus. Sự bắt bớ đầy đau khổ vì lý tưởng của Đấng Christ, thuộc về vương quốc của Ngài, và nhịn nhục chịu đựng các thử thách là các trải nghiệm Cơ đốc rõ nét.

Khi ông nhận lãnh sự mặc thị nầy, Giăng đã ở trong cuộc lưu đày trên đảo Bát-mô. Bát-mô là một hòn đảo trơ trọi, do núi lửa tạo nên trên Biển Aegean, ở hai đầu của nó bề dài khoảng mười dặm và bề rộng 5-6 dặm, nằm khoảng bốn mươi dặm ngoài khơi tính từ Miletus (một thành phố ở Tiểu Á khoảng ba mươi dặm phía nam thành Êphêsô; đối chiếu Cong 20:15-17). Theo sử gia La-mã là Tacitus, lưu đày đến những hòn đảo như vậy là một hình thức phổ thông của sự trừng phạt trong thế kỷ thứ nhất. Cùng lúc Giăng bị trục xuất ra đảo Bát-mô, Hoàng đế Domitian đã trục xuất cháu ruột của mình, là Flavia Domitilla, ra một hòn đảo khác (F. F. Bruce, New Testament History [Garden City, N.Y.: Doubleday, 1972], 413). Không giống như Flavia Domitilla, sự trục xuất của người có động cơ chính trị, có lẽ Giăng đã bị gửi đến Bát-mô như một tội phạm (là một Cơ đốc nhân, ông là thành viên của một nhóm tôn giáo bất hợp pháp). Nếu vậy, những điều kiện mà ông sống sẽ rất là khắc nghiệt. Lao động kiệt lực dưới con mắt dè chừng (sẵn sàng ăn roi) của người La-mã, thức ăn và quần áo không đầy đủ, rồi phải ngủ trên mặt đất trơ trụi kia sẽ gây nhiều thiệt hại cho một cụ già chín mươi tuổi. Chính trên hòn đảo trơ trụi ấy, dưới những điều kiện khắc nghiệt đó, Giăng đã nhận được một sự mặc thị quan trọng nhất của tương lai đã được ban ra.

Tội duy nhất của Giăng là trung thành với lời Đức Chúa Trời và chứng của Chúa Jêsus. Như đã lưu ý trong phần thảo luận câu 2 trong chương 1 của sách này, hai cụm từ đó là đồng nghĩa với nhau. Giăng bị lưu đày vì sự rao giảng trung tín, dứt khoát và không thoả hiệp của ông về Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ.

Giăng nhận lãnh sự mặc thị khi ông được Đức Thánh Linh cảm hoá; kinh nghiệm của ông vượt qua giới hạn sự hiểu biết bình thường của con người. Dưới sự kiểm soát của Chúa Thánh Linh, Giăng đã được chuyển đi trên chuyến phi cơ kinh nghiệm và sự hiểu biết vượt quá mọi giác quan của con người. Trong trạng thái đó, Đức Chúa Trời siêu nhiên đã tỏ ra nhiều việc cho ông thấy. Ê-xê-chi-ên (Exe 2:2; 3:12, 14), Phi-e-rơ (Cong 10:9 …), Phao-lô (Cong 22:17-21; IICo 12:1 …) đều có các kinh nghiệm nầy.

Giăng đã nhận lãnh sự mặc thị nhằm ngày của Chúa. Trong khi có người cho rằng cụm từ này đề cập đến thời gian phán xét chung cuộc được gọi là Ngày của Chúa, tốt nhất nên hiểu như một tham khảo đến ngày Chúa nhật. Cụm từ Hy-lạp dịch ngày của Chúa (t¯e kuriak¯e h¯emera) khác với cách dịch “Ngày của Chúa” (t¯eh¯emerea tou kuriou, hay h¯emerea kuri-ou; ICo 5:5; ITe 5:2; IITe 2:2; IIPhi 3:10) và chỉ xuất hiện ở đây trong Tân Ước. Hơn nữa, sự mặc thị mà Giăng nhận lãnh không liên quan gì đến Ngày của Đức Giê-hô-va trong thời mạt thế; đây là sự mặc thị về chức vụ hiện thời của Đấng Christ trong Hội thánh. Sau cùng, vào thế kỷ thứ hai, cụm từ kuri-ak¯eh¯emera thường được đề cập rộng rãi đến Ngày Chúa nhật (RJ Bauckham, “The Lord’s Day” trong D. A. Carson, ed, From Sabbath to Lord’s Day [Grand Rapids: Zondervan, 1982], 221 …). Cụm từ Ngày của Chúa đã trở thành đề cập thông thường đến ngày Chúa nhật vì sự phục sinh của Đấng Christ đã diễn ra vào một ngày Chúa nhật.

Giăng nhận lãnh sứ mệnh của ông phải ghi lại sự mặc thị trong bối cảnh đầy kịch tính đã được làm cho loé lên trong lò lửa hực, và tiếng phán của Ngài giống như âm thanh của nhiều nước lớn. Ngài cầm bảy ngôi sao trong tay hữu của Ngài, rồi trong miệng Ngài có một thanh gươm bén hai lưỡi; và mặt Ngài giống như mặt trời đang soi sáng hết sức . . . “tức là sự mầu nhiệm của bảy ngôi sao mà ngươi thấy trong tay hữu ta, và của bảy chân đèn vàng. Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy” (1:12-16, 20).

Giăng nhận lãnh sứ mệnh phải ghi lại sự mặc thị theo một cung cách đầy kịch tính: nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa, rằng: Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. Tiếng kêu vang (đối chiếu Ê-xê-chi-ên 3:12) là tiếng của Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu các câu 12-13, 17-18), vang dội với Giăng với sự truyền bảo trong sáng như tiếng loa. Xuyên suốt sách Khải huyền, một tiếng hoặc âm thanh vang dội thể hiện sự trang trọng của những gì sắp sửa được tiết lộ (đối chiếu 5:2, 12; 6:10; 7:2, 10; 8:13; 10:3; 11:12, 15; 12:10; 14:2, 15, 18; 16:1, 17; 19:1, 17; 21:3). Bối cảnh là một sự gợi nhớ lại việc ban luật pháp tại Núi Sinai: “Qua sáng ngày thứ ba, có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run hãi” (Xu 19:16).

Tiếng từ trời đầy năng quyền tối thượng truyền cho Giăng: “Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy”. Đây là mạng lịnh thứ nhứt trong mười hai mạng lịnh trong sách Khải huyền yêu cầu Giăng viết những gì ông nhìn thấy (đối chiếu câu 19; 2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14; 14:13; 19:9; 21:5); ở một trường hợp khác ông đã bị không được viết (10:4).

Sau khi mô tả các bối cảnh ông nhận được sự mặc thị trong đó, khi ấy Giăng đề cập đến chính sự mặc thị. Sự mặc thị nầy đang tỏ ra và có tính dạy dỗ phong phú về công việc hiện tại của Con Đức Chúa Trời đã được tôn vinh hiển tiết lộ bảy phương diện chức vụ thường trực của Đức Chúa Jêsus Christ cho Hội thánh của Ngài: Ngài mặc lấy quyền phép cho, cầu thay, luyện lọc, phán dạy có quyền phép, kiểm soát, bảo vệ và phản ánh sự vinh hiển Ngài qua Hội thánh của Ngài.

Sau khi viết ra sự hiện thấy, Giăng cần phải gởi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. Như đã lưu ý trong phần bàn bạc câu 4, các thành phố này nằm trong tỉnh Asia của người La mã (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Bảy Hội thánh này đã được chọn vì chúng nằm trong các thành phố chính của bảy khu vực mà tỉnh Asia được phân chia ra. Vì thế chúng là những điểm trung tâm phân phối thông tin.

Bảy thành phố xuất hiện theo thứ tự mà một sứ giả, đi một đường vòng thật lớn nối lế chúng lại, sẽ đến viếng chúng. Sau khi đến tại thành Miletus, sứ giả hay các sứ giả mang sách Khải huyền đi từ phía Bắc đến thành Ê-phê-sô (thành phố gần Miletus nhất), rồi đi đường vòng đến Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a, rồi Lao-đi-xê. Các bản sao sách Khải huyền đã được phân phối cho mỗi Hội thánh.

SỰ MẶC THỊ ĐƯỢC MỞ RA

Bấy giờ tôi xây lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì, vừa xây lại, thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa những chân đèn bằng vàng có ai giống như con người, mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực. Đầu và tóc người trắng như lông chiên, trắng như tuyết, mắt như ngọn lửa, chân như đồng sáng đã luyện trong lò lửa, và tiếng như tiếng nước lớn. Tay hữu người cầm bảy ngôi sao; miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi, và mặt như mặt trời khi soi sáng hết sức…tức là sự mầu nhiệm của bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy.” (Kh 1:12-16,20)

Sau khi mô tả các bối cảnh ông nhận được trong sự mặc thị đó, khi ấy Giăng đề cập đến chính sự mặc thị. Sự tỏ ra này và cài nhìn có tính dạy dỗ phong phú về công việc hiện tại của Con Đức Chúa Trời mở ra 7 phương diện trong chức vụ thường trực của Đức Chúa Jêsus Christ cho Hội thánh của Ngài: Ngài mặc lấy quyền phép cho, cầu thay, luyện lọc, phán dạy có quyền phép, kiểm soát, bảo vệ và phản ánh sự vinh hiển Ngài qua Hội thánh của Ngài.

ĐẤNG CHRIST MẶC LẤY QUYỀN PHÉP CHO HỘI THÁNH NGÀI

“Bấy giờ tôi xây lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì; vừa xây lại thấy bảy chân đèn bằng vàng, và ở giữa những chân đèn có ai giống như con người, mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực … còn bảy chân đèn là bảy Hội thánh vậy” (Kh 1:12-13a, 20b).

Ngay từ lúc đầu sự mặc thị, Giăng xây lưng lại với tiếng phán, vì thế ông quay lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì. Khi ông xây lại, trước tiên là ông đang nhìn thấy bảy chân đèn bằng vàng, được xác định trong câu 20 là bảy Hội thánh. Những chiếc đèn này giống như loại đèn dầu di động thông thường được đặt trên những cái đèn được dùng để chiếu sáng lúc ban đêm. Chúng tượng trưng cho các Hội thánh như là sự sáng của thế gian (Phi 2:15). Chúng được làm bằng vàng vì vàng là thứ kim loại quí giá nhất. Hội thánh đối với Đức Chúa Trời là thực thể đẹp đẽ và có giá trị nhất ở trên đất —quý giá đến nỗi Chúa Jêsus đã bằng lòng mua nó bằng chính huyết của Ngài (Cong 20:28). Bảy là con số nói tới sự trọn vẹn (đối chiếu Xu 25:31-40; Xa 4:2); do đó, bảy Hội thánh thờ tượng trưng cho các Hội thánh nói chung. Đây là các Hội thánh thực tiễn ở những vị trí có thực, nhưng làm biểu tượng cho các loại Hội thánh nào tồn tại qua lịch sử của Hội thánh.

Và ở giữa những chân đèn Giăng thấy có ai giống như con người (đối chiếu Da 7:13) — Chúa vinh hiển của Hội thánh đi lại giữa các Hội thánh của Ngài. Chúa Jêsus hứa sự hiện diện liên tục của Ngài với Hội thánh của Ngài. Trong Mat 28:20, Ngài phán: “ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Mat 18:20 hứa sự hiện diện của Đấng Christ trong công tác khó khăn đương đầu với tội lỗi trong Hội thánh. Vào đêm trước sự chết của Ngài, Chúa Jêsus hứa với các môn đồ của Ngài: “Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi … Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người” (Gi 14:18, 23). He 13:5 ghi lại lời hứa của Ngài: “Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu”.

Cơ đốc nhân không thờ phượng một người tử vì đạo đúng nghĩa, một nhà lãnh đạo tôn giáo lỗi lạc đã chết. Đấng Christ hằng sống ngự trong Hội thánh Ngài để lãnh đạo và mặc lấy quyền phép cho Hội thánh. Những người tin Chúa theo cách riêng và được chọn lọc có đặc ân không lường được rút tỉa năng lực ấy qua mối giao thông liên tục với Ngài. Phao-lô đã viết về Tiệc Thánh như sau: “Cái chén phước lành mà chúng ta chúc phước, há chẳng phải là thông với huyết của Đấng Christ sao? Cái bánh mà chúng ta bẻ, há chẳng phải là thông với thân thể của Đấng Christ sao?” (ICo 10:16). Sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ trong Hội Thánh của Ngài mặc lấy quyền phép cho Hội thánh, giúp cho những người tin Chúa nói theo cách triệt để, đắc thắng với vị sứ đồ rằng: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi 4:13).

ĐẤNG CHRIST CẦU THAY CHO HỘI THÁNH NGÀI

mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực (Kh1:13b)

Việc đầu tiên Giăng lưu ý, là Đấng Christ mặc áo dài (đối chiếu Es 6:1). Loại áo dài ấy phải là hoàng tộc thì mới mặc được (thí dụ: các vua xứ Ma-đi-an, Cac 8:26; Giô-na-than, ISa 18:4; Sau-lơ, ISa 24:4; A-háp và Giô-sa-phát, IVua 22:10; và Ê-xơ-tê, Et 5:1) và các tiên tri (đối chiếu ISa 28:14). Nhưng chữ áo dài (robe) được dịch thường xuyên nhất (sáu trong số bảy lần xuất hiện của nó) trong bản Kinh Thánh 70 (Septuagint, bản dịch Cựu Ước Hy Lạp) mô tả chiếc áo dài mà thầy tế lễ thượng phẩm mặc. Trong khi Đấng Christ được trình bày theo Kinh Thánh là tiên tri và là vua, vẻ oai nghi và thần tánh của Ngài được nhấn mạnh, áo dài ở đây phác hoạ Đấng Christ trong vai trò của Ngài là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của dân sự Ngài. Rằng Ngài thắt đai vàng ngang trên ngực bằng một cái nút bằng vàng ủng hộ cho cách lý giải đó, một khi thầy tế lễ thượng phẩm trong Cựu Ước đã kết một chiếc nút như vậy (đối chiếu Xu 28:4, Le 16:4).

Sách Hê-bơ-rơ nói rất nhiều về vai trò của Đấng Christ là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta. Trong 2:17-18, tác giả thơ Hê-bơ-rơ chép: “Nhân đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy”. Trong He 3:1, ông đề cập đến Đấng Christ là “thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tin theo, tức là Đức Chúa Jêsus”, trong khi ở He 4:14, ông nhắc cho các tín hữu nhớ rằng: “chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin”. Thầy Tễ Lễ Thượng Phẩm của chúng ta “có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (He 7:25). Của lễ của Ngài vô cùng siêu việt hơn bất kỳ của lễ nào của thầy tế lễ con người nào: “Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy; Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời” (He 9:11-12).

Là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, Đấng Christ đã từng dâng của lễ trọn vẹn và đầy đủ vì tội lỗi của chúng ta và thường trực, thành tín cầu thay cho chúng ta (Ro 8:33-34). Ngài có một khả năng vô song thông cảm với chúng ta trong mọi hiểm nguy, đau buồn, thử thách và cám dỗ của chúng ta: “Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy … Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (He 2:18; 4:15). Hiểu biết rằng Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đã đi lại giữa họ cảm thông chăm sóc và bảo vệ dân sự Ngài đã cung ứng sự yên ủi và hy vọng tuyệt vời cho các Hội thánh bị bắt bớ.

ĐẤNG CHRIST LUYỆN LỌC HỘI THÁNH CỦA NGÀI

“Đầu và tóc người trắng như lông chiên trắng, như tuyết; mắt như ngọn lửa; chân như đồng sáng đã luyện trong lò lửa” (Kh 1:14-15a)

Sau khi mô tả trang phục của Đấng Christ trong câu 13, Giăng mô tả thân vị của Ngài trong các câu 14 và 15. Một vài đặc điểm đầu tiên mô tả công tác của Đấng Christ trong việc sửa phạt và luyện lọc Hội Thánh của Ngài.

Tân Ước rõ ràng đề ra tiêu chuẩn thánh Đấng Christ đã thiết lập Hội thánh của Ngài: “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Mat 5:48). Trong IICo 11:2 Phao-lô viết: “Vì về anh em, tôi rất sốt sắng như sự sốt sắng của Đức Chúa Trời, bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ”. Ông nhắc cho người thành Ê-phê-sô nhớ rằng: “Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch, đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài” (Eph 5:25-27). Trong Co 1:22 Phao-lô giải thích rằng Đấng Christ “nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà khiến anh em hòa thuận, đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được”. Phi-e-rơ nhắc cho các tín hữu nhớ rằng Đức Chúa Trời muốn họ “như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (IPhi 1:15-16).

Để giữ theo tiêu chuẩn thiêng liêng đó, Đấng Christ sẽ kỷ luật Hội thánh của Ngài (Mat 18:15-17, Gi 15:2; He 12: 5…) — thậm chí lên tới điểm cất đi mạng sống của một số Cơ đốc nhân phạm tội, không chịu ăn năn (Cong 5:1-11; ICo 11:28-30). Ngay cả Phi-e-rơ, ông hiểu rõ quyền lực của sự cám dỗ, đã cảnh cáo: “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời“ (IPhi 4:17).

Phần mô tả của Giăng về “đầu và. . . tóc người trắng như lông chiên trắng, như tuyết” là một tham khảo rõ ràng đến Da 7:9, ở đó lối nói tương tự mô tả Đấng Thượng Cổ (Đức Chúa Cha). Các phần mô tả tương ứng khẳng định thần tánh của Đấng Christ; Ngài sở hữu cùng một thuộc tính về tri thức và sự khôn ngoan thánh giống như Đức Chúa Cha. Trắng dịch từ chữ leukos, có ý nghĩa “sáng láng”, “rực rỡ” hoặc “chói lói”. Nó tiêu biểu cho sự chân thật, vinh hiển, thánh thiện đời đời của Đấng Christ.

Tiếp tục phần mô tả của ông về Đấng Christ vinh hiển, Giăng lưu ý rằng mắt (Ngài) như ngọn lửa (đối chiếu 2:18; 19:12). Cái nhìn dò xét, hiển lộ, không thể sai lầm của Ngài xâm nhập vào chính tận cùng sâu thẳm của Hội thánh Ngài, tỏ ra cho Ngài thấy thực tại của mọi sự cần phải được biết với sự rõ ràng. Chúa Jêsus tuyên bố: “chẳng có việc gì giấu mà chẳng phải bày ra, cũng chẳng có việc gì kín nhiệm mà sau sẽ chẳng biết” (Mat 10:26). Theo lời của tác giả thơ Hê-bơ-rơ: “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” (he 4:13). Chúa toàn tri của Hội thánh sẽ chẳng thất bại không nhận ra và xử lý với tội lỗi trong Hội thánh của Ngài.

Chân (của Đấng Christ) như đồng sáng đã luyện trong lò lửa, tiếp tục trình tự chỉ ra rõ ràng về sự phán xét giáng trên hạng tội nhân trong Hội thánh. Các vị vua trong thời xa xưa ngồi trên ngai cao, vì vậy những kẻ bị xét đoán sẽ luôn luôn ở bên dưới bàn chân của nhà vua. Bàn chân của một vị vua vì thế đạt tới chỗ làm biểu tượng cho uy quyền của ông ta. Bàn chân nóng hực của Đức Chúa Jêsus Christ phác hoạ Ngài đang đi ngang qua Hội thánh của Ngài để thực thi quyền sửa phạt của Ngài, sẵn sàng loại bỏ cơn đau, nếu cần thiết, cho các Cơ đốc nhân phạm tội.

He 12:5-10 nói tới vấn đề nầy:

lại đã quên lời khuyên anh em như khuyên con, rằng: Hỡi con, chớ dể ngươi sự sửa phạt của Chúa, Và khi Chúa trách, chớ ngã lòng; Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, Hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt. Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con, vì có người nào là con mà cha không sửa phạt? Nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chớ không phải con thật. Cha về phần xác sửa phạt, mà chúng ta còn kính sợ thay, huống chi Cha về phần hồn, chúng ta há chẳng càng nên vâng phục lắm để được sự sống sao? Vả, cha về phần xác theo ý mình mà sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta mà sửa phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài.

Đó là tình yêu của Chúa dành cho hạng tội nhân được chuộc theo đuổi sự thánh khiết của họ.

ĐẤNG CHRIST PHÁN CÁCH CÓ QUYỀN VỚI HỘI THÁNH CỦA NGÀI

và tiếng như tiếng nước lớn (Kh 1:15b)

Khi Đấng Christ phán một lần nữa, thì tiếng phán chẳng phải giống như tiếng kèn ở câu 10. Đối với Giăng, tiếng (của Ngài bây giờ) như tiếng nước lớn (đối chiếu 14:2; 19:6), giống như tiếng gầm mạnh mẽ quen thuộc của sóng đào trên bờ đá của đảo Bát-mô trong giông bão. Tiếng của Đức Chúa Trời đời đời cũng được mô tả tương tự như trong Exe 43:2 — một sự tương tự khác khẳng định thần tánh của Đấng Christ. Đây là tiếng của quyền lực tối cao, tiếng của oai quyền tối thượng, chính tiếng nói ấy mà một ngày kia sẽ truyền cho kẻ chết phải bước ra khỏi mồ mả (Gi 5:28-29).

Khi Đấng Christ phán, Hội thánh phải lắng nghe. Nơi Núi Hoá Hình Đức Chúa Trời phán: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó!” (Mat 17:5) “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian” (He 1:1-2). Đấng Christ phán với Hội Thánh Ngài một cách trực tiếp qua Kinh Thánh đã được Đức Thánh Linh cảm thúc.

ĐẤNG CHRIST KIỂM SOÁT HỘI THÁNH CỦA NGÀI

“Tay hữu người cầm bảy ngôi sao;… Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội thánh” (Kh 1:16a, 20a)

Là đầu của Hội thánh Ngài (Eph 4:15; 5:23; Co 1:18), và là Đấng trị vì “nước của Con rất yêu dấu Ngài“ (Co 1:13), Đấng Christ thực thi quyền bính trong Hội thánh của Ngài. Trong sự mặc thị của Giăng, Đấng Christ đang cầm trong tay hữu người bảy ngôi sao (đối chiếu 2:1; 3:1), được xác định trong câu 20 là các thiên sứ của bảy Hội thánh, tiêu biểu cho các quyền bính đó. Việc Ngài giữ họ trong tay hữu Ngài không phác hoạ ra sự an ninh và sự bảo hộ, mà là sự kiểm soát. Angeloi (angels) [thiên sứ] là từ ngữ phổ thông của Tân Ước nói tới các thiên sứ, khiến cho các nhà giải kinh kết luận hợp lý rằng các thiên sứ được xét đến trong phân đoạn. Nhưng trong Tân Ước không có một chỗ nào dạy rằng các thiên sứ dính dáng tới việc lãnh đạo Hội thánh. Các thiên sứ không phạm tội và vì thế không cần phải ăn năn, giống như các sứ giả, cùng với các hội chúng mà họ tiêu biểu cho, được khuyến khích phải sống như thế (đối chiếu 2:4-5, 14, 20; 3:1-3, 15, 17, 19). Mục sư Robert L. Thomas lưu ý thêm chỗ khó khăn với nhận định này: “Giả sử Đấng Christ đang gửi một sứ điệp cho các hữu thể thuộc về trời qua Giăng, một đại biểu theo đời nầy, hầu cho sứ điệp ấy sẽ đến với các Hội thánh đời nầy thông qua các đại biểu thuộc hàng thiên sứ” (Revelation 1–7: An Exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1992], 117). Vì thế, angeloi được dịch hay hơn là “sứ giả”, như trong Lu 7:24; 9:52; và Gia 2:25. Có người cho rằng các sứ giả này là đại biểu đến từ mỗi Hội thánh trong Hội thánh, họ đã đến thăm Giăng trên đảo Bát-mô và mang sách Khải Huyền về theo với họ. Nhưng một khi Đấng Christ được nhắc tới là đang cầm giữ họ trong tay hữu của Ngài, có khả năng họ là cấp trưởng lão và mục sư lãnh đạo một trong bảy Hội thánh (mặc dù không phải là cấp nhà lãnh đạo duy nhất, vì Tân Ước dạy trưởng lão ở số nhiều).

Bảy người này nắm lấy chức năng của cấp lãnh đạo thuộc linh trong Hội thánh. Họ sẽ là thứ công cụ qua đó Đấng Christ, là đầu của Hội thánh, làm trung gian cho quyền cai trị của Ngài. Đó là lý do tại sao các tiêu chuẩn cho cấp lãnh đạo trong Tân ước rất là cao. Được phân công làm trung gian qua đó Đức Chúa Jêsus Christ kiểm soát Hội thánh của Ngài là được kêu gọi đến một trách nhiệm rất nghiêm ngặt (ITi 3:1-7; Tit 1:5-9 vì các đức tính dành cho hạng người thể ấy).

ĐẤNG CHRIST BẢO HỘ HỘI THÁNH CỦA NGÀI

miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi (Kh 1:16b)

Sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ cũng cung ứng sự bảo hộ cho Hội thánh của Ngài. Miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi . . . được sử dụng để bảo vệ Hội thánh chống lại những mối đe doạ từ bên ngoài (đối chiếu 19:15, 21). Nhưng chủ yếu ở đây nó nói đến sự phán xét nghịch cùng các kẻ thù từ bên trong Hội thánh (đối chiếu 2:12, 16; Cong 20:30). Những kẻ ấy tấn công Hội thánh của Đấng Christ, họ gieo ra những lời dối trá, tạo ra sự bất hòa, hoặc gây hại cho dân sự Ngài, về mặt cá nhân họ sẽ bị Chúa của Hội thánh xử lý. Lời của Ngài có sức mạnh (đối chiếu He 4:12-13), và sẽ được sử dụng để chống lại các kẻ thù của dân sự Ngài (đối chiếu ITe 2:8), hầu cho mọi quyền lực của sự tối tăm, bao gồm chính cái chết (“các cửa của âm phủ”, Mat 16:18), sẽ không thể ngăn cản Đức Chúa Jêsus Christ xây dựng Hội thánh của Ngài.

ĐẤNG CHRIST PHẢN ÁNH SỰ VINH HIỂN NGÀI QUA HỘI THÁNH CỦA NGÀI

và mặt như mặt trời khi soi sáng hết sức (Kh 1:16c)

Sự mặc thị của Giăng về Chúa vinh hiển của Hội thánh lên đến cao điểm trong phần mô tả về bằng chứng vinh hiển rực rỡ trên gương mặt của Ngài, việc nầy Giăng chỉ có thể mô tả như mặt trời khi soi sáng hết sức. Giăng mượn cụm từ nầy từ Cac 5:31, ở nó mô tả những người yêu mến Chúa (đối chiếu Mat 13:43). Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jêsus Christ toả sáng trong và qua Hội thánh của Ngài, phản ánh sự vinh hiển của Ngài cho thế gian (đối chiếu IICo 4:6). Và kết quả, ấy là Ngài được tôn vinh hiển (Eph 3:21).

CÁC TÁC ĐỘNG CỦA SỰ MẶC THỊ

“Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến” (Kh 1:17-19)

Sự mặc thị gây choáng Giăng đã chứng kiến đã khiến cho ông phải thay đổi. Lúc đầu, phản ứng của ông là nỗi sợ hãi tàn phá, sự nầy Chúa đã cất đi bằng lời bảo đảm và lúc đó bằng cách ban cho Giăng một ý thức về bổn phận.

SỢ HÃI

“Vừa thấy người, tôi ngã xuống chân người như chết” (Kh 1:17a)

Với tư thế tương tự trong kinh nghiệm của ông với sự vinh hiển của Chúa Jêsus trên Núi Hoá Hình hơn sáu mươi năm trước đó (đối chiếu Mat 17:6), Giăng lại bị kinh hãi phủ lút trước sự vinh hiển của Đấng Christ tỏ ra rồi ngã xuống chân người như chết. Sự sợ hãi ấy là chuẩn mực cho một ít người nào kinh nghiệm những sự hiện thấy bất thường về thiên đàng như vậy. Khi một thiên sứ hiện ra cùng ông, Đaniên đã viết rằng: “chẳng còn sức nữa. Mặt ta biến sắc cho đến tái đi, và ta không còn sức nữa. Song ta còn nghe tiếng của những lời người, và vừa nghe xong, ta ngủ mê đi, nằm sấp mặt xuống đất“ (Da 10:8-9, đối chiếu 8:17). Bị áp đảo bởi sự hiện thấy của Đức Chúa Trời mà ông đã nom thấy trong đền thờ, Êsai đã kêu lên: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!“ (Es 6:5). Ê-xê-chi-ên nhìn thấy vài mặc thị ​​về sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va và phản ứng của ông luôn luôn giống nhau: ông sấp mặt xuống đất (Exe 1:28; 3:23; 9:8; 43:3; 44:4). Sau khi Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với họ và công bố sự ra đời của Sam-sôn: “(Ma-nô-a) bèn nói cùng vợ rằng: Quả thật chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!“ (Cac 13:22). Gióp đã có một phản ứng tương tự sau khi Đức Chúa Trời phán cùng ông: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi“ (Giop 42:5-6). Trên đường lên thành Đa-mách để bắt bớ Cơ đốc nhân, Sau-lơ xứ Tạt-sơ (hay còn gọi là Phao-lô) “thấy có ánh sáng từ trên trời giáng xuống, chói lói hơn mặt trời, sáng lòa chung quanh tôi và kẻ cùng đi.đã nhìn thấy trên đường ánh sáng từ trời, sáng hơn mặt trời, chiếu sáng quanh tôi và những người đang hành trình với tôi” (Cong 26:13). Trong phản ứng, Sau-lơ và những kẻ cùng đi với ông đã ngã sóng xoài trên đường (câu 14). Sau khi chứng kiến ​​những tai hoạ khủng khiếp xảy ra sau khi mở ra con dấu thứ sáu, những kẻ vô tín trong Kỳ Đại Nạn sẽ kêu la trong kinh khiếp: “với núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?“ (Kh huyền 6:16-17).

Trái ngược với những tuyên bố ngớ ngẩn, láo khoét, giả dối và khoe khoang của nhiều người trong chính thời đại của chúng ta, họ xưng mình đã nhìn thấy Đức Chúa Trời, phản ứng của nhiều người thực sự nhìn thấy Đức Chúa Trời trong Kinh thánh chắc chắn là một phản ứng đầy sợ hãi. Những kẻ đó mặt đối mặt với sự vinh hiển chói loà, thánh khiết của Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy làm kinh sợ, nhận ra tình trạng bất xứng tội lỗi của mình khi ở trong sự hiện diện thánh khiết của Ngài. Khi tóm tắt phản ứng thích hợp trước sự thánh khiết và oai nghi của Đức Chúa Trời, tác giả của thơ Hê-bơ-rơ khuyên các tín hữu nên “hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài; vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:28-29).

SỰ BẢO ĐẢM

nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Đừng sợ chi, ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ (Kh 1:17b–18)

Giống như Ngài đã làm cách đây rất lâu trong Sự Hoá Hình (Mat 17:7), Chúa Jêsus đặt tay hữu (của Ngài) lên Giăng và yên ủi ông. Đây là cái chạm yên ủi và tái bảo đảm. Có sự yên ủi cho các Cơ đốc nhân bị áp đảo bởi sự vinh hiển và oai nghi của Đấng Christ trong việc bảo đảm tình yêu ân điển của Ngài và sự tha thứ thương xót. Lời lẽ yên ủi của Chúa Jêsus: “Đừng sợ chi” (sát nghĩa là: “Thôi, đừng sợ nữa”) tỏ ra sự bảo đảm đầy lòng thương xót của Ngài cho vị sứ đồ đang run sợ. Những lời yên ủi tương tự là đáp ứng của Đức Chúa Trời trong suốt Kinh Thánh cho những kẻ bị phủ lút bởi sự hiện diện đầy oai nghi của Ngài (thí dụ, Sa 15:1; 26:24; Cac 6:23; Mat 14:27; 17:7; 28:10).

Sự yên ủi Chúa Jêsus ban cho dựa trên chỗ Ngài là ai và quyền uy mà Ngài đang có. Trước hết, Ngài tự xác định Ngài là Đấng Ta Là (eg¯o eimi) — danh giao ước của Đức Chúa Trời (đối chiếu Xu 3:14). Chính danh ấy Ngài đã yên ủi các môn đồ đang kinh khiếp, họ đã nhìn thấy Ngài đang đi bộ trên Biển Ga-li-lê (Mat 14:27). Chúa Jêsus đã lấy danh ấy cho chính mình Ngài trong Gi 8:58a — một lời xưng nhận trực tiếp về thần tánh trước các đối thủ của Ngài (câu 59).

Kế đó Chúa Jêsus tự xác nhận Ngài là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng (đối chiếu 2:8; 22:13), một tước hiệu được Đức Chúa Trời sử dụng trong Cựu Ước (Es 44:6; 48:12, đối chiếu 41:4). Khi hết thảy các tà thần đến rồi đi, chỉ có Ngài còn lại. Ngài đã tồn tại trước chúng và sẽ tiếp tục tồn tại cho đến đời đời, rất lâu sau khi chúng bị quên lãng. Phần ứng dụng tước hiệu ấy của Chúa Jêsus cho chính mình Ngài là một bằng chứng hữu hiệu khác nữa về thần tánh của Ngài.

Tước hiệu thứ ba nói tới thần tánh Chúa Jêsus đã xưng nhận là Đấng Hằng Sống (đối chiếu Gi 1:4; 14:6). Đấy cũng là tước hiệu được sử dụng suốt cả Kinh Thánh để mô tả Đức Chúa Trời (thí dụ: Gi 3:10; ISa 17:26; Thi 84:2, Os 1:10; Mat 16:16; 26:63; Cong 14:15; Ro 9:26; IICo 3:3; 6:16; ITe 1:9; ITi 3:15; 4:10; He 3:12; 9:14; 10:31; Kh 7:2). Đức Chúa Trời là Đấng đời đời tự hữu, hằng có. Trong Gi 5:26 Chúa Jêsus phán cùng người Do-thái chống đối Ngài: “Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy“, vì thế xưng nhận sự bình đẳng trọn vẹn với Đức Chúa Cha.

Đấng mà sự hiện diện của Ngài đã đưa sợ hãi vào trong tấm lòng của Giăng, Ta Là, đầu tiên và cuối cùng, Đấng Sống, Đấng mà sự chết của Ngài buông tha ông ra khỏi tội lỗi của ông (Kh 1:5) chính là Đấng đã yên ủi và tái bảo đảm với Giăng. Trong lời lẽ của sứ đồ Phao-lô: “Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?“ (Ro 8:31).

Tuyên bố dường như nghịch lý của Đấng Christ ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cung ứng thêm cơ sở cho sự bảo đảm. Bản Kinh Thánh Hy-lạp sát nghĩa đọc là: “ta phải chết”. Đấng hằng sống, Đức Chúa Trời đời đời hằng hữu, tự hữu, Ngài không bao giờ chết, đã trở thành con người và đã chịu chết. Phi-e-rơ giải thích trong I Phi-e-rơ 3:18, Đấng Christ đã “chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống“. Trong nhân tánh của Ngài, Ngài chịu chết mà không ngừng sống như Đức Chúa Trời.

Kìa, đưa ra một lời tuyên bố đáng kinh ngạc và lấy làm lạ: Nay ta sống đời đời. Đấng Christ sống đời đời trong sự hiệp một của nhân tánh và thần tánh đã được làm cho vinh hiển: “theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết” (He 7:16). Phaolô viết: “bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài” (Ro 6:9). Lẽ thật này cung ứng sự yên ủi và bảo đảm, bởi vì Chúa Jêsus “có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (He 7:25). Mặc dù tình trạng tội lỗi của ông trong sự hiện diện Chúa vinh hiển của thiên đàng, Giăng chẳng có gì phải sợ hãi vì chính Chúa đã trả giá án phạt sự chết cho tội lỗi của Giăng (và hết thảy những ai tin nơi Ngài) và đã phục sinh để trở thành trạng sư đời đời của ông.

Như Đấng Ta Là đời đời, là đầu tiên và cuối cùng, Đấng Sống, Chúa Jêsus cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. Các thuật ngữ này về cơ bản là đồng nhất, với sự chết là điều kiện và địa điểm âm phủ. Âm phủ là từ Tân Ước tương đương với thuật ngữ Cựu Ước Sheol và đề cập đến nơi ở của người chết. Các chìa khoá biểu thị quyền tiếp cận và quyền bính. Đức Chúa Jêsus Christ có quyền quyết định ai chết và ai sống; Ngài cầm quyền trên sự sống và sự chết. Và Giăng, giống như hết thảy những người được cứu chuộc, không có gì phải lo sợ, một khi Đấng Christ đã giải cứu ông khỏi sự chết rồi và âm phủ bởi chính sự chết của Ngài.

Với sự nhìn biết Đấng Christ có quyền trên sự chết cung ứng sự bảo đảm, một khi những người tin Chúa không còn phải lo sợ nó. Chúa Jêsus tuyên bố: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi … vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống” (Gi 11:25; 14:19). Phao-lô lưu ý, chết là “lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn” (IICo 5:8, đối chiếu Phi 1:23). Chúa Jêsus đã chinh phục Satan và tước chìa khoá sự chết ra khỏi hắn: “bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời” (He 2:14-15). Hiểu biết Đấng Christ “yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” (Kh 1:5) cung ứng sự bảo đảm, nâng sự kính sợ Chúa lên ngang tầm với sự vinh hiển và oai nghi của Ngài.

BỔN PHẬN

Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến (Kh 1:19)

Sự mặc thị đáng kinh ngạc Giăng đã nhìn thấy đã cảm thúc trong ông một mối căng thẳng lành mạnh giữa sợ hãi và sự bảo đảm. Nhưng cùng với việc ấy, được thêm vào một sự nhắc nhớ về bổn phận của ông. Mạng lịnh ban đầu của Đấng Christ phải chép lấy giờ đây được cơi rộng ra, như Giăng được truyền cho phải ghi lại ba đặc điểm. Thứ nhất, những sự ngươi đã thấy, sự mặc thị Giăng mới nhìn thấy và ghi lại trong các câu 10-16. Kế tiếp, những việc nay hiện có, một tham khảo đến các thư tín viết cho bảy Hội thánh ở các chương 2 và 3, ở đây mô tả tình trạng hiện tại của Hội thánh. Sau cùng, Giăng viết về những việc sau sẽ đến, những khải thị tiên tri về cuộc tương lai được mở ra trong các chương 4-22. Mạng lịnh nầy có ba phần cung ứng một tóm lược cho sách Khải huyền, bao gồm (từ nhận định của Giăng) về quá khứ, hiện tại và tương lai.

Giống như Giăng, tất cả Cơ đốc nhân đều có bổn phận chuyển giao những lẽ thật mà họ tiếp thu được từ những sự hiện thấy được chép lại trong sách này. Những mặc thị ấy lúc đầu có thể gây sửng sốt, xáo trộn, hoặc hấp dẫn. Nhưng chúng, giống như cả Kinh Thánh, đều “là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (IITi 3:16-17). Là tín đồ nghiên cứu sự vinh hiển của Đấng Christ được phản ánh trong sách Khải huyền: “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh” (IICo 3:18).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme