Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

10 – Lao-đi-xê: Hội Thánh Hâm Hẩm (Kh 3:14-22)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Lao-đi-xê rằng: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời: Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ. Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi. Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta. Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Kh 3:14-22)

Có thể lẽ đạo bi thảm nhất trong lịch sử cứu chuộc là chuyện buồn nói tới Israel sai lạc. Dân Do-thái là hạng người nhận lãnh nhiều đặc ân thuộc linh không lường được: “tức là dân Y-sơ-ra-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa; là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men” (Ro 9:4-5). Đức Chúa Trời đã chọn họ từ hết thảy các dân tộc trên thế giới, giải cứu họ ra khỏi Ai-cập, đưa họ vào trong Đất Hứa, yêu thương họ, và chăm chút bảo vệ họ (đối chiếu Phu 4:37; 7:7-8).

Mặc dù có những đặc ân đó, lịch sử của Israel là một lịch sử nói tới sự loạn nghịch liên tục chống lại Đức Chúa Trời. Sau khi họ được giải cứu cách kỳ diệu ra khỏi Ai-cập, sự loạn nghịch của người Do-thái dẫn tới sự phán xét nghiệt ngã của Đức Chúa Trời, khi cả một thế hệ bị hư mất trong đồng vắng. Chu kỳ của tội lỗi của Israel, sự phán xét của Đức Chúa Trời, sự ăn năn và phục hồi của Y-sơ-ra-ên trải khắp sách Các Quan Xét. Sự kiêu ngạo tội lỗi của dân Do-thái đã khiến họ chối bỏ Đức Chúa Trời không nhận Ngài là Vua của họ và đòi cho phải có một vị vua về mặt con người. Vị vua đầu tiên của họ là Saulơ bất tuân, rồi xứ sở đã ở trong chỗ rối loạn suốt phần trị vì của ông. Sau thời kỳ hoà bình và vâng phục tương đối dưới quyền của Đa-vít và Sa-lô-môn, Y-sơ-ra-ên bị chia thành hai vương quốc. Tất cả các vị vua phương Bắc (của Israel) và hầu hết các vị vua phương Nam (xứ Giuđa) đều là hạng người xấu xa, khiến cho dân sự của họ lao vào những sự gớm ghiếc bẩn thỉu của sự thờ lạy hình tượng.

Trong các thế kỷ bất tuân, loạn nghịch, và bội đạo, Đức Chúa Trời đã giàu ơn kêu gọi Y-sơ-ra-ên xây trở lại cùng Ngài. Đức Chúa Trời công bố ở Gie 7:25: “Từ ngày tổ phụ các ngươi ra khỏi đất Ê-díp-tô cho đến ngày nay, ta đã sai mọi đầy tớ ta, tức các tiên tri, đến cùng các ngươi; mỗi ngày ta dậy sớm sai họ đến”. Nhưng thay vì ăn năn và trở về cùng Đức Chúa Trời, dân Do-thái “chẳng nghe ta, chẳng hề để tai vào, song lại cứng cổ, ăn ở càng xấu hơn tổ phụ mình” (Gie 7:26; đối chiếu 25:4; 29:19; 35:15; 44:4-5; Xa 7:12).

Sau cùng, Đức Chúa Trời đã dẫn sự phán xét giáng trên dân sự của Ngài vì họ loạn nghịch và không chịu ăn năn. Trước tiên Israel rơi vào tay người A-sy-ri, rồi sau đó xứ Giu-đa bị người Ba-by-lôn bắt đi làm phu tù và thành Jerusalem bị tiêu diệt. IIVua 17:7-23 nhắc lại lời cầu nguyện buồn thảm về tội lỗi đã dẫn đến sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên dân sự Ngài:

Vả, dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã rút họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, và khỏi tay hà hiếp của Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô; chúng đã kính thờ các thần khác theo thói tục của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, và theo lệ mà các vua Y-sơ-ra-ên đã định. Dân Y-sơ-ra-ên làm lén những việc bất chính nghịch cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, xây dựng những nơi cao trong khắp các thành họ, từ tháp vọng canh cho đến thành kiên cố, dựng lên những trụ thờ trên các nỗng cao và dưới những cây rậm. Tại trên các nơi cao, chúng xông hương y như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt họ, phạm những việc gian ác, và chọc giận Đức Giê-hô-va. Chúng hầu việc những hình tượng mà Đức Giê-hô-va đã cấm chúng rằng: Các ngươi chớ thờ chúng nó. Song Đức Giê-hô-va cậy miệng các đấng tiên tri và những kẻ tiên kiến mà khuyên Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: Khá từ bỏ đường ác của các ngươi, hãy gìn giữ điều răn và luật lệ ta, tùy theo các mạng lịnh ta cậy những tiên tri, là tôi tớ ta, mà truyền cho tổ phụ các ngươi. Nhưng chúng không muốn nghe, cứng cổ mình, y như các tổ phụ của chúng không có lòng tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Chúng khinh bỏ các luật lệ và giao ước Ngài đã lập cùng tổ phụ họ, và những lời chứng mà Ngài đã phán với họ. Chúng đi theo các thần hư không, và trở thành hư không, bắt chước các dân tộc ở chung quanh mình, mà Đức Giê-hô-va đã cấm làm theo gương của chúng nó. Chúng khinh bỏ hết thảy giới mạnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, tự đúc lấy hai tượng bò con, cùng làm thần tượng A-sê-ra, thờ lạy hết thảy cơ binh trên trời, và thờ phượng Ba-anh. Chúng cũng đưa con trai con gái mình qua lửa, dùng tà thuật, tin bói khoa, chuyên làm điều dữ trước mặt Đức Giê-hô-va, để chọc giận Ngài. Bởi cớ ấy, Đức Giê-hô-va rất nổi giận dữ cùng dân Y-sơ-ra-ên, xua đùa chúng khỏi trước mặt Ngài; chỉ còn lại chi phái Giu-đa mà thôi. Chính Giu-đa cũng không vâng giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa trời của họ; bèn đi theo những lệ luật mà Y-sơ-ra-ên đã lập. Thế thì, Đức Giê-hô-va từ bỏ cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên, làm khốn khổ họ, và phó họ vào tay các kẻ cướp giựt, cho đến phải lưu đày cách xa mặt Ngài. Y-sơ-ra-ên đã phân rẽ nhà Đa-vít, tôn Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm vua; người quyến dụ Y-sơ-ra-ên bội nghịch Đức Giê-hô-va, và khiến cho họ phạm tội lớn. Dân Y-sơ-ra-ên đều đi trong hết thảy tội lỗi của Giê-rô-bô-am đã phạm, chẳng từ bỏ chút nào, cho đến ngày Đức Giê-hô-va đày đuổi họ khỏi trước mặt Ngài, y như Ngài đã phán bởi miệng của các tiên tri, tôi tớ Ngài. Vậy, Y-sơ-ra-ên bị cất khỏi xứ mình, lưu đày qua A-si-ri cho đến ngày nay.

Sự bội đạo của Y-sơ-ra-ên khiến cho Chúa phải buồn rầu. Trong thí dụ của Es 5:1-3, Israel được phác hoạ như là một vườn nho được chăm sóc đàng hoàng, thế mà nó chỉ đốc ra những trái nho hoang. Ở câu 4, Đức Giê-hô-va đã phán rất đơn giản: “Có điều chi nên làm cho vườn nho ta mà ta không làm cho nó chăng? Cớ sao khi ta mong sanh trái nho, thì nó lại sanh trái nho hoang vậy?” Trong Es 48:18 Ngài kêu lên: “Than ôi! ước gì ngươi đã để ý đến các điều răn ta! thì sự bình an ngươi như sông, và sự công bình ngươi như sóng biển”. Trong Thi 78:40, tác giả Thi thiên than thở: “Biết mấy lần chúng nó phản nghịch cùng Ngài nơi đồng vắng, và làm phiền Ngài trong chỗ vắng vẻ!” Ê-sai lặp lại cùng một ý nghĩ đó: “Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ” (Es 63:10). Trong Exe 6:9, Đức Chúa Trời phán về Y-sơ-ra-ên rằng: “Ta đã buồn rầu trong lòng, vì lòng tà dâm của chúng nó đã lìa bỏ ta, và mắt chúng nó hành dâm theo thần tượng mình”.

Tân Ước cũng ghi lại sự buồn rầu của Đức Chúa Trời qua Y-sơ-ra-ên loạn nghịch. Khi tiếp cận thành Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng, Đức Chúa Jêsus Christ kêu lên: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các tiên tri, và quăng đá các đấng chịu sai đến cùng ngươi, bao phen ta muốn nhóm họp con cái ngươi, như gà mái túc và ấp con mình dưới cánh, mà các ngươi chẳng muốn!” (Lu 13:34). Lịch sử lâu dài của người Do-thái về sự cứng lòng chối bỏ Thân Vị, các mạng lịnh, cùng những sứ giả của Đức Chúa Trời, lên đến đỉnh điểm một vài ngày sau đó khi họ kêu la đòi tử hình Đấng Mê-si của họ.

Sứ đồ Phao-lô cảm thấy nỗi đau khổ của Đức Chúa Trời đối với sự vô tín của đồng bào mình. Ông viết cho người thành Rô-ma: “Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân Y-sơ-ra-ên cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu. Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn” (Ro 10:1-2). Ở Ro 9:2, ông viết: “tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn” về sự vô tín của dân Y-sơ-ra-ên. Sự buồn rầu nhiệt thành của Phao-lô về sự vô tín ấy đến nỗi ông đưa ra lời tuyên bố gây sốc, là nếu có thể được, ông sẽ sẵn sàng “bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác” (câu 3).

Thê thảm thay, sự vô tín đáng buồn của dân Israel tìm thấy một sự tương đương trong Hội thánh. Có rất nhiều người trong các Hội thánh, thậm chí cả các hội chúng, họ bị hư mất. Họ có thể sống thành thực, sốt sắng, và tôn giáo ở bề ngoài, nhưng họ lại chối bỏ lẽ thật của Tin lành. Họ có hết thảy sự dạy phong phú của Tân Ước về sự sống, sự chết và sự sống lại của Đấng Christ chứa trong Kinh Thánh mà họ không tin và không vâng theo. Kết quả là, họ bị định đoạt, giống như dân Israel vô tín. Phao-lô mô tả họ là những kẻ “giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó”, rồi sau đó khuyên người các tín đồ theo cách khôn ngoan “hãy lánh xa những kẻ thể ấy” (IITi 3:5).

Hội thánh ở Lao-đi-xê tiêu biểu cho các Hội thánh bội đạo như đã có trong cả lịch sử. Đây là Hội thánh sau cùng và tệ hại nhất trong bảy Hội thánh được đề cập đến bởi Chúa chúng ta. Đường trôn ốc đi xuống bắt đầu ở Ê-phê-sô, tiếp tục qua Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, và Sạt đe, xuống đến tận đáy tại Lao-đi-xê. Ngay cả ở Sạt-đe đã có một số tín đồ chơn thật bị bỏ lại; theo như có thể xác định được, Hội thánh ở Lao-đi-xê là một Hội thánh dối giả, hoàn toàn chưa được tái sanh. Nó có sự khác biệt đáng tởm vì là Hội thánh duy nhất trong số bảy Hội thánh mà Đấng Christ không có một lời khen ngợi tích cực nào hết. Phù hợp với tính chất quyết liệt của tình hình ở Lao-đi-xê, đây cũng là bức thư đe dọa nhiều nhất trong bảy thư tín.

Nội dung của thư tín nầy có thể được chia thành sáu chủ đề: thư tín, Hội thánh, thành phố, mối quan tâm, mạng lịnh, và mưu luận.

THƯ TÍN

“Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời” (Kh 3:14c)

Giống như trong thư tín gửi cho Hội thánh tại Phi-la-đen-phi, Đấng Christ không xác định chính mình Ngài đang sử dụng bất kỳ cụm từ nào trong sự mặc thị được ghi lại ở 1:12-17. Thay vì thế, Ngài xác định chính mình Ngài đang sử dụng ba tước hiệu thiêng liêng.

Trước hết, Đức Chúa Jêsus Christ đã mô tả chính mình Ngài là Đấng A-men. Tước hiệu độc nhất vô nhị, chỉ được sử dụng ở đây trong Kinh Thánh để mô tả Đấng Christ, gợi nhớ lại Ê-sai 65:16, ở đây Đức Chúa Trời hai lần được gọi là “Đức Chúa Trời chơn thật [tiếng Hy-bá-lai là a-men]”. A-men là một chuyển ngữ của một chữ Hy-bá-lai có nghĩa là “sự thật”, “khẳng định” hay “chắc chắn”. Từ nầy đề cập đến cái gì đó vững chắc, cố định và không thể thay đổi. A-men thường được sử dụng trong Kinh thánh để khẳng định tính chân thật của một lời công bố (thí dụ Dan 5:22; Ne 8:6; Mat 6:13; Ro 16:27; ICo 16:24; và cũng trong Mat 5:18; 6:2; Mac 9:1; Lu 4:24, Gi1:51; 3:3, 5, 11; 5:19; trong bản KJV a-men được dịch là theo tiếng Hy-lạp là “đích thực” và “thật sự” trong bản NASB). Bất cứ điều chi Đức Chúa Trời phán đều là sự thật và chắc chắn; vì lẽ đó, Ngài là Đức Chúa Trời chân thật.

Đấng Christ chắc chắn là Đấng A-men theo ý nghĩa Ngài là Đức Chúa Trời chân thật hoá thân thành nhục thể. Nhưng có nhiều điều trong tước hiệu phong phú nầy hơn là một sự khẳng định về thần tánh của Ngài. Trong II Côrinhtô 1:20, Phao-lô viết về Đức Chúa Jêsus Christ: “Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “A-men,” làm sáng danh Đức Chúa Trời“. Chính qua thân vị và công tác của Đấng Christ mà mọi lời hứa và giao ước của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm và được bảo đảm. Mọi lời hứa trong Cựu Ước về ơn tha thứ, sự thương xót, yêu thương, ân điển, hy vọng và sự sống đời đời đều bị ràng buộc nơi sự sống, sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài là Đấng A-men vì Ngài là Đấng đã khẳng định mọi lời hứa của Đức Chúa Trời.

Đấng Christ cũng tự xác định Ngài là Đấng Làm Chứng Thành Tín Chơn Thật. Tước hiệu ấy càng làm sáng tỏ suy tưởng được thể hiện trong tước hiệu thứ nhứt. Không những Chúa Jêsus là Đấng A-men vì cớ công tác của Ngài, mà còn vì mọi sự Ngài phán dạy đều là phải lẽ. Ngài hoàn toàn đáng tin cậy, chính xác hoàn toàn, và lời chứng của Ngài luôn đáng tin cậy. Đức Chúa Jêsus Christ là “đường đi, lẽ thật, và sự sống” (Gi 14:6, phấn nhấn mạnh được thêm vào).

Đây là cách thích đáng để bắt đầu bức thư gửi người Lao-đi-xê bởi vì nó khẳng định với họ rằng Đấng Christ đã đánh giá chính xác tình trạng chưa được chuộc của họ. Điều đó cũng khẳng định rằng sự Ngài ban hiến mối thông công và ơn cứu rỗi trong câu 20 là đúng, bởi vì các lời hứa của Đức Chúa Trời đều được khẳng định qua công tác của Ngài.

Sau cùng, Đấng Christ đề cập đến chính mình Ngài như là Đấng Làm Đầu Cội Rễ Cuộc Sáng Thế Của Đức Chúa Trời. Bản dịch Anh ngữ có phần mơ hồ và gây nhầm lẫn. Kết quả là các giáo sư giả tìm cách chối bỏ thần tánh của Đấng Christ đã nỗ lực sử dụng câu này để chứng minh Ngài là một hữu thể được dựng nên. Tuy nhiên, chẳng có một sự mơ hồ nào trong phiên bản Hy-lạp. Arch¯e (Đấng Làm Đầu) không có ý nói Đấng Christ là thân vị đầu tiên Đức Chúa Trời đã dựng nên đâu, mà chính mình Đấng Christ là nguồn hay gốc của sự sáng tạo (đối chiếu Kh 22:13). Qua quyền phép của Ngài, muôn vật đều được dựng nên (Gi 1:3; He 1:2).

Bức thư nầy gửi người Lao-đi-xê có nhiều điểm chung với bức thư của Phao-lô gửi cho Hội thánh Cô-lô-se. Thành Cô-lô-se không xa thành Lao-đi-xê bao nhiêu, vì vậy có vẻ như chính thứ tà giáo ấy đang hành hại người thành Cô-lô-se đang trên đường đến thành Lao-đi-xê (đối chiếu Co 4:16). Tà giáo ấy, một hình thức của phái ngộ đạo (Gnosticism) (từ chữ gn¯osis theo tiếng Hy-lạp, “tri thức”), họ dạy rằng Đấng Christ là một hữu thể được dựng nên, một trong hàng loạt hình ảnh nói tới Đức Chúa Trời. Những người đề xướng của nó cũng xưng rằng họ sở hữu một tri thức thuộc linh bí mật và cao hơn, bên trên và bên ngoài lời lẽ đơn giản của Kinh Thánh. Chống lại tà giáo đó, Phaolô viết về Đấng Christ:

“Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài” (Co 1:15-17)

“Đầu hết” (pr¯ototokos) không bị hạn chế ở người thứ nhứt được sinh ra theo thứ tự thời gian, nhưng đề cập đến người cao nhất hoặc ưu việt, là người được vinh dự cao nhất (đối chiếu Thi 89:27). Do đó, Đấng Christ là nguồn (arch¯e) của sự sáng tạo, và là thân vị tối cao (pr¯ototokos) trong đó.

Tà giáo sai trái này về thân vị của Đấng Christ là lý do tại sao Hội thánh Lao-đi-xê đã gục chết về mặt thuộc linh. Lý thuyết về Đấng Christ dị giáo của họ đã tạo ra một Hội thánh không được tái sanh. Sự dạy giả dối về Đấng Christ, đặc biệt là sự chối bỏ thần tánh của Ngài, cũng là một cái mốc của hệ thống thờ lạy hình tượng ngày nay nữa.

HỘI THÁNH

Hội thánh Lao-đi-xê (Kh 3:14a)

Tân Ước không ghi lại bất kỳ điều gì về việc thành lập Hội thánh tại Lao-đi-xê. Giống như hầu hết sáu Hội thánh khác, có thể nó được thành lập trong suốt chức vụ của Phaolô tại Ê-phê-sô (Cong 19:10). Phao-lô không sáng lập nó, một khi ông viết cho người thành Cô-lô-se một vài năm sau đó, ông vẫn chưa đến viếng Lao-đi-xê (Co 2:1). Kể từ khi bạn đồng sự với Phao-lô là Ê-pháp-ra đã sáng lập Hội thánh ở thành Cô-lô-se gần đó (Co 1:6-7), ông cũng đã sáng lập Hội thánh Lao-đi-xê. Có người gợi ý rằng Archippus, con của Phi-lê-môn (Phil 1:2), là Mục sư ở đấy (đối chiếu Co 4:17), một khi Giáo hội nghị các sứ đồ (Apostolic Constitutions) thế kỷ thứ tư đặt tên Archippus làm Giám mục của Lao-đi-xê (vii, 46).

THÀNH PHỐ

Lao-đi-xê (Kh 3:14b)

Một trong ba thành phố (với Cô-lô-se và Hierapolis) trong đồng bằng Lycus, khoảng một trăm dặm về phía Đông của Ê-phê-sô, Lao-đi-xê nằm ở phía Đông Nam trong bảy thành phố, khoảng bốn mươi dặm tính từ Phi-la-đen-phi. Các thành phố chị em của nó của nó là Cô-lô-se, khoảng mười dặm về phía Đông, và Hierapolis, khoảng sáu dặm về phía Bắc. Nằm trên một vùng cao khoảng vài trăm feet, Lao-đi-xê gần như bất khả xâm phạm về mặt địa lý. Yếu điểm dễ bị tấn công nằm ở chỗ nó có ống dẫn nước vài dặm qua những kênh có thể bị chặn đứng dễ dàng hoặc bị lực lượng bao vây chuyển hướng khác.

Lao-đi-xê được thành lập bởi vua xứ Seleucid là Antillachus II và được đặt tên theo người vợ đầu tiên của ông. Kể từ khi ông ly dị bà vào năm 253TC, thành phố hầu như được thành lập trước thời điểm ấy. Mặc dù các cư dân ban đầu phần lớn đến từ Syria, một số lượng đáng kể người Do-thái cũng đến định cư ở đó. Một tổng đốc địa phương đã từng ngăn cấm người Do-thái không được nộp thuế đền thờ cho Jerusalem. Khi họ cố gắng làm như vậy bất chấp lệnh cấm, ông đã tịch thu số vàng họ dự định cho khoản thuế đó. Từ số lượng hàng bị tịch thu, có 7.500 người Do-thái sinh sống ở Lao-đi-xê; còn có thêm vài ngàn phụ nữ và trẻ em. Ngay cả kinh Talmud nói một cách khinh bỉ về cuộc sống nhàn hạ và dại dột của những người Do-thái tại Lao-đi-xê.

Với sự xuất hiện của Pax Romana (hòa bình dưới quyền cai trị của Rome), Lao-đi-xê được thịnh vượng. Chính vị trí chiến lược nằm ở ngã ba đường quan trọng: con đường phía Đông-Tây dẫn từ Ê-phê-sô vào bên trong, và con đường Bắc Nam từ Bẹt-găm đến biển Địa Trung Hải. Vị trí đó đã biến Lao-đi-xê thành một thành phố thương mại quan trọng. Vào thế kỷ thứ nhứt TC, nghị sĩ và triết gia La Mã Cicero đã gửi các bức thư kể Lao-đi-xê là trung tâm ngân hàng chiến lược. Vì vậy, Lao-đi-xê trở nên giàu có, nó phải trả giá cho việc tái thiết sau trận động đất tàn phá vào năm 60SC, bác bỏ những đề xuất hỗ trợ tài chính từ Rome.

Thành phố cũng nổi tiếng với loại len mềm, màu đen mà nó sản xuất. Vải len được may thành các loại y phục và dệt thành thảm, cả hai đều được tìm mua nhiều sau đó. Lao-đi-xê cũng là một trung tâm quan trọng của y học cổ đại. Ngôi đền thần của người Phrygi gần đó là Men Karou có một trường y khoa quan trọng gắn liền với nó. Ngôi trường đó nổi tiếng nhất với thuốc bôi mắt mà nó phát triển, được xuất khẩu trên toàn thế giới Hy-La. Tất cả ba ngành công nghiệp, tài chính, len, và sản xuất thuốc bôi mắt, đã được nhắc tới trong thư tín này gửi cho Hội thánh Lao-đi-xê.

MỐI QUAN TÂM

“Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ” (Kh 3:15-17)

Vì không có gì để khen ngợi Hội thánh chưa được tái sanh nầy, Đấng Christ đã khởi sự đi thẳng vào mối quan tâm của Ngài. Công việc luôn luôn tỏ ra tình trạng thuộc linh đích thực của con người, như được chỉ ra qua lời lẽ của Chúa “các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được” (Mat 7:16, đối chiếu Ro 2:6-8). Mặc dù sự cứu rỗi hoàn toàn là do ân điển của Đức Chúa Trời nhờ một mình đức tin mà thôi, công việc khẳng định hoặc phủ nhận sự hiện diện của ơn cứu rỗi đích thực (Gia 2:14 …). Đức Chúa Jêsus Christ toàn tri vốn biết rõ mọi công việc của người Lao-đi-xê và chúng chỉ ra một Hội thánh chưa được tái sanh.

Đấng Christ đã quở trách họ vì không lạnh cũng không nóng mà là hâm hẩm. Lối nói ẩn dụ của Ngài được rút ra từ nguồn cung cấp nước của Lao-đi-xê. Bởi vì nó đi vài dặm qua một kênh ngầm trước khi vào đến thành phố, dòng nước đến nơi thì hôi, bẩn, và ấm. Nó không đủ nóng để thư giãn và làm sự phục hồi, giống như các suối nước nóng ở Hierapolis. Nó cũng không lạnh và tươi mát, giống như dòng suối ở Cô-lô-se. Dòng nước hâm hẩm của Lao-đi-xê đã ở trong tình trạng vô dụng.

Khi so sánh trạng thái thuộc linh của nó với nước hôi, bẩn và ấm của thành phố, Đấng Christ đã ban cho Hội thánh Lao-đi-xê một sự quở trách dữ dội, gây sốc: vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. Một số Hội thánh khiến cho Chúa phải bật khóc, những Hội thánh khác làm cho Ngài phải tức giận; Hội thánh Lao-đi-xê đã khiến Ngài phát ốm.

Hạng người nóng là những người đang sống về mặt thuộc linh và có được sự nhiệt tình của một đời sống đã được biến đổi. Mặt khác, lạnh về mặt thuộc linh, được hiểu tốt nhất là những kẻ chối bỏ Đức Chúa Jêsus Christ. Tin lành không làm họ thất vọng; nó chẳng gợi lên trong họ một đáp ứng thuộc linh nào cả. Họ chẳng màng gì đến Đấng Christ, Lời của Ngài, hay Hội thánh của Ngài. Và họ không giả vờ về việc nầy; họ chẳng phải là kẻ giả hình.

Hâm hẩm không thích ứng với cả hai loại. Thực sự thì họ chưa được cứu, tuy nhiên họ không công khai chối bỏ Tin lành. Họ đến nhóm lại ở nhà thờ và xưng mình biết Chúa. Giống như người Pha-ri-si, họ sống hài lòng với cách thực hành một tôn giáo tự xưng công bình; họ là những kẻ giả hình đang chơi trò đạo đức. Đức Chúa Jêsus Christ đã mô tả hạng người như vậy trong Mat 7:22-23: “Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!”; “Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn” (Ro 10:2). Họ là những kẻ “giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó” (IITi 3:5). Sự giả hình kỳ quặc đáng ghét này đã khiến cho Đấng Christ phải buồn rầu.

Những kẻ giả hình tự xưng công bình nầy còn lâu mới với tới Tin lành, họ chẳng khác gì những kẻ chối Chúa với tấm lòng nguội lạnh. Loại chối Chúa ấy ít nhất cho thấy rằng họ đã bị hư mất. Nhưng người nào tự xưng công bình cho rằng mình đã được cứu thường hay bảo vệ những cảm xúc tôn giáo của họ và không muốn nhận ra tình trạng đích thực của họ. Họ không lạnh đủ để cảm thấy cái nọc cay đắng tội lỗi của họ. Kết quả là, không có ai xa rời lẽ thật hơn kẻ đưa ra lời xưng nhận bình an nhưng không bao giờ kinh nghiệm được đức tin cứu rỗi chân chính. Không một kẻ nào khó với tới Đấng Christ hơn một Cơ đốc nhân giả hình. Lời phê phán của Chúa Jêsus đối với người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê tự xưng công bình, ấy là: “những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi“ (Mat 21:31).

Thật không may, các Hội thánh hâm hẩm như vậy ngày nay rất là phổ biến, khiến cho bức thư gửi người thành Lao-đi-xê đặc biệt có liên quan. Như John R. W. Stott lưu ý:

Có lẽ không một thư tín nào trong bảy thư tín thích hợp với Hội thánh thuộc thế kỷ thứ hai mươi hơn thư tín nầy. Nó mô tả sinh động tín ngưỡng đáng tôn trọng, tình cảm, trên danh nghĩa, hời hợt, là thứ rất phổ biến giữa vòng chúng ta hiện nay. Cơ đốc giáo của chúng ta rất yếu ớt và xanh xao. Chúng ta dường như đã tắm lấy mùi tôn giáo hâm hẩm. (What Christ Thinks of the Church [Grand Rapids: Eerdmans, 1980], 116).

Sự hâm hẩm của người thành Lao-đi-xê được kết hợp bởi sự tự lừa dối của họ. Đấng Christ đã quở trách họ về việc tự đánh giá không chính xác thảm khốc của họ: “Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ”. Các công việc của họ cung ứng sự dối trá cho lời lẽ trống rỗng của họ. “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi” (Mat 7:21). Giống như vị quan trẻ, giàu có kia (Mat 19:16-22), họ bị lừa dối về tình trạng thuộc linh thực sự của họ.

Như đã nói ở trên, Lao-đi-xê là một thành phố rất giàu có. Sự giàu có đó cung ứng cho các thuộc viên của Hội thánh một ý thức sai lầm về sự an ninh khi họ tưởng rằng sự giàu có thuộc linh của họ phản ánh sự giàu có vật chất của thành phố nơi họ sinh sống. Họ đã sống giàu có trong sự kiêu căng thuộc linh nhưng bị phá sản trong ân điển cứu rỗi. Khi tin mình bị người ta ganh tỵ, thực ra họ rất đáng thương. Thuyết ngộ đạo [Gnosticism] của họ, đã được bàn bạc trên đây, đã khiến họ tin rằng họ đã đạt được một cấp độ tri thức đáng tự hào. Chắc chắn là họ xem thường những người chất phác, là kẻ chấp nhận và thoả lòng với sự dạy của Kinh Thánh về thân vị và công tác của Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng thực ra, như Chúa Jêsus chỉ ra, rằng họ khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ.

MẠNG LỊNH

“Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi. Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta” (Kh 3:18-20)

Đức Chúa Jêsus Christ có thể đã xét đoán ngay lập tức và huỷ diệt Hội thánh này đầy dẫy với những kẻ giả hình chưa được chuộc. Thay vì thế, Ngài đã giàu ơn ban cho họ ơn cứu rỗi đích thực. Lời kêu gọi có ba phần của Đấng Christ dựa trên ba đặc điểm thành phố Lao-đi-xê được biết đến nhiều nhất và lấy làm tự hào: sự giàu có, ngành công nghiệp len, và sản xuất thuốc bôi mắt. Đấng Christ đã ban cho họ loại vàng thuộc linh, y phục thuộc linh, và tầm nhìn thuộc linh.

Tất nhiên, Chúa không dạy rằng ơn cứu rỗi có thể kiếm được bằng các việc lành; hạng tội nhân hư mất chẳng có gì để mua ơn cứu rỗi (Es 64:5-6). Việc mua ở đây cũng giống như mua lấy lời kêu gọi để được cứu trong Es 55:1: “Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước! Và người nào không có tiền bạc, hãy đến, mua mà ăn! Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền, không đòi giá“. Hết thảy hạng tội nhân phải dâng lên tình trạng tồi tệ, hư mất của họ. Để đánh đổi về việc ấy, Đấng Christ ban hiến sự công bình của Ngài cho những ai thực sự ăn năn.

Đấng Christ khuyên người thành Lao-đi-xê mua sắm từ Ngài ba thứ, hết thảy đều tượng trưng cho sự cứu chuộc đích thực. Thứ nhứt, họ cần phải mua vàng thử lửa để họ trở nên giàu có. Họ cần vàng không có tạp chất, tiêu biểu cho sự giàu có vô giá của ơn cứu rỗi chân thật. Phi-e-rơ đã viết về “đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát“ (IPhi 1:7), trong khi Phao-lô định nghĩa đức tin cứu rỗi là “làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình“ (ITi 6:18-19). Đấng Christ hiến cho người thành Lao-đi-xê một ơn cứu rỗi chân thật, tinh khiết, là ơn sẽ đưa họ vào mối quan hệ thực sự với Ngài.

Thứ hai, Đấng Christ khuyên họ phải mua áo trắng để mặc vào, và điều xấu hổ về sự trần truồng khỏi lộ ra. Len màu đen nổi tiếng của Lao-đi-xê tượng trưng cho áo xống tội lỗi, bẩn thỉu mà kẻ chưa được tái sanh đã mặc lấy (Es 64:6; Xa 3:3-4). Ngược lại, Đức Chúa Trời đã mặc cho người được chuộc với loại áo trắng (3:4-5; 4:4; 6:11; 7:9, 13-14, đối chiếu Es 61:10), tượng trưng cho những việc công bình đi kèm theo với đức tin cứu rỗi chân chính (19:8).

Sau cùng, Đấng Christ hiến cho họ thuốc xức mắt để mắt họ có thể nhìn thấy. Mặc dù họ lấy làm tự hào về tri thức thuộc linh siêu việt cao cấp của họ, thực ra người thành Lao-đi-xê đã bị mù loà về mặc thuộc linh. Tình trạng mù loà tiêu biểu cho sự thiếu hiểu biết và tri thức về lẽ thật thuộc linh (đối chiếu Mat 15:14, 23:16-17, 19, 24, 26; Lu 6:39; Gi 9:40-41; 12:40; Ro 2:19; IICo 4:4; IGi 2:11). Giống như hạng người chưa được tái sanh, người thành Lao-đi-xê cần đến Đấng Christ để “mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời, và cho họ bởi đức tin nơi ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ” (Cong 26:18; đối chiếu IPhi 2:9).

Có người cho rằng lối nói kêu gọi trực tiếp của Đấng Christ với người thành Lao-đi-xê trong câu 19: “phàm những kẻ ta yêu, thì ta quở trách sửa phạt”, chỉ ra rằng họ là những người tin Chúa. Tuy nhiên, các câu 18 và 20 dường như thích đáng hơn để chỉ ra rằng họ chưa được tái sanh, đang có cần đến vàng của sự giàu có thuộc linh đích thực, áo xống công bình chân thật, và thuốc xức mắt mang lại sự hiểu biết thuộc linh chân thật (câu 18).

Đấng Christ có một tình yêu đặc biệt và độc nhất vô nhị cho kẻ được chọn của Ngài. Tuy nhiên, các phân đoạn Kinh Thánh như Mác 10:21 và Giăng 3:16 cho thấy Ngài cũng yêu thương kẻ chưa được chuộc. Vì người thành Lao-đi-xê bề ngoài được xác định với Hội thánh của Đấng Christ và vương quốc của Ngài, họ đã sống trong bầu khí quyển quan tâm của Ngài. Quở trách có nghĩa là phơi bày và thuyết phục. Đây là thuật ngữ chung chung nói tới cách xử sự của Đức Chúa Trời với hạng tội nhân (đối chiếu Gi 3:18-20; 16:8; ICo 14:24; Tit 1:9; Giu 1:15). Sửa phạt đề cập đến kỷ luật (đối chiếu Lu 23:16, 22) và được sử dụng trong sự thuyết phục của Đức Chúa Trời đối với những kẻ vô tín (IITi 2:25). Do đó, thuật ngữ của câu 19 không buộc rằng Đấng Christ đề cập hạng tín đồ. Chúa thương xót, dịu dàng kêu gọi những người trong Hội thánh chưa được tái sanh đến với đức tin cứu rỗi, e Ngài lên án và xét đoán họ (đối chiếu Exe 18:30-32; 33:11).

Nhưng để cho người Lao-đi-xê được cứu, họ sẽ phải sốt sắng và ăn năn. Điều đó tương đương với thái độ khóc lóc về tội lỗi và khao khát sự công bình mà Chúa Jêsus nói đến (Mat 5:4, 6). Trong khi sự năn năn chưa phải là một việc làm xứng đáng, Tân Ước kêu gọi đến với ơn cứu rỗi bao hàm luôn sự việc ấy (ví dụ Mat 3:2, 8; 4:17, Mac 6:12, Lu 13: 3, 5; 15 :7, 10, Cong 2:38, 3:19; 8:22; 11:18; 17:30; 20:21; 26:20; Ro 2:4; IICo 7:10; IITi 2:25; IIPhi 3: 9). Trong sự ăn năn, tội nhân chuyển từ tội lỗi của mình thành ra sự hầu việc Đức Chúa Trời (ITe 1:9).

Ăn năn có nghĩa là bạn nhận ra mình là một tội nhân tội lỗi, bẩn thỉu ở trước mặt Đức Chúa Trời, rằng bạn xứng đáng với cơn thạnh nộ và sự trừng phạt của Đức Chúa Trời, rằng bạn bị địa ngục vây lấy. Nói như thế có nghĩa là bạn bắt đầu nhận ra việc này gọi là tội lỗi đang ở trong bạn, để bạn ước ao từ bỏ nó, và xây lưng mình lại với mọi hình dạng và kiểu thức. Bạn đoạn tuyệt với thế gian với mọi giá, thế gian trong tâm trí của bạn và tầm nhìn cũng như thực tế của nó, rồi bạn chối bỏ mình, vác lấy thập tự giá và đi theo Đấng Christ. (D. Martyn Lloyd-Jones, Studies in the Sermon on the Mount [Grand Rapids: Eerdmans, 1974], 2:248).

Sứ điệp cho Hội thánh bị hư mất nầy, cũng như cho hết thảy những ai chưa được cứu, là phải sốt sắng theo đuổi “ăn năn dẫn tới sự sống” (Cong 11:18).

Đức Chúa Jêsus Christ theo lời mời gọi ăn năn trong câu 19 với một lời mời gọi nhẹ nhàng, duyên dáng trong câu 20. Hội thánh Lao-đi-xê bội đạo chỉ có thể trông mong Đấng Christ đến trong sự phán xét mà thôi. Nhưng thực tế đáng giật mình, được trình bày bởi từ ngữ Nầy, ấy là Đấng Christ đứng tại cửa của Hội thánh Lao-đi-xê mà gõ; nếu ai trong hội thánh nghe tiếng của Ngài và mở cửa cho, thì Ngài sẽ vào cùng người ấy, ăn bửa tối với người, và người với Ðấng Christ.

Mặc dù câu này đã được sử dụng trong vô số dữ liệu và sứ điệp truyền giáo để mô tả Đấng Christ đang gõ trên cánh cửa lòng của hạng tội nhân, nó còn rộng bao la hơn thế nữa. Cánh cửa mà Đấng Christ đang gõ không phải là cánh cửa lòng của một con người bình thường, mà là với Hội thánh Lao-đi-xê. Đấng Christ đang đứng ở ngoài Hội thánh bội đạo này và muốn đi vào – là thứ chỉ có thể xảy ra nếu dân sự đã chịu ăn năn.

Trước hết, lời mời là lời mời cá nhân, một khi ơn cứu rỗi là cá nhân. Nhưng Ngài đang gõ nơi cửa của Hội thánh, kêu gọi nhiều người đến với đức tin cứu rỗi, hầu cho Ngài có thể bước vào Hội thánh. Nếu một người (bất cứ ai) mở cửa bằng sự ăn năn và đức tin, Đấng Christ sẽ bước vào Hội thánh đó qua cá nhân đó. Hình ảnh Đấng Christ đứng ở ngoài Hội thánh Lao-đi-xê đang tìm lối vào cách mạnh mẽ ám chỉ rằng, không giống như Sạt đe, chẳng có một tín đồ nào ở đó cả.

Lời mời gọi của Đấng Christ muốn ăn bữa tối với Hội thánh biết ăn năn nói tới mối thông công, sự giao thông, và sự mật thiết. Dự phần một bữa ăn trong thời xa xưa tượng trưng cho sự hội hiệp của con người trong mối tương giao yêu thương. Những người tin Chúa sẽ dùng bữa tối với Đấng Christ tại tiệc cưới của Chiên Con (19:9) và trong vương quốc ngàn năm bình an (Lu 22:16, 29-30). Bữa tối deipne¯o, đề cập đến bữa ăn tối, bữa ăn cuối cùng trong ngày (đối chiếu Lu 17:8; 22:20; ICo 11:25, ở đây tiếng Hy-lạp là “cơm tối”, “bữa cơn tối” và “dùng cơm tối”). Đức Chúa Jêsus Christ giục giã họ ăn năn và có mối giao thông với Ngài trước khi đêm phán xét giáng xuống và đã quá trễ cho đến đời đời.

MƯU LUẬN

“Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Kh 3:21-22)

Lời hứa tuyệt diệu cho kẻ nào thắng (hết thảy những người tin Chúa, 2:7, 11, 26, 3:5, 12; I Giăng 5:5) ấy là Đấng Christ sẽ cho người ngồi với Ngài trên ngôi Ngài, y như Ngài đã thắng và ngồi với Cha trên ngôi Ngài. Để thưởng thức mối giao thông với Đấng Christ trong vương quốc và suốt cõi đời đời là đủ phước hạnh vượt quá mọi sự hiểu biết. Nhưng Đấng Christ còn hiến cho nhiều hơn thế, Ngài hứa chỗ ngồi cho người tin Chúa trên ngôi Ngài dự phần với Đức Chúa Cha (đối chiếu Mat 19:28, Lu 22:29-30). Điều đó tượng trưng cho lẽ thật cho rằng chúng ta sẽ đồng trị với Ngài (IITi 2:12; Kh 5:10, 20:6; đối chiếu ICo 6:3).

Quyền ngồi với Đấng Christ trên ngôi của Ngài ở trên trời chỉ là một trong nhiều lời hứa được lập cho những kẻ thắng trong các thư tín gửi cho bảy Hội thánh. Những kẻ thắng cũng được hứa cho đặc ân ăn uống từ cây sự sống (2:7), mão triều thiên của sự sống (2:10), bảo vệ khỏi lần chết thứ hai (2:11), ma-na kín giấu (2:17), hòn sỏi trắng với tên mới viết trên đó (2:17), quyền cai trị các nước (2:26-27), ngôi sao mai (2:28), áp trắng, tiêu biểu cho sự thanh sạch và thánh khiết (3:5), vinh dự được Đấng Christ xưng danh trước mặt Đức Chúa Cha và các thiên sứ thánh trên thiên đàng (3:5), được làm cột trụ trong đền của Đức Chúa Trời (3:12) và danh Đức Chúa Trời, và danh của Giê-ru-sa-lem mới, và danh Đấng Christ được viết trên người (3:12).

Giống như sáu thư tín kia, thư tín gửi cho người Lao-đi-xê kết thúc với lời khuyên của Đấng Christ, Ai Có Tai Hãy Nghe Lời Đức Thánh Linh Phán Cùng Các Hội Thánh. Sứ điệp gửi cho Hội thánh bội đạo rất rõ ràng: hãy ăn năn, và mở lòng ra với Đấng Christ trước khi đêm phán xét giáng xuống. Hàm ý cho các tín đồ chân thật là, giống như Đấng Christ, với lòng thương xót chúng ta phải kêu gọi những người trong Hội thánh bội đạo phải ăn năn và nhận lãnh ơn cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu Giu 1:23).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme