Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

04 – Thành Ê-phê-sô: Khi Tình Yêu Nguội Dần (Kh 2:1-7)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng: Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi; ta biết ngươi không thể dung được những kẻ ác, lại biết ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối. Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào. Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó. Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời’” (Kh 2:1-7)

Francis Schaeffer đã từng nhận xét rằng: “ý nghĩa của từ Christian [Cơ đốc nhân] bị cắt giảm chẳng còn gì hết . . . Bởi vì chữ Christian là một biểu tượng được tạo ra có ít ý nghĩa lắm, nó xuất hiện để nói tới mọi sự và chẳng nói tới cái gì cả” (The Mark of the Christian [Downer Grove, Ill: InterVarsity, 1970], 11). Từ ngữ Christian trong cách sử dụng đương thời có thể nói tới bất cứ ai không phải là người Do-thái, bất cứ người nào sống trong một quốc gia “Cơ đốc” (thí dụ, như ngược lại, nói tới một người theo đạo Phật hay Hồi giáo), hoặc bất cứ ai xưng mình là trung thành với Đức Chúa Jêsus Christ. Thuật ngữ evangelical [Tin lành] đang chạy theo cùng một xu hướng dầu không chính xác.

Nhưng mặc dù thế gian có thể bị nhầm lẫn về Cơ đốc nhân có nghĩa là gì đi nữa, Kinh Thánh nói rất rõ ràng. Cơ đốc nhân là những người được cứu hiệp nhất với Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jêsus Christ, những người nào mà “vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật” (IITe 2:13; đối chiếu Lu 18:7; Ro 8:33; Eph 1:4; Co 3:12; ITe 1:4, IITi 2:10; Tit 1:1: IPhi 1:1-2; 2:10). Như một kết quả, họ đã bước theo đức tin cứu rỗi nơi Đấng Cứu Thế duy nhất (Cong 4:12), Đức Chúa Jêsus Christ (Gi 3:15-18, 36; 5:24; 6:47; Ro 1:16; 4:5; 10:10; IGi 5:1), và đã ăn năn tội của họ (Ro 2:4; IIPhi 3:9). Đức Chúa Trời đã tha tội cho họ (Cong 10:43: Eph 1:7; IGi 1:7, 9; Kh 1:5), khiến họ trở nên con cái Ngài (Ro 8:16 -17, Ga 4: 7, Eph 1:5; 5:1, 8; Phi 2:15, IGi 3:2), và khiến cho họ trở nên tạo vật mới (IICo 5:17) được Đức Thánh Linh ngự vào lòng (Gi14:17; Ro 8:4, 9, 11, 14; ICo 3:16; 6:19; Ga 4: 6; IITi 1:14; IGi 3:24).

Có nhiều việc đánh dấu Cơ đốc nhân, bao gồm sự kính sợ Đức Chúa Trời (IICo 7:1; Phi 2:12; IPhi 1:17), một sự khao khát muốn bắt chước Ngài (Eph 5:1; IGi 2:6), sự thánh khiết (Mat 5:48; IICo 7:1; Tit 2:11-12; He 12:14; IPhi 1:15-16; 2:24; IIPhi 3:11), và sự vâng lời (Gi 10:27; 14:21; 15:14; Ro 1:5; 16:26; He 5:9; IPhi 1:2; IGi 3:24). Nhưng đặc điểm cao nhất của một Cơ đốc nhân là tình yêu dành cho Chúa và Đức Chúa Trời của người. Khi bị thách thức phải nói ra điều răn lớn nhất của luật pháp, Chúa Jêsus đáp rằng: “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết” (Mat 22:37-38). Ngài thách các môn đồ Ngài phải biến sự kính mến Ngài thành ưu tiên cao nhất trong đời sống của họ: “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta; ai không vác cây thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta” (Mat 10:37-38). Trong Gi 14:21, 23 Ngài nói thêm: “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta … Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người”. Chúa Jêsus phán rằng: Các con cái thật của Đức Chúa Trời sẽ kính mến Ngài (Gi 8:42; IPhi 1:8) và được Ngài biết đến (ICo 8:3). Để phân biệt tình trạng thuộc linh của Phi-e-rơ, Chúa Jêsus đã hỏi ông ba lần: “Ngươi yêu ta chăng?” (Gi 21:15-17). Phao-lô xác định Cơ đốc nhân là người được điều khiển bởi “tình yêu của Đấng Christ” (IICo 5:14). Người nào yêu mến Đức Chúa Jêsus Christ sẽ được phước (Eph 6:24); người nào không yêu mến Chúa sẽ bị rủa sã (ICo 16:22). Trong khi tình yêu dành cho Đức Chúa Jêsus Christ luôn luôn hiện hữu nơi các Cơ đốc nhân chơn thật, nó có thể dao động trong cường độ của nó. Cơ đốc nhân sẽ không bao giờ yêu mến Đức Chúa Jêsus Christ bằng cả tấm lòng, linh hồn, ý chí và sức mạnh của họ, và thất bại không làm được như thế đều là tội lỗi. Không có minh hoạ nào trong Kinh Thánh nói tới sự nghiêm chỉnh của tình yêu dành cho Đấng Christ hay hơn thư tín nầy gửi cho Hội thánh tại thành Ê-phê-sô.

Bảy Hội thánh được đề cập đến trong các chương 2 và 3 là các Hội thánh thực sự tồn tại khi Giăng viết. Nhưng sao chép không chính xác, chúng cũng tiêu biểu cho các loại Hội thánh thường hiện hữu trong suốt kỷ nguyên Hội thánh. Năm trong số bảy nhà thờ (Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi-a là những ngoại lệ) đã bị quở trách vì đã dung chịu tội lỗi ở giữa họ, chứ không phải xảy ra bất thường trong các Hội thánh. Nan đề trong năm Hội thánh đó nằm ở mức độ nghiêm trọng từ tình yêu đang suy giảm tại thành Ê-phê-sô đến toàn bộ sự bội đạo tại Lao-đi-xê. Hơn nữa, bất kỳ Hội thánh nào ở bất cứ kỷ nguyên nào có thể có một sự pha trộn của các thứ tội lỗi đang hành hại cho năm Hội thánh này.

Mặc dù Đấng Christ đã nhắc tới Hội thánh Ê-phê-sô trước hết bởi vì đây là Hội thánh đầu tiên trên cả tuyến dây, đây cũng là Hội thánh nổi bật nhất trong bảy Hội thánh. Đây là Hội thánh mẹ, từ chức vụ của Hội thánh nầy mà sáu Hội thánh kia đã được thành lập (đối chiếu Cong 19:10) và đã đặt tên nó cho bức thư được cảm thúc Ê-phê-sô mà sứ đồ Phao-lô đã viết ra từ bốn mươi năm trước. Nội dung của bức thư thứ nhất này tạo khuôn mẫu cho sáu bức thư kia. Nó chứa bảy đặc điểm: thư tín, Hội thánh, thành phố, khen thưởng, quan tâm, truyền lịnh và tư vấn.

THƯ TÍN

Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng: (Kh 2:1c)

Mặc dù tác giả không ghi tên, phần mô tả cho thấy rõ ràng Ngài là ai. Ngài là Đấng rõ ràng được mô tả là Chúa vinh hiển của Hội thánh trong 1:9-20, Đức Chúa Jêsus Christ đã được tôn vinh hiển. Cụm từ Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng được rút ra từ phần mô tả Đấng Christ trong sự hiện thấy của Giăng (đối chiếu1:13, 16). Thực vậy, Đấng Christ xác định chính mình Ngài cho từng Hội thánh trong năm Hội thánh đầu tiên bằng cách sử dụng cụm từ từ sự hiện thấy đó (đối chiếu 2:8 với 1:18, 2:12 với 1:16; 2:18 với 1:14-15; 3:1 với 1:18). Điều đó củng cố sự thật cho thấy rằng Ngài là tác giả của các thư tín; chúng là lời phán trực tiếp của Ngài, thông qua sứ đồ Giăng, đến các hội chúng địa phương và các Hội thánh giống như họ trải qua nhiều năm tháng.

Như đã được lưu ý trong chương 3 của sách nầy, bảy ngôi sao tiêu biểu cho các cấp lãnh đạo từ bảy Hội thánh. Đấng Christ đã cầm chúng trong tay hữu Ngài cho thấy rằng họ là các mục sư của Ngài, dưới quyền của Ngài khi Ngài là trung bảo quyền tễ trị của Ngài trong Hội thánh qua các cấp lãnh đạo con người. Đấng Christ mô tả chính mình Ngài là đi chính giữa bảy chân đèn vàng (7 Hội thánh; 1:20) — kiểm tra, xem xét, định mức, và đánh giá họ. Là Đấng tễ trị của Hội thánh, Ngài có thẩm quyền nói tới Hội thánh.

HỘI THÁNH

Hội thánh Ê-phê-sô (Kh 2:1a)

Có lẽ không có Hội thánh nào trong lịch sử có một di sản phong phú như hội chúng tại thành Ê-phê-sô. Tin lành được giới thiệu với thành phố này bởi những người bạn thân của Phaolô và những cộng tác viên trong chức vụ, Bê-rít-sin và A-qui-la (Cong 18:18-19). A-bô-lô là nhà hùng biện hùng hồn và đầy năng quyền đã sớm hiệp cùng với họ (Cong 18:24-26). Bê-rít-sin, A-qui-la, và A-bô-lô đã đặt nền móng cho chức vụ của Phao-lô tại thành Ê-phê-sô.

Sứ đồ Phao lô dừng lại ngắn ngủi tại thành Ê-phê-sô gần cuối chuyến hành trình truyền giáo thứ hai của ông (18:19-21), song chức vụ thực sự của ông tại thành phố trọng điểm đó đã diễn ra trong chuyến hành trình truyền giáo thứ ba của ông. Sau khi đến thành Ê-phê-sô, trước tiên ông gặp một nhóm các thánh đồ Cựu Ước, là các môn đồ của Giăng Báp-tít (19:1-7). Sau khi rao giảng Tin lành cho họ, ông làm phép báp-têm cho họ trong danh của Đức Chúa Jêsus Christ (19:5). Việc ấy khởi sự công tác gây dựng Hội thánh của Phaolô tại thành Ê-phê-sô — một công tác kéo dài trong ba năm (20:31). Sau đó, trên đường lên thành Jerusalem gần cuối chuyến hành trình truyền giáo thứ ba, ông dạy cho các trưởng lão của hội thánh Êphêsô về các nguyên tắc thiết yếu của chức vụ lãnh đạo Hội thánh (20:17-38), là thực chất mà về sau ông mở rộng trong các thư tín mục vụ của mình. Timôthê, là người mà Phaolô bảo hộ cho, đã phục vụ trong vai trò mục sư của Hội thánh tại thành Ê-phê-sô (ITi 1:3). Ô-nê-si-phô-rơ (IITi 1:16, 18) và Ti-chi-cơ (4:12), thêm hai người nữa là bạn đồng công của Phao-lô, cũng phục vụ tại thành Ê-phê-sô. Sau cùng, theo lời chứng của Hội thánh đầu tiên, sứ đồ Giăng đã trải qua những thập niên cuối cùng của đời ông tại thành Ê-phê-sô, từ đó ông viết ba thư tín mà ông tự nhận mình là “trưởng lão” (đối chiếu IIGi 1:1; IIIGi 1:1). Chắc chắn ông là cấp lãnh đạo dẫn dắt Hội thánh Ê-phê-sô khi ông bị bắt và bị đày đến đảo Bát-mô.

Các biến cố đầy kịch tính và nổi bật đi kèm với sự ra đời của Hội thánh Ê-phê-sô. Chức vụ của Phao-lô đã ảnh hưởng sâu sắc không những ở thành Ê-phê-sô, mà còn cả toàn bộ tỉnh Á-châu nữa (Cong 19:10). Như đã lưu ý trước đây, chắc chắn là trong suốt thời gian này, phần còn lại bảy Hội thánh đã được thành lập. Đức Chúa Trời siêu nhiên đã khẳng định Phao lô là phát ngôn nhân của Ngài qua một loạt các phép lạ ngoạn mục (19:11-12). Với nỗ lực bắt chước sự thành công của Phao-lô, một nhóm người Do-thái đã bị đánh đập và làm nhục bởi một kẻ bị quỉ ám (19:13-16). Sự thất bại của họ làm cho cả thành phải sửng sốt và kinh hoàng, khiến cho “danh Chúa được tôn trọng” (Công Vụ các Sứ Đồ 19:17). Bị sốc khi nhận ra sự hư không của việc tin theo cách thực hành tà giáo: “Phần nhiều kẻ đã tin, đến xưng tội và tỏ ra việc mình đã làm. Có lắm người trước theo nghề phù phép đem sách vở mình đốt trước mặt thiên hạ; người ta tính giá sách đó, cộng là năm muôn đồng bạc“ (các câu 18-19). Số tiền đáng kinh ngạc đó, tương đương với 50.000 tiền lương công nhựt của người lao động, cho thấy mức độ dính dáng của thành Ê-phê-sô trong chỗ ma thuật.

Sự biến đổi đáng kinh ngạc của số lượng lớn người thành Ê-phê-sô đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng về kinh tế đối với các thợ thủ công theo tà giáo của thành phố. Thành Ê-phê-sô là trung tâm tôn thờ nữ thần Artemis (người La-mã xem là thần Diana), đền thờ của thần nầy là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Với sự xúi giục của một thợ bạc tên là Đê-mê-triu, những người thợ thủ công, họ nhìn thấy công việc làm ăn sinh lợi của mình đang bị đe doạ, họ đã phản ứng rất dữ dội. Cuộc bạo loạn liên tiếp ném thành Ê-phê-sô vào tình trạng hỗn loạn (19:23-41).

Vào thời điểm của thư tín này, bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày ra đời đầy hỗn loạn của Hội thánh Ê-phê-sô. Sứ đồ Phao-lô đã qua đời, cũng như nhiều người thế hệ những người tin Chúa đầu tiên đã trở lại đạo dưới chức vụ của ông. Một tình huống mới cần có một bức thư được cảm thúc khác cho người thành Ê-phê-sô, bức thư nầy ra từ chính mình Chúa, do sứ đồ Giăng chép lại.

THÀNH PHỐ

Thành Ê-phê-sô (Kh 2:1b)

Mặc dù không phải là thủ phủ (Bẹt-găm mới là thủ phủ chính thức của tỉnh), song thành Ê-phê-sô là thành phố quan trọng nhất trong xứ Tiểu Á (một khi Tổng đốc La-mã ngụ ở đó, có thể cho rằng thành Ê-phê-sô là thủ phủ). Dân cư trong thời Tân Ước đã được ước tính khoảng giữa 250.000 đến 500.000 người. Nhà hát của thành phố, còn thấy hôm nay, những kẻ nổi loạn điên cuồng đã lôi mấy người bạn của Phao-lô Gai-út và A-ri-tạt vào trong đó (Cong 19:29), có thể chứa khoảng 25.000 người. Thành Ê-phê-sô là một thành phố tự do (nghĩa là, tự quản, trong các giới hạn) và không có quân đội La-mã đóng ở đó. Thành phố tổ chức các sự kiện thể thao, cạnh tranh với các trận đấu Thế Vận.

Thành Ê-phê-sô là cảng chính trong tỉnh Á-châu. (Theo luật nhập cư, các tổng đốc La-mã phải bước vào Á-châu thông qua thành Ê-phê-sô). Thành phố nằm bên sông Cayster, khoảng ba dặm từ thượng nguồn nó chảy vào đại dương. Đi xuống bến cảng dọc theo một con đường rộng tuyệt đẹp, (đường Arcadian) dẫn đến trung tâm thành phố. Trong thời của Giăng phù sa sông Cayster dần lấp đầy hải cảng, buộc thành phố phải đấu tranh để giữ cho con kênh được mở luôn. Trận chiến đã bị thua vào lúc sau cùng, và ngày nay các tàn tích của thành Ê-phê-sô đang nằm khoảng sáu dặm tính từ biển vào nội địa.

Thành Ê-phê-sô về mặt chiến lược nằm ở ngã tư của bốn con đường La-mã quan trọng nhất trong xứ Tiểu Á. Cùng với bến cảng của nó, sự việc ấy đã thúc đẩy nhà địa lý Strabo (một người đương thời với Đấng Christ) mô tả thành Ê-phê-sô bình là khu thương mại của Á-châu.

Nhưng thành Ê-phê-sô nổi tiếng nhứt là trung tâm thờ lạy nữ thần Artemis (Diana) — một niềm tự hào vĩ đại (Cong 19:27, 35). Đền thờ Artemis là điểm mốc nổi bật nhất của thành Ê-phê-sô. Vì chùa chiền bên trong nó được cho là bất khả xâm phạm, đền thờ đóng vai trò là một trong những ngân hàng quan trọng nhất thuộc thế giới Địa Trung Hải. Chùa chiền và các vùng lân cận nó cũng cung cấp nơi trú ẩn cho bọn tội phạm. Hơn nữa, việc mua bán các thứ đồ dùng được sử dụng trong sự thờ lạy Artemis cung cấp một nguồn thu nhập quan trọng của thành phố (đối chiếu Cong 19:24). Mỗi kỳ lễ vào mùa xuân kéo dài cả tháng trời đã được tổ chức để tôn vinh nữ thần, hoàn tất với các sự kiện thể thao, kịch nghệ và âm nhạc. Phao-lô đã dự đoán sự kiện hàng năm này như là một cơ hội truyền giáo duy nhứt và đã chờ đợi sự kiện ấy khi ông viết cho người thành Cô-rinh-tô biết rằng ông dự định ở lại thành Ê-phê-sô (ICo 16:8).

Việc thờ lạy Artemis là vô nghĩa. Hình tượng của nàng là một con quái vật to lớn có nhiều vú, ai nấy đều tin rằng thần đã sa xuống từ trời (Cong 19:35). Đền thờ có rất nhiều thầy tế lễ, thái giám, và nô lệ tham dự. Hàng ngàn nữ tu, ít nhiều gì thì họ là hạng gái mại dâm hơn là nghi thức, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thờ lạy Artemis. Nền đền thờ là một sự hỗn hợp giới nữ tu, gái mại dâm, nhân viên ngân hàng, bọn tội phạm, nhạc sĩ, các vũ công, và những người đến thờ lạy rất cuồng loạn. Triết gia Heraclitus được gọi là triết gia khóc lóc, ông tuyên bố, không một ai có thể sống ở thành Ê-phê-sô mà không khóc lóc về tình trạng phi đạo đức của nó (xem William Barclay, The Revelation of John [Philadelphia: Westminster, 1976], 1:60).

Nằm núp giữa sự thờ lạy hình tượng tà giáo như vậy đánh dấu thành Ê-phê-sô là một nhóm Cơ đốc nhân trung tín. Đối với họ, chính Đấng Christ được nhắc tới ở thư tín thứ nhứt nầy trong bảy thư tín.

KHEN NGỢI

“Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi; ta biết ngươi không thể dung được những kẻ ác, lại biết ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối. Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào … Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa” (Kh 2:2-3, 6).

Oida (biết) chỉ ra tri thức của Chúa trong từng thư tín (đối chiếu 2:9, 13, 19; 3:1, 8, 15). Trái ngược với gin¯osk¯o, chữ nầy đề cập đến việc tiếp thu dần dà về tri thức, oida đề cập đến kiến thức đầy đủ và trọn vẹn. Chúa của Hội thánh biết mọi sự cần phải biết về Hội thánh — cả tốt lẫn xấu. Tri thức trọn vẹn như thế là bằng chứng trong từng thư tín khi Chúa xét đoán và ngợi khen các Hội thánh.

Trước khi quở trách họ vì các thất bại, Đức Chúa Jêsus Christ đã khen ngợi người thành Ê-phê-sô vì những gì họ làm là đúng đắn. Ngài khởi sự bằng cách công nhận mọi công việc của họ — một thuật ngữ tổng quát tóm tắt tất cả những gì theo sau. Cụ thể, Đấng Christ trước tiên khen ngợi các tín hữu người thành Ê-phê-sô vì sự khó nhọc của họ. Kopos (toil) (khó nhọc) biểu thị lao động đến mức đổ mồ hôi và kiệt sức. Nó mô tả một nỗ lực hết sức, đòi hỏi mọi sự mà một người phải có — về thể chất, về lý trí và về tình cảm. Người thành Ê-phê-sô là hạng người lao động cần cù vì lý tưởng của Đấng Christ. Thuộc về họ chẳng phải là trí khôn vượt bậc đâu; họ không muốn đơn thuần chỉ là giải trí đâu. Họ cũng không hài lòng khi ăn hoa quả lao động của người khác, nhưng họ sẵn lòng cày xới, trồng tỉa và thu hoạch vụ mùa của mình. Ở giữa bóng tăm tối của tà giáo bao quanh họ, họ đã tích cực truyền giảng cho người bị hư mất, gây dựng các thánh đồ và chăm sóc những người đang có cần.

Sự nhịn nhục dịch từ chữ hupomon¯e, biểu hiện sự kiên nhẫn trong những tình huống phải cố gắng. Ngược lại, từ đồng nghĩa của nó, makrothumia, nói chung nhấn mạnh sự nhịn nhục với người ta (Richard C. Trench, Synonyms of the New Testament [reprint, Grand Rapids: Eerdmans, 1983], 195…). Hupomon¯e không biểu thị một sự cam chịu không lay chuyển, mà là một sự chấp nhận trong can đảm của chức vụ nhọc nhằn, đau khổ và mất mát. Lời khen ngợi này chỉ ra rằng, mặc dù mọi hoàn cảnh khó khăn, người tin Chúa ở thành Ê-phê-sô vẫn giữ lòng trung tín với Chúa của họ.

Một khía cạnh đáng khen khác nữa của các tín đồ thành Ê-phê-sô là họ từ chối không dung được những kẻ ác. Họ duy trì một tiêu chuẩn cao, thánh khiết trong cách ứng xử và nhạy cảm đối với tội lỗi, chắc chắn vâng theo mạng lịnh của Chúa để thực thi kỷ luật của Hội thánh (Mat 18:15 …). Bốn mươi năm trước đó, Phaolô đã truyền cho họ đừng “cho ma quỷ nhân dịp” (Eph 4:27), và họ vẫn còn chần chừ chưa muốn làm theo như thế.

Hội thánh Ê-phê-sô cũng không thiếu sót trong sự phân biện về mặt thuộc linh, một khi nó đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối. Người thành Ê-phê-sô không bao giờ quên lời khuyên mà Phao-lô đã nói với cấp lãnh đạo của họ ở nhiều năm trước đó:

“Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu; lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ. Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn” (Cong 20:28-31).

Các giáo sư giả đặt ra một sự nguy hiểm liên tục cho Hội thánh. Chúa Jêsus đã cảnh báo về “tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé” (Mat 7:15). Trong thư thứ hai của mình, Giăng cảnh cáo về “nhiều kẻ dỗ dành” (IIGi 1:7) và cảnh báo các tín hữu: “Nếu ai đến cùng các ngươi mà không đem đạo ấy theo, thì chớ rước họ vào nhà, và đừng chào hỏi họ” (IIGi 1:10). Phao-lô đương diện với các “sứ đồ” giả ở thành Cô-rinh-tô và lột mặt nạ của họ với phần mô tả như sau: “Vì mấy người như vậy là sứ đồ giả, là kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ. Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ gì; nhưng sự cuối cùng họ sẽ y theo việc làm” (IICo 11:13-15). Didache, một cẩm nang Cơ đốc đầu tiên về trật tự của Hội thánh, cũng cảnh báo về mối nguy hiểm các giáo sư giả:

Tiếp đón từng vị sứ đồ khi đến nơi, như thể người là Chúa. Nhưng người không được ở lại quá một ngày. Tuy nhiên trong trường hợp cần thiết, cũng đừng quá ngày hôm sau nữa. Nếu người ở lại ba ngày, người là một tiên tri giả. Khi rời đi, vị sứ đồ không được nhận lấy bất cứ thứ gì, trừ ra thức ăn đủ để mang theo cho tới khi đến chỗ ngụ tiếp theo. Nếu người hỏi xin tiền bạc, người ấy là một tiên tri giả (11.4-6, cited in Cyril C. Richardson, ed, Early Christian Fathers [New York: Macmillan, 1970], 176).

Giáo phụ Hội thánh đầu tiên là Ignatius, không lâu sau khi Giăng viết sách Khải huyền, ông cũng đã viết khen ngợi người thành Ê-phê-sô vì sự cảnh giác của họ: “Anh em chú ý đến những gì ông ấy nói rất thực về Đức Chúa Jêsus Christ … Tôi nghe nói rằng một số người lạ mặt đã lẽn vào anh em với sự giảng dạy xấu xa. Nhưng anh em đã không cho phép họ gieo ra sự dạy ấy vào giữa anh em. Anh em đã bịt tai mình lại để ngăn ngừa không cho phép những điều họ đã rao giảng” (Eph 6.2; 9.1; cited in Richardson, Early Christian Fathers, 89, 90).

Qua mọi khó khăn mà người thành Ê-phê-sô đã đối diện với hơn bốn mươi năm, qua mọi nỗ lực vất vả và nhịn nhục chịu đựng các thử thách, sự từ chối không dung chịu điều ác, và sự phân biện thuộc linh của họ, họ vẫn giữ lấy sự chịu khó của họ. Họ đã nhịn nhục, Chúa Jêsus đã tuyên bố, vì động cơ cao nhất trong mọi động cơ: vì cớ danh Ngài. Và họ đã chịu như vậy mà không mệt nhọc chút nào (đối chiếu Ga 6:9); họ đã không đầu hàng trước sự thất vọng, vô ơn, hoặc chỉ trích. Họ giữ lòng trung thành với Chúa, trung thành với Lời của Ngài và với công việc mà vì đó Ngài đã kêu gọi họ.

Chúa Jêsus thêm một lời khen ngợi sau cùng ở câu 6: “Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa”. Đảng Ni-cô-la, cũng được nhắc tới trong bức thư gửi cho Hội thánh Bẹt-găm (2:12-15), không thể xác định theo cách tích cực được. Một vài tham khảo đến dị giáo nầy trong các tác phẩm của những giáo phụ Hội thánh gắn nó với Nicolas, là một trong số bảy người được chỉ định để giám sát việc phân phối thực phẩm trong Công Vụ các Sứ Đồ 6. Có người cho rằng Nicolas là một tín đồ giả trở thành kẻ bội đạo, song vẫn có ảnh hưởng trong Hội thánh vì cớ những việc đáng tin cậy của ông ta. Những người khác cho rằng đảng Ni-cô-la đã giải thích sai trong sự giảng dạy của ông ta. Bất kể gốc gác của nó, chủ nghĩa Ni-cô-la đã dẫn người ta vào tình trạng phi đạo đức và gian ác. Bức thư gửi Hội thánh Bẹt-găm gắn nó với giáo lý giả dối của Ba-la-am đã khiến cho Israel phải sai lạc. Những việc làm của đảng Ni-cô-la do đó liên quan đến những cám dỗ về tình dục dẫn đến tình trạng phi luân về tình dục và ăn những thứ đã được cúng cho thần tượng (2:14) mà không xem xét đến sự xúc phạm của việc làm đó (đối chiếu Ro 14:1-15:3) — mọi sự ở trong danh nghĩa tự do Cơ đốc. Có thể cho rằng “sự dạy của đảng Ni-cô-la là một sự phóng đại của giáo lý nói tới quyền tự do Cơ đốc, nó nỗ lực tạo một sự thỏa hiệp về đạo đức với chủ nghĩa vô thần” (Merrill C. Tenney, Interpreting Revelation [Grand Rapids: Eerdmans, 1957], 61). Irenaeus đã viết về đảng Ni-cô-la rằng họ “đã sống loại đời sống tự nuông chìu không kềm chế” (cited in Tenney, Interpreting Revelation,61). Clement ở Alexandria nói thêm rằng đảng Ni-cô-la “đưa mình vào khoái lạc giống bầy dê … hướng tới một đời sống tự nuông chìu” (cited in Barclay,The Revelation of John,1:67).

Không giống Hội thánh Bẹt-găm, Hội thánh Ê-phê-sô đã không dung cho đảng Ni-cô-la nhưng ghét các sự dạy theo tà giáo của họ. Vì cớ Đức Chúa Jêsus Christ đã ngợi khen họ. Ghét là một thái độ thích hợp và chính xác phản ứng ngược lại với sự dung chịu của Hội thánh Bẹt-găm đối với đảng Ni-cô-la (2:14-15). Kinh Thánh tỏ ra rằng Đức Chúa Trời ghét sự bất khiết (Es 61:8; Gie 44:4; Am 5:21; Xa 8:17).

QUAN TÂM

“Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu” (Kh 2:4)

Mặc dù tất cả các yếu tố đáng khen ở Hội thánh Ê-phê-sô, cái nhìn thấu suốt và toàn tri của Đức Chúa Jêsus Christ đã chỉ ra một lỗ hổng chết người. Mặc dù họ giữ nguyên phần chính thống trong giáo lý của họ và tiếp tục phục vụ Đấng Christ, sự thờ phượng ấy bị thoái hóa thành chính thống máy móc. Mặc dù họ đã từng yêu mến (Eph 1:15; 3:17-19; 6:23), bốn mươi năm sau tình cảm của thế hệ tín đồ đầu tiên đã nguội dần đi. Thế hệ hiện tại đang duy trì phần giáo lý đã được truyền lại cho họ, nhưng họ đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Lòng kính mến ấy bao gồm tình cảm dành cho Đức Chúa Trời và Đấng Christ, yêu thương nhau, và tình cảm dành cho kẻ bị hư mất. Đó là tình yêu được xác định là vâng phục (IIGi 1:6). Họ đã chỉm đắm xuống tới chỗ mà ở đó họ đang mang lấy các trách nhiệm Cơ Đốc của họ với việc giảm bớt tình cảm dành cho Chúa của họ và tha nhân.

Mối nguy hiểm chết chóc của tình huống ấy được minh hoạ bởi những tai hoạ đã phát sinh khi tình cảm của Israel dành co Đức Chúa Trời bị nguội lạnh đi. Qua Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời đã quở trách dân sự Ngài vì đã quên Ngài:

“Hãy đi, kêu vào tai Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta còn nhớ về ngươi lòng nhân từ của ngươi lúc đang thơ, tình yêu mến trong khi ngươi mới kết bạn, là khi ngươi theo ta nơi đồng vắng, trong đất không gieo trồng. Y-sơ-ra-ên vốn là dân biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va; vốn là trái đầu mùa của hoa lợi Ngài. Phàm những kẻ nuốt dân ấy sẽ có tội; tai vạ sẽ lâm trên họ, Đức Giê-hô-va phán vậy. Hỡi nhà Gia-cốp, cùng các họ hàng nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi có thấy điều không công bình gì trong ta, mà đã xa ta, bước theo sự hư không, và trở nên người vô ích? Họ không nói: Chớ nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Ay là Đấng đã đem chúng ta lên khỏi đất Ê-díp-tô, đã dắt chúng ta qua đồng vắng, trong đất sa mạc đầy hầm hố, trong đất khô khan và có bóng sự chết, là đất chẳng một người nào đi qua, và không ai ở. Ta đã đem các ngươi vào trong một đất có nhiều hoa quả, để ăn trái và hưởng lợi nó. Nhưng, vừa vào đó, các ngươi đã làm ô uế đất ta, đã làm cho sản nghiệp ta thành ra gớm ghiếc. Các thầy tế lễ không còn nói: Nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Những người giảng luật pháp chẳng biết ta nữa. Những kẻ chăn giữ đã bội nghịch cùng ta. Các tiên tri đã nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, đi theo những sự không ích gì cả. Đức Giê-hô-va phán: Vì cớ đó ta sẽ còn tranh cạnh cùng các ngươi, cho đến con cháu của con cháu các ngươi nữa. Hãy qua các cù lao Kít-tim mà xem! Hãy khiến người đến Kê-đa, và xét kỹ; xem thử có việc như vậy chăng. Có nước nào thay đổi thần của mình, mặc dầu ấy chẳng phải là thần không? Nhưng dân ta đã đổi vinh hiển mình lấy vật vô ích! Hỡi các từng trời, hãy lấy làm lạ về sự đó; hãy kinh hãi gớm ghê, hãy rất tiêu điều, Đức Giê-hô-va phán. Dân ta đã làm hai điều ác: chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được (Gi 2:2-13).

Trong một phân đoạn đầy năng quyền Ê-xê-chi-ên cũng phác hoạ sự từ bỏ tình yêu ban đầu dành cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:

“Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuổi mầy nầy, mầy đã đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy. Ta rửa mầy trong nước, làm cho sạch máu vấy mình mầy, và xức dầu cho. Ta mặc áo thêu cho mầy, cho mầy mang giày sắc lam, thắt lưng mầy bằng vải gai mịn, đắp cho mầy bằng hàng lụa. Ta lấy đồ trang sức giồi cho mầy, xỏ vòng vào tay, mang kiềng vào cổ, tra khoen nơi mũi, đeo hoa vào tai, và đội mão đẹp trên đầu mầy. Như vậy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng đến nỗi được ngôi hoàng hậu. Danh tiếng mầy lừng lẫy trong các nước bởi sắc đẹp mầy; vì sự đẹp là trọn vẹn bởi oai nghi của ta mà ta đã đặt trên mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy. Nhưng mầy cậy sắc đẹp mình; cậy danh tiếng mình mà buông sự dâm dục, hành dâm cùng mọi kẻ trải qua, phó mình mầy cho nó” (Exe16:8-15).

Như vốn có ở Israel, kỳ trăng mật đã kết thúc tại thành Ê-phê-sô. Sự mất mát mối quan hệ yêu thương quan trọng với Đức Chúa Jêsus Christ đã mở ra cánh cửa cho sự thờ ơ thuộc linh, dửng dung với tha nhân, tình yêu dành cho thế gian, thỏa hiệp với sự ác, sự phán xét và, cuối cùng, cái chết hoàn toàn của Hội thánh. Mặc dù bề ngoài tỏ ra mạnh mẽ lắm, một chứng ung thư thuộc linh chết chóc đã phát triển ở ngay trung tâm của Hội thánh Ê-phê-sô.

TRUYỀN LỊNH

“Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó” (Kh 2:5)

Đấng Y Sĩ Đại Tài đã ghi toa thuốc cho người thành Ê-phê-sô, nếu được noi theo, sẽ chữa khỏi cơn ác mộng thuộc linh của họ. Trước tiên, họ cần phải nhớ (sát nghĩa: “giữ mãi việc ghi nhớ”) họ đã sa sút từ đâu. Thái độ quên thường là nguyên nhân ban đầu của sự suy sụp về mặt thuộc linh, và người thành Ê-phê-sô cần phải nhận ra sự nghiêm trọng của một sự sai sót như vậy. Thứ hai, họ cần phải ăn năn với sự chối bỏ kiên quyết đối với mọi tội lỗi của họ, bởi vì thất bại không hết lòng, hết linh hồn, hết ý, và hết sức kính mến Đức Chúa Trời là tội lỗi (Mac 12:30). Cuối cùng, họ cần phải chứng tỏ tính chân thực sự ăn năn của họ và làm lại những công việc ban đầu. Họ cần nắm bắt lại sự giàu có trong nghiên cứu Kinh Thánh, tin kính trong sự cầu nguyện, và tình cảm dành cho sự thờ phượng mà đã từng đánh dấu họ.

Richard Mayhue viết rằng sự đối diện của Chúa Jêsus đối với Hội thánh Ê-phê-sô nêu gương cho cách các tín đồ phải đối diện với:

Thứ nhứt, sự đối diện đã được thực hiện với tình yêu thương và với mục đích phục hồi (2:4-5).

Thứ hai, khích lệ đi trước sự sửa chữa (2:2–3, 6).

Thứ ba, Đấng Christ nêu nan đề cách công khai và cụ thể (2:4-5).

Thứ tư, Ngài nói cho họ biết cách phục hồi (2:5): hãy nhớ lại quá khứ của bạn, hãy ăn năn về sai lầm của bạn, hãy xây lại với điều tốt nhứt của mình.

Thứ năm, Đấng Christ rõ ràng nêu ra các hậu quả nếu họ không vâng lời (2:5).

Thứ sáu, Ngài đã viết với sự mong đợi rằng họ sẽ đáp ứng cách tích cực (2:7). (What Would Jesus Say AboutYour Church? [Scot- land, G.B.: Christian Focus Publishers,1995], 51).

Nhấn mạnh sự nghiêm trọng của tình hình, Đấng Christ cảnh cáo người thành Ê-phê-sô phải thực hiện các bước cần thiết để khôi phục lại tình yêu ban đầu của họ đối với Ngài. Ngài yêu cầu họ thay đổi hoặc bị trừng phạt: “ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó”. Sự đến mà Đấng Christ đề cập đến không phải là lần đến thứ hai của Ngài, nhưng sự Ngài đến với họ trong sự phán xét địa phương giáng trên Hội thánh đó. Thất bại không chú ý đến lời cảnh cáo đó sẽ khiến Ngài phải cất chân đèn của họ. Thê thảm thay, Đấng Christ đã đe dọa sự phán xét thiêng liêng đem lại dấu chấm hết cho hội thánh Ê-phê-sô.

TƯ VẤN

“Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời” (Kh 2:7).

Bức thư kết thúc với một lời khuyên và một lời hứa. Sự khích lệ của Đấng Christ “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh” kết thúc từng bức thư trong bảy bức thư (đối chiếu 2:11, 17, 29; 3:6, 13, 22). Nó nhấn mạnh đến trách nhiệm mà người tin Chúa phải chú ý đến tiếng phán của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Việc sử dụng danh từ số nhiều Hội thánh chỉ ra bản chất phổ quát của lời mời này mỗi lần nó xuất hiện. Lời kêu gọi này không bị hạn chế chỉ cho một nhóm người đắc thắng trong một Hội thánh duy nhất đâu; nó phải áp dụng cho tất cả các Hội thánh. Mỗi Hội thánh cần phải lắng nghe từng sứ điệp.

Lời hứa, giống như những lời hứa có liên quan đến sáu bức thư kia (đối chiếu 2:11, 17, 26, 3:5, 12, 21), được nói với kẻ nào thắng. Thuật ngữ này không đề cập đến những người nào đạt được cấp độ cao hơn trong đời sống Cơ đốc, nhưng đề cập đến tất cả các Cơ đốc nhân. Sứ đồ Giăng xác định theo cách ấy trong thư tín thứ nhứt của ông: “vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta. Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao?” (IGi 5:4-5). Hết thảy các tín đồ thật đều là hạng người đắc thắng, họ nhờ ân điển và quyền phép của Đức Chúa Trời mà thắng hơn quyền lực gây nguy hiểm của hệ thống gian ác của thế gian.

Đấng Christ hứa với những kẻ đắc thắng ở thành Ê-phê-sô rằng họ sẽ “ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời”. Cây sự sống được nhắc đến lần đầu tiên trong Sa 2:9, chỗ nó đứng trong Vườn Ê-đen. Cây đời nầy đã bị hư mất do tội lỗi của con người và họ bị cấm ăn cây ấy (Sa 3:22), nhưng cây sự sống trên trời (Kh 22:2, 14, 19) sẽ kéo dài mãi cho đến đời đời. Cây sự sống tiêu biểu cho sự sống đời đời. Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời là thiên đàng (đối chiếu Lu 23:43; IICo 12:4).

Tấm gương của Hội thánh Ê-phê-sô cảnh báo rằng giáo lý chính thống và sự thờ phượng bề ngoài không thể bù đắp cho một tấm lòng nguội lạnh. Những người tin Chúa phải cẩn thận chú ý đến lời khuyên của Vua Sa-lô-môn: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra” (Ch 4:23). Tình cảm của người nào dành cho Đức Chúa Trời đã nguội lạnh cần phải chú ý đến lời khuyên của Ô-sê khi ông nói với dân Israel tái phạm như sau:

“Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy là tại tội lỗi ngươi làm cho ngươi sa ngã. Các ngươi khá lấy lời nói trở lại cùng Đức Giê-hô-va. Khá thưa cùng Ngài rằng: Xin cất mọi sự gian ác đi, và nhậm sự tốt lành, vậy chúng tôi sẽ dâng lời ngợi khen ở môi chúng tôi thay vì con bò đực. A-si-ri sẽ không giải cứu chúng tôi, chúng tôi sẽ không cỡi ngựa chiến nữa, không nói với đồ bởi tay chúng tôi làm ra mà rằng: Các ngài là thần của chúng tôi! Vì ấy là trong Ngài mà kẻ mồ côi tìm thấy sự thương xót!” (Os 14:1-3).

Và đối với những người trở lại với Ngài, Đức Chúa Trời hứa: “Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của chúng nó. Ta sẽ lấy lòng tốt yêu chúng nó; vì cơn giận của ta đã xây khỏi nó rồi” (Os 14:4).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme