Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

11 – Chuyến Đi Lên Trời (Kh 4:1-11)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

“Kế đó, tôi nhìn xem, nầy, một cái cửa mở ra trên trời; và tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe nói với tôi, vang rầm như tiếng loa, phán cùng tôi rằng: Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến. Tức thì tôi bị Thánh Linh cảm hóa; thấy một ngôi đặt tại trên trời, trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó. Đấng ngồi đó rực rỡ như bích ngọc và mã não; có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi. Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng. Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: đó là bảy vì thần của Đức Chúa Trời. Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt. Con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay. Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt; ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến! Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời, thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên” (Kh 4:1-11)

Có một sự ham thích chưa từng có trong thời buổi nầy về đời sau giữa vòng Cơ đốc nhân và những ai không phải là Cơ đốc nhân. Các quyển sách nói về các kinh nghiệm sau – hay gần — chết và về các thiên sứ đứng đầu danh sách bán chạy nhất. Các chương trình truyền hình khám phá lãnh vực kín nhiệm về cõi siêu nhiên, thường nhắm vào các thiên sứ và những điều họ làm với con người. phần nhiều người, cả những người xưng mình là Cơ đốc nhân và những người không phải là Cơ đốc nhân, đều xưng mình đã đến viếng thiên đàng rồi quay trở lại để thuật lại về những trải nghiệm của họ.

Ngược lại với những sự huyền ảo, kỳ quái, thường ngớ ngẩn của những người dám xưng mình đã viếng qua thiên đàng (mà tôi đã chỉ trích trong các quyển sách của tôi Charismatic Chaos [Grand Rapids: Zondervan, 1992] và The Glory of Heaven [Wheaton, Ill .: Crossway, 1996]), Kinh Thánh ghi lại những câu chuyện nói tới hai người thực sự đã được đưa đến đó trong các sự hiện thấy. Trong II Côrinhtô 12, sứ đồ Phao-lô viết về việc được đưa đến tầng trời thứ ba (nơi ngự của Đức Chúa Trời). Nhưng ông đã bị cấm không được nói về những gì ông nhìn thấy ở đó (IICo 12:4).

Sứ đồ Giăng cũng có đặc ân vô giá khi viếng qua thiên đàng. Không giống như Phaolô, Giăng đã được phép cung ứng phần mô tả chi tiết về sự mặc thị của ông, mà ông đã làm trong các chương 4 và 5 của sách Khải huyền. Trong hai chương đó, Giăng ghi lại sự mặc thị thứ nhì mà ông đã xem thấy, mặc thị thứ nhứt là sự hiện thấy của ông về Đức Chúa Jêsus Christ đã được tôn vinh hiển ở 1:12-17. Kinh thánh đề cập đến thiên đàng hơn năm trăm lần, và những người khác, như Phao-lô (II Côrinhtô 12) và Ê-xê-chi-ên (Ê-xê-chi-ên 1), đã ghi ra các phần mô tả về thiên đàng. Tuy nhiên, phần mô tả của Giăng ở các chương 4 và 5 là trọn vẹn và đầy đủ thông tin trong cả Kinh thánh. Được hỗ trợ bởi vị sứ đồ yêu dấu, độc giả có được những đặc điểm vượt trội của lãnh vực đời nầy, nắm bắt được những thực tại nói tới thiên đàng đời đời. Qua sự mặc thị của Giăng, các tín đồ có đặc quyền xem trước chỗ mà họ sẽ sống cho đến đời đời.

Sự xuất hiện lần đầu tiên của cụm từ kế đó (câu 1) liên quan đến trình tự riêng của Giăng. Cần phải lưu ý rằng sự mặc thị thứ nhì này nối theo liền sau sự mặc thị của Giăng về Đấng Christ phục sinh, được tôn vinh hiển (1:9-20) và các thư tín gửi cho bảy Hội thánh (2:1-3:22). Cụm từ kế đó được sử dụng khắp sách Khải huyền để đánh dấu phần bắt đầu của một sự hiện thấy mới (đối chiếu 7:9; 15:5; 18:1; 19:1).

Sự xuất hiện lần thứ hai kế đó liên quan đến niên đại của Đức Chúa Trời. Cách sử dụng cụm từ nầy đánh dấu một sự chuyển đổi quan trọng của sách Khải huyền từ kỷ nguyên Hội thánh (“những việc nay hiện có”, 1:19), được mô tả trong các chương 2-3, đến phân đoạn lớn thứ ba của quyển sách (“những việc sau sẽ đến”, 1:19), được tìm thấy trong chương 4-22. Bối cảnh chuyển từ các vấn đề liên quan đến Hội thánh (những điều không có chỗ nào nhắc tới trong các chương 4-19) trên đất đến một bối cảnh đầy kịch tính ở trên trời. Bối cảnh đó tập trung vào ngai Đức Chúa Trời và hình thành phần khai mào cho các biến cố lịch sử trong tương lai (cơn đại nạn, vương quốc thiên hi niên và trạng thái đời đời) được mở ra ở các chương 6-22. Trong việc giữ lấy lời hứa của Chúa buông tha Hội thánh của Ngài khỏi giờ thử thách (sự đổ ra cơn thạnh nộ trước khi Chúa tái lâm) được ban ra ở 3:10, Hội thánh sẽ được cất lên trước thời kỳ của cơn đại nạn (được mô tả chi tiết ở các chương 6-19) bắt đầu.

Như Giăng đã nhìn xem, với sự kinh ngạc của ông (được chỉ ra bởi tiếng la lên nầy), ông đã thấy một cái cửa mở ra trên trời (đối chiếu Exe1:1; Cong 7:56). Cái cửa đã mở ra rồi công nhận Giăng bước vào tầng trời thứ ba (đối chiếu IICo 12:2; hữu thể thứ nhứt bầu khí quyền trái đất và khoảng không gian thứ nhì liên hành tinh và giữa các vì sao) — đến chính gian phòng của Đức Chúa Trời. Đó là tầng trời mà Đấng Christ đã thăng thiên về đó sau khi Ngài phục sinh và từ đó Ngài đã ngự ở bên hữu Đức Chúa Trời (Gi 14:2-3; Cong 1:9-11; 3:20-21; 7:55-56; Ro 10:6; Co 3:1; ITe 4:16). Thiên đàng trở thành điểm nhấn của Giăng trong hầu hết phần còn lại của sách Khải Huyền.

Sau khi xem thấy cánh cửa mở, tiếng thứ nhất mà Giăng đã nghe được là giọng nói quen thuộc giống như tiếng loa đã nói với ông trong sự mặc thị thứ nhứt của ông (1:10). Như đã lưu ý trong phần bàn bạc phân đoạn ở chương 3 của loạt bài nầy, đây là tiếng của Đức Chúa Jêsus Christ đã phục sinh và đã được tôn vinh hiển. Tiếng của Ngài được ví như tiếng loa vì chất lượng chỉ huy, có uy quyền. Đặc biệt Chúa truyền cho Giăng phải lên đây, nghĩa là lên trời. Giăng không bị cuốn vào một ảo tưởng huyền bí, nhưng được chuyển đi về mặt thuộc linh bước vào thực tại của thiên đàng. Có người nhìn thấy trong mạng lịnh này là tham khảo đến sự cất lên của Hội thánh. Tuy nhiên, câu này không mô tả Hội thánh thăng thiên về trời trong sự phục sinh vinh hiển, mà là Giăng lên trời để tiếp nhận sự mặc thị.

Lẽ đạo trung tâm sự mặc thị của Giăng là ngai của Đức Chúa Trời, được nhắc tới mười một lần trong chương này. Mọi đặc điểm của chương có thể được tóm lược chiếu theo cách chúng có liên quan đến ngai vinh hiển thiêng liêng. Sau khi mô tả ngai ấy, Giăng thuật lại cho chúng ta biết ai đang ngự trên ngai, việc gì đang xảy ra ở quanh ngai, điều chi ra từ ngai, điều chi đứng trước ngai, ai đang đứng ở trung tâm và xung quanh ngai, và điều gì hướng về phía ngai.

NGAI

Tức thì tôi bị Thánh Linh cảm hóa; thấy một ngôi đặt tại trên trời, (Kh 4:2a)

Hầu hết nhiều người ngày nay, họ xưng mình có những sự hiện thấy về thiên đàng có khuynh hướng thường nhấn mạnh đến sự tầm thường và kỳ quái. Nhưng sự hiện thấy của Giăng tập trung vào ngai vinh hiển của Đức Chúa Trời và sự oai nghi không thể nói xiết của Đấng đang ngự trên ngai đó. Khi ông được đưa ra khỏi chiều kích của không gian và thời gian quen thuộc rồi đến từng trời có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong quyền phép của Đức Thánh Linh (đối chiếu 1:10), Giăng lấy làm kinh ngạc và sửng sốt bởi những gì ông đã xem thấy, khiến ông phải thốt lên kìa.

Nguyên nhân sự kinh ngạc của Giăng, ấy là ông đã nhìn thấy một ngôi đặt tại trên trời là ngai của Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là mẫu trưng bày đâu, mà là một biểu tượng cho uy quyền tối cao của Đức Chúa Trời (đối chiếu Thi 11:4; 103:19; Es 66:1) đặt trong đền thờ ở trên trời (đối chiếu 7:15; 11:19; 14:15, 17; 15:6–8; 16:17). Theo Kh 21:22 đền thờ trên trời không phải là một toà nhà: “Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng và Chiên Con” là đền thờ. Cách sử dụng thuật ngữ đền thờ tiêu biểu cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ngài được nói tới là đặt, vì sự tễ trị tối cao của Đức Chúa Trời là ổn định, thường trực, và bất di dịch. Một sự hiện thấy về ngai bất động của Đức Chúa Trời tỏ ra Ngài đang nắm lấy quyền cai trị vũ trụ thường trực, không thay đổi và trọn vẹn. Đấy là sự nhận biết đầy khích lệ theo ánh sáng của các biến cố kinh khiếp của kỳ tận thế sắp sửa được bày ra (các chương 6–19). Đồng thời, Êsai đã được yên ủi trong suốt thời kỳ khủng khiếp trong lịch sử Israel do ông nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Êsai 6).

NGỒI TRÊN NGAI

trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó. Đấng ngồi đó rực rỡ như bích ngọc và mã não; (Kh 4:2b-3a)

Các thế lực bất thường, đần độn, không chủ đích của cơ hội ngẫu nhiên, như nhiều người tin theo cách dại dột, không cai quản vũ trụ đâu. Thay vì thế, Đấng Tạo Hóa Chí Cao, Toàn Năng đang ngồi trên Ngai của Ngài trong vai trò Đấng Tễ Trị của nó. Không như cách sử dụng trong tiếng Hy-bá-lai (đối chiếu He 1:3; 10:12; 12:2), ở đó nó mô tả thái độ yên nghỉ của Đấng Christ, từ ngữ ngồi ở đây chỉ ra tư thế đang tễ trị. Tư tưởng không phải là yên nghỉ vì công tác cứu chuộc đã được hoàn thành, nhưng đang trị vì vì sự phán xét sắp sửa diễn ra.

Mặc dù Giăng không nói tới danh của Đấng đang ngồi trên ngai, Ngài là ai thì rất là rõ ràng. Ngài là Đấng mà Êsai đã nhìn thấy trong sự hiện thấy của ông: “Tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ” (Es 6:1). Tiên tri Michê cũng đã nhìn thấy Ngài ngồi trên ngai vinh hiển của Ngài: “Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài và cả cơ binh trên trời đứng chầu Ngài bên hữu và bên tả” (IVua 22:19). Tác giả Thi thiên tuyên bố: “Đức Chúa Trời cai trị các nước, Đức Chúa Trời ngự ngôi thánh Ngài” (Thi 47:8). Đaniên cũng đã nhìn thấy một mặc thị nói tới phòng có ngai ở trên trời:

“Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng Cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng. Trước mặt Ngài, một sông lửa chảy ra và tràn lan; ngàn ngàn hầu hạ Ngài và muôn muôn đứng trước mặt Ngài. Sự xét đoán đã sắm sẵn, và các sách mở ra” (Da 7:9-10)

Nhưng có lẽ cái nhìn chi tiết nhất vào Đức Chúa Trời đang ngự trên ngôi của Ngài trên trời ngoài sách Khải huyền đã được cung ứng cho bởi Ê-xê-chi-ên:

“Bên trên vòng khung giãi trên đầu các vật sống, có hình như cái ngai, trạng nó như là bích ngọc; trên hình ngai ấy có hình như người ở trên nó. Trong ngai và mọi nơi chung quanh, ta cũng thấy như đồng bóng nhoáng, giống lửa, từ trạng ngang lưng người ấy trở lên; và từ trạng ngang lưng trở xuống, ta thấy như lửa sáng hừng chung quanh. Ánh sáng thấy chung quanh đó giống như ánh sáng của cái mống trong mây khi đang mưa. Ấy là tỏ ra hình trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va. Ta thấy thì sấp mặt xuống, và nghe tiếng của một Đấng phán cùng ta” (Exe 1:26-28).

Trong sự đối chiếu sâu sát với các câu chuyện tự nhiên, xấc xược, kiêu căng, hầu hết là phạm thượng của những kẻ ngày nay dám xưng mình có những sự hiện thấy về Đức Chúa Trời, Êsai (Es 6:5), Ê-xê-chi-ên (Exe 1:28), và Đaniên (Da 7:15) đều lấy làm kinh khủng và hạ mình xuống bởi các sự hiện thấy của họ.

Giăng mô tả Đấng đang ngồi trên ngôi rực rỡ như bích ngọc và mã não ở bề ngoài. Sự mô tả ấy gợi nhớ lại sấm chớp loé sáng, lửa cháy rực lên và đủ thứ màu sắc sống động trong sự hiện thấy của Ê-xê-chi-ên. Kh 21:11 mô tả bích ngọc là “tinh thể trong suốt”; vì vậy, xác định loại đá này như một viên kim cương là đúng nhất. Mọi góc cạnh sáng lấp lánh sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được sánh với một viên kim cương, chói lọi phản chiếu những màu sắc của quang phổ. Mã não, từ đó thành phố Sạt-đe có tên đó, là một loại ngọc màu đỏ bốc lửa. Nó cũng thể hiện vẻ đẹp sáng láng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và cũng có thể tượng trưng cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, sắp sửa đổ ra giáng trên thế gian loạn nghịch, tội lỗi (các chương 6-19).

Có thêm một biểu tượng nữa trong việc lựa chọn hai loại đá này. Bích ngọc và mã não là loại đá đầu tiên và cuối cùng trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm (Xu 28:17-20, “mã não”, “bích ngọc”), tượng trưng cho con đầu lòng (Ru-bên) và con út (Bên-gia-min) của Gia-cốp.

Có thể là các loại đá ấy mô tả mối quan hệ giao ước của Đức Chúa Trời với Israel; cơn thạnh nộ và sự phán xét của Ngài sẽ không làm tiêu trừ mối quan hệ đó. Thực vậy, chính trong kỳ Đại Nạn, qua mọi nỗ lực sốt sắng truyền giáo của 144.000 người (Kh 7:3…), “cả dân Israel sẽ được cứu”(Ro 11:26). Cũng có thể là tên của Ru-bên (“kìa, một đứa trai”) và Bên-gia-min (“con trai của tay hữu ta”) phác hoạ Con của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jêsus Christ, đang ngồi bên tay hữu của Đức Chúa Trời trong sự vinh hiển.

Sự mặc thị của Giăng về ngai của Đức Chúa Trời không phải là một sự mặc thị nói tới sự bình an và yên ủi đâu. Sự oai nghi, chớp nháng, vinh hiển của nó tỏ ra những sự kinh khiếp trong cơn phán xét của Đức Chúa Trời. Thực sự: “Đức Chúa Trời của chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:29; đối chiếu Phu 4:24).

CHUNG QUANH NGAI

có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi. Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng. (Kh 4:3b-4)

Ngoài phần mô tả của ông về ngai, ông mô tả những gì hiện có ở xung quanh ngôi ấy, Giăng lưu ý trước tiên những gì có ở chung quanh ngôi đó có cái mống bao chung quanh ngôi. Giăng mô tả cái mống đó giống như lục bửu thạch cho thấy rằng màu lục là màu chính. Cái mống nầy một lần nữa được giới thiệu tỏ ra sự vinh hiển nhiều sắc màu rực rỡ của Đức Chúa Trời (đối chiếu Exe 1:28). Cái mống cung ứng một sự cân đối khích lệ với những chớp nháng dữ dội của sự phán xét được xem trước phát ra từ ngoai của Đức Chúa Trời. Theo Sa 9:13-17, cái mống tượng trưng cho giao ước, sự thành tín, ơn thương xót, và ân điển của Đức Chúa Trời. Các thuộc tánh của Đức Chúa Trời luôn luôn tác động với một sự hài hoà trọn vẹn. Cơn thạnh nộ của Ngài không hề tác động với phí tổn sự thành tín của Ngài; các sự phán xét của Ngài không bao giờ dứt bỏ các lời hứa của Ngài. Quyền phép và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời sẽ khiến cho chúng ta phải sống trong sự kinh hãi khốn khổ nếu không có sự thành tín và ơn thương xót của Ngài. Đức Chúa Trời đã phán về dân sót trung tín của Israel, họ e sợ bị quét sạch trong sự phán xét của Ngài đối với xứ sở: “Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình” (Ma 3:17).

Giăng cũng đã nhìn thấy ở chung quanh ngai hai mươi bốn ngôi ;trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng. Lai lịch của hai mươi bốn trưởng lão đã bị tranh cãi nhiều. Trong khi có người xem họ là một thứ bậc các hữu thể thuộc hàng thiên sứ, dường như tốt nhứt là xem họ là các đại biểu con người trong Hội thánh. Một vài hàng chứng cớ chỉ ra phần kết luận đó.

Thứ nhứt, phần tham khảo đến hai mươi bốn ngôi, ngồi trên đó là hai mươi bốn trưởng lão chỉ ra rằng họ đang trị vì cùng với Đấng Christ. Không một chỗ nào trong Kinh Thánh nói các thiên sứ đang ngồi trên ngôi, họ cũng không được phác hoạ là đang cai trị hay trị vì.

Vai trò của họ khi phục vụ là “thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao” (He 1:14; đối chiếu Mat18:10). Mặt khác, Hội thánh đã được hứa cho là sẽ đồng trị với Đấng Christ (2:26–27; 3:21; 5:10; 20:4; Mat 19:28; Lu 22:30; ICo 6:2–3; IITi 2:12).

Presbuteroi (trưởng lão) chưa hề được sử dụng trong Kinh Thánh đề cập đến hàng thiên sứ, mà luôn luôn đề cập đến con người. Từ nầy thường nói tới những người lớn tuổi nói chung, và các bậc cầm quyền của cả hai: Israel và Hội thánh. Chẳng có một sự tranh cãi nào khi sử dụng presbuteroi ngoài sách Khải huyền đề cập đến hàng thiên sứ. (Có người tin rằng “trưởng lão” trong Es 24:23 đề cập đến hàng thiên sứ, nhưng nó cũng đề cập đến con người). Thêm nữa, “trưởng lão” không phải là từ ngữ thích hợp để mô tả hang thiên sứ, họ chẳng có tuổi.

Trong khi các thiên sứ xuất hiện trong màu trắng (thí dụ, Gi 20:12; Cong 1:10), áo trắng thường là áo của người tin Chúa. Đặc biệt, đó là sự thực trong văn mạch của sách Khải huyền. Đấng Christ hứa với các tín đồ tại thành Sạt-đe rằng họ sẽ “được mặc áo trắng” (3:5). Ngài khuyên người thành Lao-đi-xê bội đạo nên “mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào” (3:18). Ở tiệc cưới Chiên Con, Cô Dâu của Ngài sẽ “mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn” (19:8). Áo trắng tiêu biểu cho sự công bình của Đấng Christ được gán cho người tin Chúa khi được cứu.

Các vị trưởng lão đội mão triều thiên vàng trên đầu cung ứng thêm bằng chứng cho thấy rằng họ là những con người. Các thứ mão triều thiên chưa hề được hứa trong Kinh Thánh cho hàng thiên sứ, các thiên sứ cũng chưa ai thấy họ đội mão triều thiên bao giờ. Stephanos (mão triều thiên) là mão của người chiến thắng, những kẻ chịu đựng nổi thử thách, những người nào đua tranh và đạt được chiến thắng. Đấng Christ đã hứa một mão triều thiên như thế cho các tín hữu trung thành ở Si-miệc-nơ: “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống” (2:10). Phaolô viết: “Hết thảy những người đua tranh, tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ, họ chịu vậy để được mão triều thiên hay hư nát [stephanos]. Nhưng chúng ta chịu vậy để được mão triều thiên không hay hư nát” (ICo 9:25). Ông viết về mão triều thiên không hay hư nát đó một lần nữa ở IITi 4:8: “Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài”. Giacơ đã viết về “mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài” (Gia1:12), và Phierơ viết về “mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo” (IPhi 5:4).

Các thiên sứ thánh về mặt cá nhân không đua tranh với và thắng hơn tội lỗi; vì vậy, mão triều thiên của người nào thắng, mão triều thiên của những ai thành công chạy cuộc đua rồi về đích đắc thắng, sẽ không thích ứng dành cho họ.

Như vậy, giả sử rằng, hai mươi bốn trưởng lão đều là con người, thắc mắc vẫn là con người nào mà họ đại diện cho ở đây!?! Thứ nhất, cần phải để ý rằng con số 24 được sử dụng trong Kinh Thánh để nói tới sự trọn vẹn và sự tượng trưng. Có hai mươi bốn chức sắc của nơi thánh tiêu biểu cho 24 dòng thầy tế lể thuộc họ Lê-vi (ISu 24:4-5, 7-18), cũng như 24 ban hát trong đền thờ (I Sử ký 25). Dù hai mươi bốn trưởng lão có là ai đi nữa, khi ấy, họ tiêu biểu cho một nhóm đông người hơn.

Có người tin rằng các trưởng lão tiêu biểu cho Israel. Nhưng trong khi các cá nhân Do-thái đã và sẽ tiếp tục được cứu chuộc xuyên suốt lịch sử, vào thời điểm của sự hiện thấy này, dân tộc là một tổng thể vẫn chưa được cứu chuộc. Sự phán xét và cứu rỗi dân tộc của họ (Ro 11:26) xảy ra trong suốt Kỳ Đại Nạn (các chương 6-19), phần lớn là kết quả của mọi nỗ lực truyền giáo của 144.000 người (được giới thiệu ở chương 7). Khi hai mươi bốn trưởng lão được giới thiệu lần thứ nhứt, các sự kiện này vẫn chưa diễn ra.

Tương tự, các trưởng lão không thể là các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, một khi họ vẫn chưa trở lại đạo. Các trưởng lão có mặt rồi trên trời khi các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn về đến. Kh 7:11-14 mô tả bối cảnh:

“Vả, hết thảy thiên sứ đứng vòng chung quanh ngôi và chung quanh các trưởng lão cùng bốn con sanh vật, sấp mặt xuống trước ngôi, và thờ lạy Đức Chúa Trời, mà rằng: A-men! Sự ngợi khen, vinh hiển, khôn ngoan, chúc tạ, tôn quí, quyền phép và sức mạnh đều về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng! A-men. Bấy giờ một trưởng lão cất tiếng nói với tôi rằng: những kẻ mặt áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến? Tôi thưa rằng: Lạy chúa, chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng: Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con”.

Các trưởng lão cũng được thấy ở trên trời khi các biến động khác của Kỳ Đại Nạn diễn ra, tỉ như khi các nước trần gian trở thành Vương quốc của Đấng Christ (11:15-18), khi 144.000 người nhóm lại trên Núi Si-ôn (14:1-3), và khi Đức Chúa Trời huỷ diệt hệ thống kinh tế và tôn giáo của người Ba-by-lôn (19:1-4).

Có người phân hai mươi bốn trưởng lão ra thành hai nhóm, mỗi nhóm 12 người, nhóm nầy tiêu biểu cho Hội thánh và nhóm kia tiêu biểu cho Israel. Tuy nhiên, chẳng có lý do thuyết phục nào khi chú giải như thế trong việc phân tách họ ra thể ấy. Với dáng dấp của họ trong sách Khải huyền, họ xuất hiện như một nhóm thống nhất 24 người, chớ không hề là 2 nhóm 12 người bao giờ.

Như vậy, không phù hợp khi cho hai mươi bốn trưởng lão đều là thiên sứ, hoặc cho là họ tiêu biểu cho Israel, các thánh đồ trong Kỳ Đại Nạn, hay một sự kết hợp của Israel và Hội thánh. Chỉ còn có một lý do khả thi có thể chấp nhận được, ấy là họ tiêu biểu cho Hội thánh đã được cất lên, đã được tôn vinh hiển, đã đăng quang, họ hát lên bài ca cứu chuộc (5:8-10). Họ có mão triều thiên của họ và đang sống trong chỗ đã được sắm sẵn cho họ, họ đã đi ở với Chúa Jêsus tại đó (đối chiếu Gi 14:1-4).

TỪ NGÔI RA

Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; (Kh 4:5a)

Tuôn tràn ra từ sự hiện diện của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bằng ngai, Giăng nhìn thấy một nhân vật đi trước đám cháy cơn thạnh nộ thiêng liêng sắp sửa nổ ra giáng trên thế gian tội lỗi. Chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm được kết hợp với sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong Xu 19:16 và Exe 1:13. Chúng cũng được kết hợp với sự phán xét của Đức Chúa Trời trong Kỳ Đại Nạn. Trong Kh 8: 5: “Thiên sứ lấy lư hương, dùng lửa nơi bàn thờ bỏ đầy vào, rồi quăng xuống đất; liền có sấm sét, các tiếng, chớp nhoáng và đất động”. Trong Kh 11:19: “Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn”. Khi vị thiên sứ thứ bảy đổ bát mình ra liền có “chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang” (6:18. Giăng nhìn xem trước cơn thạnh nộ thiêng liêng sẽ được đổ ra trên trái đất, được mô tả trong các chương 6-19.

TRƯỚC NGÔI

và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: đó là bảy vì thần của Đức Chúa Trời. Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, (Kh 4:5b-6a)

Khi ông nhìn xem bối cảnh trên trời, Giăng nhìn thấy hai thứ trước ngôi. Thứ nhứt là bảy ngọn đèn sáng rực. Không giống như các chân đèn được nhắc tới ở 1:12-13, đây là những ngọn đuốc đặt ngoài trời, không cung ứng thứ ánh sáng mềm mại, nhẹ nhàng của ngọn đèn đặt ở trong nhà, mà là một ngọn đuốc sáng rực. Giăng xác định chúng là bảy vì thần của Đức Chúa Trời. Như đã lưu ý trong phần bàn luận 1:4 trong chương 1 của sách nầy, cụm từ đó mô tả Đức Thánh Linh trong mọi sự đầy dẫy của Ngài (đối chiếu Es 11:2; Xa 4:1-10). Sự tiêu biểu bảy lần của Đức Thánh Linh trong Ê-sai nói tới sự khôn ngoan, hiểu biết, mưu luận, sức mạnh, tri ​​thức, sự tôn trọng, và thần tánh; trong Xa-cha-ri nói tới quyền năng; trong Kh 1:4 nói tới ân điển và sự bình an; và ở đây là sự xét đoán dữ dội. Những ngọn đuốc được kết hiệp với chiến tranh trong Cac 7:16, 20 và Na 2:3-4. Sự hiện thấy của Giăng mô tả Đức Chúa Trời đang sẵn sàng lâm chiến vì nhân loại tội lỗi, loạn nghịch và Đức Thánh Linh là ngọn đuốc chiến tranh của Ngài. Đấng Yên Ủi của những ai kính mến Đấng Christ sẽ là Đấng Thiêu Đốt những kẻ nào chối bỏ Ngài.

Cũng ở phía trước ngai của Đức Chúa Trời có như biển trong ngần giống thủy tinh. Biển ấy có tính cách ẩn dụ, một khi chẳng có biển nào ở trên trời cả (21:1). Những gì Giăng thấy dưới bệ ngai là một mặt đường rộng lớn, sáng rực như thuỷ tinh lấp lánh. Xuất Êdíptô ký 24:10 ghi lại một bối cảnh tương tự khi Môi-se, A-rôn và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên “ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có một vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh-quang“ (đối chiếu Exe 1:22, 26). Thiên đàng không phải là một thế giới đầy bóng sương mù và những hiện thân không rõ ràng. Đó là một thế giới rực rỡ sáng láng, khúc xạ và chiếu sáng xuyên qua các đồ trang sức và thuỷ tinh trong một tư thế trỗi hơn khả năng mô tả và suy tưởng của chúng ta (Kh 21:10-11, 18).

TRONG VÀ QUANH NGÔI

còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt. Con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay. Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt (Kh 4:6b-8a)

Phân đoạn Kinh Thánh này giới thiệu bốn con sanh vật, chúng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong những biến cố được mặc khải trong sách Khải huyền. Chúng được nhắc tới ở cả hai nơi: chính giữa và xung quanh ngai, ý nói vị trí của chúng nằm ở vòng trong gần ngai. Phân đoạn Kinh Thánh tương tự ở Exe 1:12, 17 gợi ý chúng liên tục tự chuyển động. Phần phiên dịch sanh vật là chỗ dễ gây hiểu nhầm, một khi đây chẳng phải là động vật. Cụm từ này rút ra từ một chữ duy nhất trong bản văn Hy-lạp, dạng danh từ của động từ za¯o, nghĩa là “sống”.

Ê-xê-chi-ên cung ứng một phần mô tả chi tiết các vật sống nầy và về sự oai nghi vinh hiển của thiên đàng và ngai của Đức Chúa Trời:

Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa. Từ giữa nó, thấy giống như bốn vật sống, hình trạng như vầy: bộ giống người, mỗi con có bốn mặt và bốn cánh. Chân nó thẳng, bàn chân như bàn chân bò con đực; sáng ngời như đồng bóng nhoáng. Dưới những cánh nó, bốn bên đều có tay người; bốn con có mặt và có cánh mình như sau nầy: cánh tiếp giáp nhau khi đi, không xây lại, mỗi con cứ đi thẳng tới. Còn như hình mặt nó, thì bốn con đều có mặt người; bốn con đều có mặt sư tử ở bên hữu; bốn con đều có mặt bò ở bên tả; và bốn con đều có mặt chim ưng. Những mặt và cánh phân rẽ ra bởi trên cao; mỗi con có hai cánh giáp với nhau, và có hai cánh che thân mình. Mỗi con đi thẳng tới: thần khiến đi đâu thì đi đó, không xây mình lại trong khi đi. Hình trạng của những vật sống ấy giống như hình trạng than đỏ và đuốc lửa; lửa lên xuống giữa các vật sống ấy, lửa nhoáng sáng và có chớp từ nó phát ra. Các vật sống ấy chạy đi và trở lại như hình trạng chớp nhoáng.

Vả, đang khi ta ngắm xem các vật sống ấy, nầy, trên đất có một cái bánh xe ở kề bên các vật sống ấy, mỗi một trong bốn mặt đều có một bánh xe. Hình và kiểu những bánh xe ấy giống như bích ngọc; hết thảy bốn bánh đều giống nhau; hình và kiểu như là bánh xe trong bánh xe. Khi đi tới, thì đều đi bốn phía mình: khi đi không phải xây lại. Vòng bánh xe cao và dễ sợ; và vòng bánh xe của bốn con đều đầy những mắt. Khi các vật sống đi, các bánh xe cũng đi kề bên; các vật sống bị cất lên khỏi đất, các bánh xe cũng bị cất lên như vậy. Thần muốn đi đâu thì các vật sống đi đó; thần đi đó thì các bánh xe cũng bị cất lên kề bên các vật sống; vì thần của vật sống đó ở trong các bánh xe.

Khi các vật sống đi, chúng nó cũng đi; dừng, chúng nó cũng dừng; và khi các vật sống bị cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cũng bị cất lên kề bên, vì thần của vật sống ở trong các bánh xe. Ở trên đầu vật sống, thấy một vòng khung, giống như thủy tinh dễ sợ, giãi ra trên đầu chúng nó. Dưới vòng khung đó, các cánh nó sè thẳng ra, cái nầy đối với cái kia. Các vật ấy mỗi con có hai cánh che thân thể mình ở bên nầy và bên kia. Khi đi tới, ta nghe tiếng của những cánh chúng nó, như nước lớn ầm ầm, như tiếng của Đấng Toàn năng, tiếng om sòm như tiếng một đạo binh vậy. Khi dừng lại, thì xủ cánh xuống. Lúc chúng nó dừng lại và xủ cánh xuống, thì từ nơi vòng khung trên đầu có tiếng vang ra (Exe 1:4-25).

Phần mô tả của Ê-xê-chi-ên tỏ ra khó hiểu, gần như không mạch lạc, khi ông cố gắng muốn bày tỏ bối cảnh ngoạn mục, siêu phàm mà ông đã chứng kiến. Cả hai phần mô tả của Ê-xê-chi-ên và phần mô tả trong Khải huyền 4 mô tả thứ có thể được gọi là cổ máy chiến tranh thiêng liêng sẵn sàng để mở ra sự phán xét.

Exe 10:15 đặc biệt xác định cụ thể bốn con sanh vật này: “Đoạn, các chê-ru-bin dấy lên: ấy là vật sống mà ta thấy trên bờ sông Kê-ba“. Bốn con sanh vật đó là chê-ru-bin, một đẳng cấp các thiên sứ cao quý được kết hiệp trong Kinh thánh với quyền phép thánh của Đức Chúa Trời (thí dụ ISa 4:4; IISa 6:2; 22:11; Thi 80:1; 99:1; Es 37:16). Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, Đức Chúa Trời đã đuổi họ ra khỏi vườn Ê-đen và đặt chê-ru-bin tại nơi lối vào để giữ họ không quay trở lại (Sa 3:24). Hai chê-ru-bin chạm khắc được đặt trong Nơi Chí Thánh, về mặt biểu tượng canh giữ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (IVua 6:23-28). Sa-tan, trước khi hắn sa ngã, là “một chê-ru-bin được xức dầu đang che phủ“; bổn phận của hắn là nhóm lại tại ngai của Đức Chúa Trời (Exe 28:14, đối chiếu câu 16).

Giăng, giống như Êxêchiên, đã tìm cách nắm bắt thực tại bằng các thuật ngữ dễ hiểu để mô tả bối cảnh không thể tả ở trước mặt mình. Thứ nhất, ông nói những con sanh vật đàng trước đàng sau đầy những mắt (câu 8, Exe 1:18; 10:12), tiêu biểu cho ý thức, sự tỉnh táo, và tri thức toàn diện của họ. Mặc dù chúng không phải là sự toàn tri, không một điều gì liên quan đến bổn phận của chúng thoát khỏi sự giám sát của chúng.

Phần mô tả của Ê-xê-chi-ên về các thiên sứ nầy lưu ý rằng từng con sanh vật đều có đủ bốn mặt (Exe1:6). Nhưng từ điểm thuận lợi của Giăng, con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay. Các phần mô tả đó xem bốn chê-ru-bin trong mối quan hệ với thế giới được dựng nên; sư tử tiêu biểu cho các tạo vật hoang dã, bò đực tiêu biểu cho loài gia súc, chim phụng hoàng là loài tạo vật hay bay, và con người đỉnh cao của sự sáng tạo.

Về mặt biểu tượng, sư tử tiêu biểu cho sức mạnh, bò đực tiêu biểu cho sự phục vụ, con người tiêu biểu cho lý do, và chim phụng hoàng tiêu biểu cho tốc độ. Kinh Talmud nhìn thấy trong bốn con sanh vật nầy bốn hình thức chính về sự sống trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Kinh Talmud cũng lưu ý rằng mười hai chi phái của Israel đã đóng trại dưới bốn ngọn cờ nầy; một số với Ru-bên (được tiêu biểu bởi một người), các chi phái khác với Đan (được tiêu biểu bởi chim phụng hoàng), các chi phái khác với Ép-ra-im (được tiêu biểu bởi bò đực), và phần còn lại với chi phái Giu-đa (được tiêu biểu bởi sư tử).

Bốn con sanh vật, nói chung giống như các thiên sứ (Mat 13:40-43, 49; 25:31…; Kh 15:1, 7), đều có dính dáng sâu sắc với những sự phán xét hầu đến trong Kỳ Đại Nạn, trong đó chúng sẽ đóng một vai trò toàn bộ. Chúng sẽ có mặt ở đó ở phần đầu những sự phán xét thiêng liêng giống như một trong số chúng kêu đòi người cưỡi con ngựa bạch (6:1-2). Một chê-ru-bin khác sẽ quyết định thảm họa kinh tế giáng trên đất (6:6), trong khi chê-ru-bin khác sẽ để cho bảy thiên sứ tham gia vào các sự phán xét bằng cái bát của họ (15:7).

Sáu cánh của chúng cho thấy trách nhiệm và đặc ân lớn lao của chúng là phải thường xuyên thờ lạy Đức Chúa Trời. Từ sự hiện thấy của Êsai, chúng ta học biết rằng sê-ra-phin (có lẽ là cùng hữu thể giống như chê-ru-bin) đã sử dụng sáu cánh của chúng trong tư thế như sau: “hai cái che mặt, hai cái che chân và hai cái dùng để bay”(Es 6:2). Bốn trong sáu cánh của chúng có liên quan đến sự thờ phượng; với hai cánh chúng che mặt lại, một khi ngay cả các tạo vật được tôn kính nhất không thể nhìn xem sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà không bị thiêu đốt. Chúng cũng sử dụng hai cánh để che chân, một khi chúng đứng trên đất thánh. Thờ phượng nhơn đó là đặc ân, ơn kêu gọi, và là công tác thường trực.

ĐỐI VỚI NGAI

“ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến! Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời, thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên” (Kh 4:8b-11)

Thật là thích hợp, bối cảnh trên trời lên đến đỉnh điểm trong sự thờ phượng đối cùng Đức Chúa Trời đang ngồi trên ngai. Trong phân đoạn này và trong chương 5 là năm bài thánh ca ngợi khen, trong khi ca hát thì kích cỡ của ca đoàn tăng lên dần dần. Những bài ca thánh ngợi khen bắt đầu ở câu 8 với kiểu tứ tấu — bốn con sanh vật sống. Ở câu 10, hai mươi bốn trưởng lão tham gia vào, và ở 5:8, đàn hạc được thêm vào với lời khen ngợi. Phần còn lại các thiên sứ thêm giọng của họ vào ở 5:11. Sau cùng, ở 5:13, các hữu thể được dựng nên trong vũ trụ hiệp cùng ca đoàn ngợi khen Đức Chúa Trời. Sự thờ phượng được dành riêng cho một mình Đức Chúa Trời, một khi vì không có ai trong vũ trụ giống như Ngài. Trong ISu 17:20 Đa-vít cầu nguyện: “Ôi Đức Giê-hô-va, chẳng có ai giống như Ngài, và cứ theo mọi điều lỗ tai chúng tôi đã nghe, ngoài Ngài chẳng có ai là Đức Chúa Trời” (Thi 86:8-10; 89:6-8).

Bài thuyết trình hùng mạnh về lời ca ngợi và thờ phượng này có thể được chia thành hai khổ: bài thánh ca sáng tạo (chương 4) và bài thánh ca cứu chuộc (chương 5). Bài thánh ca của sự sáng tạo, khổ thứ nhất, có thể được chia thành nhiều phần.

Phần âm nhạc hùng hồn ngợi khen và thờ phượng nầy có thể được chia thành hai phần: bài ca nói tới sự sáng tạo (chương 4), và bài ca nói tới sự cứu chuộc (chương 5). Bài ca nói tới sự sáng tạo, phần thứ nhứt, có thể được chia thành vài đoạn.

Bốn con sanh vật khởi sự bài ca thờ phượng bằng cách tập trung vào sự thánh khiết của Đức Chúa Trời: “ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt”: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời”. Sự lặp đi lặp lại ba lần “thánh thay” cũng được thấy có ở Êsai 6:3; sự thánh khiết là thuộc tánh duy nhứt trong các thuộc tánh của Đức Chúa Trời đã được lặp đi lặp lại, một khi thuộc tánh ấy là sự tóm tắt hết mọi sự mà Ngài vốn có. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là sự phân rẽ hoàn toàn và trọn vẹn của Ngài đối với điều ác trong bất kỳ và từng hình thức nào. Ngài là tuyệt đối không vít bởi bất kỳ điều ác, sai lầm, hay làm sai trái nào — không giống như các thiên sứ (có thiên sứ đã phạm tội) hay con người (hết thảy họ đều phạm tội). Trong ISa 2:2, An-ne tuyên bố: “Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va” bởi vì một mình Ngài là “thánh khiết, vinh hiển” (Xu 15:11). Tiên tri Habacúc đã ngợi khen Đức Chúa Trời vì “mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược” (Hab 1:13). Tác giả Thi thiên tuyên bố: “Đức Chúa Trời ngự ngôi thánh Ngài” (Thi 47:8), trong khi Thi 111:9 thêm: “Danh Ngài là thánh, đáng kính sợ”. Trong IPhi 1:16, chính mình Đức Chúa Trời tuyên bố: “Hãy nên thánh, vì ta là thánh”.

Nhưng trong trường hợp nầy, sự ngợi khen dành cho sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đặc biệt được biểu hiện qua sự phán xét. Là thánh, Đức Chúa Trời vốn ghét tội lỗi, và đổ cơn thạnh nộ Ngài ra giáng trên nó. Gióp đã hỏi các mưu sĩ của mình: “Chớ thì sự oai nghi Ngài sẽ chẳng khiến các ngươi bối rối sao?” (Giop 13:11). Sau khi Đức Chúa Trời hành quyết một số người ở Bết-sê-mết vì đã dám nhạo báng Hòm Giao Ước, những kẻ còn sống kia hô lên: “Ai có thể đứng nổi trước mặt Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chí thánh?” (ISa 6:20). Sau khi U-xa phải ngã chết vì chạm đến Hòm Giao Ước: “Trong ngày đó, Đa-vít sợ Đức Giê-hô-va và nói rằng: Hòm của Đức Giê-hô-va sẽ thế nào vào nhà ta được?” (IISa 6:9). Bị phủ lút bởi sự hiện thấy của ông về sự thánh khiết oai nghi của Đức Chúa Trời, Êsai kêu lên: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy” (Es 6:5).

Vì cớ ân điển và ơn thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời kềm chế cơn phán xét rộng khắp giáng trên hết thảy tội nhân, như họ xứng đáng. Nhưng Cơn Đại Nạn trong thì tương lai, cơ hội để được thương xót và ân điển sẽ qua đi, và thế gian tội lỗi, loạn nghịch sẽ cảm thấy sự giận dữ trọn vẹn trong cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Kinh khiếp trong thời điểm ấy đến nỗi hạng tội nhân không chịu ăn năn sẽ nói với: “núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?” (6:16-17).

Không những sự thánh khiết của Đức Chúa Trời khiến cho phải thờ phượng, mà còn quyền phép của Ngài nữa. Trong bài ca ngợi khen, bốn con sanh vật đề cập đến Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng — một tước hiệu bởi đó Đức Chúa Trời xác định chính mình Ngài với Áp-ra-ham (Sa 17:1). Thuật ngữ ấy xác định Đức Chúa Trời là hữu thể mạnh mẽ nhất, quyền lực nhất, hoàn toàn chẳng có một sự yếu đuối nào cả, quyền phép chinh phục và sức lực áp đảo của Ngài chẳng có ai chống cự được. Vì Đức Chúa Trời là Toàn Năng, Ngài có thể chẳng cần phải nỗ lực để làm bất cứ việc gì mà ý chỉ thánh của Ngài sẽ dự định làm (đối chiếu Es 40:28). Ở giữa những thử thách, Gióp khẳng định: “Nếu luận về sức lực, kìa, Ngài vốn quyền năng!” (Giop 9:19). Tác giả Thi thiên tuyên bố: “Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên các từng trời; Phàm điều gì vừa ý Ngài, thì Ngài đã làm” (Thi 115:3). Trong Es 46:10, Đức Chúa Trời phán: “Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý”. Sau khi kinh nghiệm sự phán xét mang lại sự tàn phá và sĩ nhục của Đức Chúa Trời, Vua Nê-bu-cát-nết-sa công nhận: “Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?” (Da 4:35). Chúa Jêsus dạy rằng “Đức Chúa Trời làm mọi việc đều được” (Mat 19:26).

Quyền phép của Đức Chúa Trời được thấy rõ trong sự sáng tạo. Thi thiên 33:9 chép: “Vì Ngài phán, thì việc liền có; Ngài biểu, thì vật bèn đứng vững bền”. Sau khi dựng nên vũ trụ, Đức Chúa Trời cũng nắm quyền điều khiển nó. Trong ISu 29:11-12, David tuyên bố:

“Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật. Hoặc sự giàu có, hoặc sự vinh quang, đều do Chúa mà đến, và Chúa quản trị trên muôn vật; quyền năng và thế lực ở nơi tay Chúa; tay Chúa khiến cho được tôn trọng và ban sức mạnh cho mọi người”.

Cụm từ “Ngài có quyền” tỏ ra quyền phép của Đức Chúa Trời đối với con cái được chọn, được cứu chuộc của Ngài. Trong Eph 3:20 Phaolô ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài “bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng” , ông nói thêm trong IICo 9:8: “Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành”. Phaolô viết cho Timôthê bày tỏ thái độ tin cậy của ông nơi quyền phép của Đức Chúa Trời đang tác động vì ích cho ông: “vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó” (IITi 1:12). He 2:18 tỏ ra rằng Đức Chúa Jêsus Christ “có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy” trong khi He 7:25 tái khẳng định với các tín đồ rằng “Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy”. Giuđe kết thúc bức thư ngắn ngủi của ông với lời ngợi khen: “Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được, là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta, bởi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta, được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng thuộc về Ngài từ trước vô cùng và hiện nay cho đến đời đời! A-men” (Giu 1:24-25).

Nhưng giống như trường hợp với sự thánh khiết của Ngài, khía cạnh quyền phép của Đức Chúa Trời trong nhận định ở đây, rõ ràng nhất là quyền phép của Ngài được tỏ ra trong sự phán xét. Thí dụ, Ngài xét đoán Satan và các thiên sứ phạm tội, trục xuất họ ra khỏi thiên đàng; nhận chìm thế gian trong Nước Lụt; hủy diệt Sô-đôm, Gô-mô-rơ, và các thành của đồng bằng; nhấn chìm đạo quân của Pha-ra-ôn; và tan rải vị vua quyền lực nhất trên thế gian, là Nê-bu-cát-nết-sa, buộc người phải ăn cỏ như một con vật trong bảy năm. Nhiều lần quyền phép của Đức Chúa Trời đã tiêu diệt kẻ ác. Và chính quyền phép của Đức Chúa Trời thả ra những cơn phán xét khủng khiếp, không thể kềm lại được giáng trên nhân loại tội lỗi trong Kỳ Đại Nạn trước khi Chúa tái lâm.

Khi nói tới quyền phép phán xét của Đức Chúa Trời, tiên tri Nahum tuyên bố: “Ai đứng được trước sự thạnh nộ Ngài? Ai đương nổi sự nóng giận Ngài? Sự tức giận của Ngài đổ ra như lửa, những vầng đá vỡ ra bởi Ngài” (Na 1:6, đối chiếu Ma 3:2). Đức Chúa Trời sẽ phán xét bậc cầm quyền con người, họ tưởng trong sự dại dột rằng họ có thể chống nghịch lại Ngài (Thi 2:2-6). Môi-se thắc mắc: “Ai biết sức sự giận của Chúa? Tùy theo sự kính sợ xứng đáng cho Chúa, ai biết sức sự nóng nả Chúa?” (Thi 90:11). “Các ngươi khá than khóc! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần: ngày đó đến như cơn tai nạn đến bởi Đấng Toàn Năng” (Es 13:6). Ở Gio 1:15: Giô-ên cũng cảnh cáo về sự phán xét hầu đến của Đức Chúa Trời: “Ôi ngày ấy! vì ngày Đức Giê-hô-va đã gần! Nó đến như một tai vạ thả ra bởi Đấng Toàn Năng”.

Bốn con sanh vật cũng ngợi khen Đức Chúa Trời vì cõi đời đời của Ngài, ca tụng Ngài là Đấng trước đã có, nay hiện có và là Đấng sẽ đến (đối chiếu phần bàn bạc về cụm từ nầy ở các chương 1 và 2 trong sách nầy), Đấng hằng sống đời đời (đối chiếu 10:6; 15:7; Da 4:34). Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại khẳng định cõi đời đời của Đức Chúa Trời, rằng Ngài vượt thời gian, chẳng có ngày đầu cũng chẳng có ngày rốt (thí dụ, Thi 90:2; 93:2; 102:24–27; Es 57:15; Mi 5:2; Ha 1:12; ITi 1:17; 6:15–16). Việc ấy biệt riêng Ngài ra khỏi loài động vật, chúng có cả hai: phần đầu và phần rốt, và hàng thiên sứ và con người, họ có khởi đầu, song sẽ chẳng có sự c uối cùng đâu.

Nhận biết rằng Đức Chúa Trời là đời đời cung ứng sự yên ủi cho con cái Ngài, không giống như cha loài người, một khi Ngài luôn luôn hiện diện ở đó để chăm sóc cho họ. Sự đời đời của Đức Chúa Trời bảo đảm rằng sự sống đời đời của chúng ta ở trên trời sẽ không giờ dứt, chúng ta sẽ nhận lãnh “sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên” (IICo 4:17). Nhưng cũng có ý nói rằng án phạt của kẻ ác trong địa ngục sẽ kéo dài cho đến đời đời, sự khóc lóc, rên rỉ, và cắn răng của họ sẽ không hề dứt, rằng “khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời” (Kh 14:11). Sự huỷ diệt hạng tội nhân như thế là một minh chứng cho sự công bình của Đức Chúa Trời.

Sự ngợi khen của bốn con sanh vật, khi chúng lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi, khởi động một sự đáp ứng từ hai mươi bốn trưởng lão. Họ sẽ sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời. Đây là lần thứ nhứt trong sáu lần các vị trưởng lão nầm sấp trước mặt Đức Chúa Trời (5:8, 14; 7:11; 11:16; 19:4). Một tư thế như vậy là tư thế của sự thờ lạy kỉnh kiền, một đáp ứng tự nhiên đối với sự oai nghi, thánh khiết và vinh hiển đáng sợ của Đức Chúa Trời (đối chiếu Sa 17:3; Gios 5:14; Exe 1:28; 3:23; 43:3; 44:4; Mat 17:6; Cong 9:4).

Thật đáng ngạc nhiên, sau khi nằm phủ phục, hai mươi bốn trưởng lão đã quăng mão triều thiên của họ trước ngôi. Họ chẳng màng gì với sự tột bực của chính họ. Họ chẳng quan tâm đến sự thánh khiết, danh dự hay phần thưởng của riêng họ. Mọi sự ấy đều mờ nhạt rồi trở nên vô nghĩa trong ánh sáng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Các trưởng lão thêm nốt nhạc riêng của họ vào giai điệu ngợi khen được khởi sự bởi bốn con sanh vật, họ kêu lên: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên” Axios (đáng) được sử dụng nói tới Hoàng đế La-mã khi ông ta diễu hành trong đám rước chiến thắng. Mục tiêu bài ca của các trưởng lão là nhắm vào sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong sự sáng tạo; Ngài được giới thiệu là Đấng Tạo Hoá trong cả Kinh Thánh (đối chiếu 10:6; Sa 1:1; Xu 20:11; Es 40:26, 28; Gie 10:10-12; 32:17; Co 1:16). Các vị trưởng lão đang công nhận rằng Đức Chúa Trời có quyền cả hai: cứu chuộc và xét đoán tạo vật của Ngài. Bài ca của họ reo lên thiên đàng bị mất đi trở thành thiên đàng tìm lại được.

Đoản khúc thứ nhứt của bài ca ngợi khen nầy phác hoạ Đức Chúa Trời sắp sửa xét đoán Sa-tan, ma quỉ, và hạng tội nhân rồi hồi lại sự sáng tạo của Ngài. Cả hai: các con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão chỉ có thể thờ lạy trong sự kinh sợ và lạ lùng khi Đức Chúa Trời sửa soạn đem lại cái ngày vinh hiển mà Phaolô viết về ngày ấy như sau:

“Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục. Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay” (Ro 8:19-22).

Upcoming Events

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

Khi Bị Tổn Thương – When You’ve Been Hurt

Aug 30
10:10 am - 12:00 pm

English Ministry – Letters from God

View Calendar

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme