Rồi tôi thấy trong tay hữu Đấng ngồi trên ngôi một quyển sách viết cả trong lẫn ngoài, có đóng bảy cái ấn. Tôi cũng thấy một vị thiên sứ mạnh mẽ cất tiếng lớn kêu rằng: Ai đáng mở quyển sách nầy và tháo những ấn nầy? Dầu trên trời, dưới đất, bên dưới đất, không ai có thể mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa. Vì không có ai đáng mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa, nên tôi khóc dầm dề. Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng, thì có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra. Tôi lại thấy chính giữa ngôi và bốn con sanh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết; Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, là bảy vì thần của Đức Chúa Trời sai xuống khắp thế gian. Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi. Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh. Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất. Đoạn, tôi nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn, đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen! Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời! Rồi bốn con sanh vật đều nói: A-men. Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy. (Kh 5:1-14)
Xuyên suốt lịch sử, đã có rất nhiều kẻ giả dạng, họ muốn dành lấy ngôi vua của địa cầu, nên đã tìm cách chinh phục và cai trị trên thế gian. Nhân vật cai trị đầu tiên và đầy quyền lực và nổi tiếng nhất là Sa-tan. Sau cuộc loạn nghịch của hắn chống lại Đức Chúa Trời bị chà nát, hắn và những thiên sứ theo hắn đã bị quăng ra khỏi các từng trời (Lu 10:18; Kh 12:3-4), và hắn trở thành “chúa đời này” (IICo 4:4). Hắn đã truyền cảm hứng cho một loạt người để thử bàn tay của họ về sự chinh phục, những nhân vật như Nê-bu-cát-nết-sa, Đa-ri-út, A-léc-xan-đơ Đại đế, và Hoàng đế của Rome, rợ Hung nô, Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, Lenin, Stalin và Hitler. Trong tương lai, một nhà chinh phục con người đầy quyền lực nhất, dưới quyền của Sa-tan trong mọi sự, là Anti-christ cuối cùng.
Hết thảy các nhân vật đó, và một đạo binh loạn nghịch kém cõi kia, có một điểm chung: họ đã thất bại. Chỉ có một cá nhân có uy quyền, quyền bính và quyền hành cai trị đất: là Đức Chúa Jêsus Christ. Một ngày kia, Ngài sẽ lấy lại những gì chính đáng thuộc về Ngài từ kẻ chiếm đoạt Sa-tan, và hết thảy những kẻ nổi loạn, ma quỉ và con người. Không một ai khác xứng đáng hay có khả năng cai trị thế gian — không một kẻ gian ác, không một người nhơn đức, không có ma quỉ, và không có một thiên sứ thánh nào hết. Khải huyền 5 giới thiệu Đức Chúa Jêsus Christ, là nhà cai trị hợp pháp của địa cầu, là Đấng được phác hoạ sắp sửa tái lâm để cứu chuộc thế gian ra khỏi tội lỗi, Sa-tan, sự chết và sự rủa sã. Ngài là lẽ đạo chính trong sự mặc thị thứ hai của Giăng về thiên đàng.
Các biến cố trong chương 5 xảy ra ngay sau các biến cố của chương 4. Bối cảnh, như trong chương 4, là ngôi của Đức Chúa Trời ở trên trời. Hiện thời là chê-ru-bin, hai mươi bốn trưởng lão (tượng trưng cho Hội thánh được cất lên, được tôn vinh hiển), và Đức Thánh Linh trong sự vinh hiển gấp bảy lần của Ngài (4:5). Các biến cố được mô tả trong hai chương này dự đoán việc tàn sát của cơn phán xét thiêng liêng sắp sửa được đổ ra giáng trên địa cầu tội lỗi, loạn nghịch và bị rủa sã (các chương 6-19). Sự sợ hãi bởi nét oai nghi khôn tả xiết của ngai Đức Chúa Trời, và các chớp nhoáng của sấm sét phát ra từ đó, chê-ru-bin và các trưởng lão bắt đầu các thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Những bài thánh ca nầy tưởng niệm Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá và là Đấng Cứu Chuộc, và sự vui mừng vì Ngài sắp sửa lấy lại những gì đáng thuộc về Ngài. Đây là khoảnh khắc mà hết thảy Cơ đốc nhân (Eph 1:14) và toàn thể sự sáng tạo (Ro 8:19-22) đều ao ước.
Khi khoảnh khắc ấy đến gần, Đức Chúa Trời khởi sự lay động. Cụm từ tôi thấy, hay “tôi nhìn xem”, giới thiệu các bối cảnh khác nhau trong chương nầy (đối chiếu các câu 2, 6, 11) và nhấn mạnh tư cách của Giăng là một chứng nhân. Trong mặc thị của ông, Giăng thấy trong tay hữu Đấng ngồi trên ngôi một quyển sách viết cả trong lẫn ngoài, có đóng bảy cái ấn. Đức Chúa Trời chìa tay Ngài ra, thực vậy, và trong tay đó có cầm một quyển sách. Biblion (quyển sách) không đề cập đến sách theo ý nghĩa hiện đại, mà là một cuộn giấy (đối chiếu 6:14). Cuộn giấy là một tấm giấy thật dài hoặc bằng da thú, được cuốn lại từ hai đầu vào giữa. Loại giấy cuộn như thế thường được sử dụng trước khi phát minh loại sách theo kiểu hiện đại, bao gồm các trang giấy vuông vức xếp lại với nhau.
Trong khi người La-mã sẽ đóng bảy cái ấn, cuộn giấy nầy không phải là một chúc thư, mà là một việc làm hay một hợp đồng. Mục sư Robert L. Thomas giải thích:
Loại hợp đồng này đã được biết đến khắp vùng Trung Đông trong thời cổ đại và được sử dụng bởi người La Mã từ thời Nero trở đi. Hợp đồng đầy đủ sẽ được viết ở các trang bên trong và đóng bảy con dấu. Khi ấy, nội dung hợp đồng sẽ được mô tả ngắn gọn ở bên ngoài. Tất cả các loại giao dịch được hoàn thành theo cách này, bao gồm hợp đồng kết hôn, hợp đồng thuê và cho thuê, giải phóng nô lệ, hợp đồng hóa đơn, và trái phiếu. Sự hỗ trợ cũng bắt nguồn từ các tập quán của người Do-thái. Tài liệu tiếng Hy-bá-lai giống với cuộn giấy này là một văn kiện được gấp lại và ký tên, đòi hỏi ít nhất ba nhân chứng. Một phần của văn bản sẽ được viết ra, xếp lại và niêm phong, với một nhân chứng khác nhau ký tên ở mỗi lần gấp lại. Một lượng lớn các nhân chứng có nghĩa là văn kiện quan trọng hơn đã được ký kết. (Khải huyền 1-7: Sách giải thích theo kiểu chú giải [Chicago: Moody, 1992], 378).
Giê-rê-mi 32 cung ứng một minh hoạ rất hay về việc sử dụng một tài liệu như vậy. Trong những ngày cuối cùng của vương quốc phía Nam, một thời gian ngắn trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, anh họ của Giê-rê-mi là Ha-na-mê-ên đến gặp ông. Ha-na-mê-en trong lúc cùng kiệt muốn bán một thửa ruộng mà ông làm chủ trong thành A-na-tốt quê quán của Giê-rê-mi, không xa thành Giê-ru-sa-lem lắm. Ha-na-mê-ên biết rằng một khi quân đội Ba-by-lôn chinh phục (thực ra, người Ba-by-lôn chưa chiếm lấy đất đai, đối chiếu Giê-rê-mi 32:2, 24-25), ông sẽ mất mảnh đất của mình. Giê-rê-mi, theo lệnh của Đức Chúa Trời (Gie 32:6-7), đã mua mảnh ruộng bất chấp sự mất mát khả thi là một dấu hiệu cho thấy rằng tình trạng phu tù của người Ba-by-lôn sẽ không lâu dài đâu (Gie 32:15). Gie 32:9-15 ghi lại các chi tiết về việc mua ruộng của ông:
“Vậy tôi mua ruộng ở A-na-tốt của Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và tôi cân mười bảy siếc-lơ bạc cho người. Tôi viết khế và niêm phong, mời người làm chứng và cân bạc trong cái cân. Tôi liền lấy tờ khế bán, cả khế đã niêm phong theo lề luật và thói tục, và khế để ngỏ nữa. Tôi trao khế mua cho Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, cháu Ma-a-sê-gia, trước mặt Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và trước mặt những kẻ làm chứng có ký tên vào khế nữa, cũng ở trước mặt mọi người Giu-đa đang ngồi trong hành lang lính canh. Đoạn, tại trước mặt họ tôi dặn Ba-rúc rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy lấy những tờ khế nầy, khế mua niêm phong, và khế để ngỏ, và để trong một cái bình đất, đặng những tờ khế ấy còn được lâu ngày. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Người ta sẽ còn mua nhà, ruộng, và vườn nho trong đất nầy”.
Cuộn giấy Giăng đã nhìn thấy trong tay của Đức Chúa Trời là chứng thư cho địa cầu, mà Ngài sẽ ban cho Đấng Christ. Tuy nhiên, không giống như các việc làm khác, nó không ghi lại chi tiết những gì Đấng Christ sẽ thừa tự, nhưng thay vì thế, nó ghi lại cách Ngài sẽ có được cơ nghiệp theo cách hợp pháp. Ngài sẽ có được nó qua phương tiện phán xét thiêng liêng sắp sửa được đổ ra trên đất (6:1…). Đang khi cuộn giấy nói tới số phận và sự phán xét, đây cũng là cuộn giấy nói tới sự cứu chuộc nữa. Nó thuật lại cách thức Đấng Christ sẽ chuộc lấy thế gian khỏi kẻ chiếm đoạt là Sa-tan, và những kẻ ấy cùng ma quỉ nào đã cộng tác với hắn. Êxêchiên mô tả chính cuộn giấy ấy trong khi ông được mặc thị về thiên đàng: “Ta bèn xem, nầy, có một cái tay giơ đến ta, cầm một bản sách cuốn. Bản ấy giở ra trước mặt ta, có chữ đã chép, cả trong và ngoài; ấy là những lời ca thương, than thở, khốn nạn đã chép vào đó” (Exe 2:9-10).
Chương nầy phân chia tự nhiên thành 3 tiểu đoạn: tìm kiếm Đấng xứng đáng, chọn lựa Đấng xứng đáng, cùng bài ca của Đấng xứng đáng.
TÌM KIẾM ĐẤNG XỨNG ĐÁNG
Tôi cũng thấy một vị thiên sứ mạnh mẽ cất tiếng lớn kêu rằng: Ai đáng mở quyển sách nầy và tháo những ấn nầy? Dầu trên trời, dưới đất, bên dưới đất, không ai có thể mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa. Vì không có ai đáng mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa, nên tôi khóc dầm dề. (Kh 5:2-4)
Vị thiên sứ mạnh mẽ (xem 10:1; 18:21) không thấy nói tới danh tánh. Có người xác định Ngài là Gáp-ri-ên, người khác thì cho là Mi-ca-ên, nhưng một khi văn mạch không nói tới danh tánh, Ngài phải được giữ kín. Ngài cất tiếng lớn kêu hầu cho lời tuyên bố của Ngài thấu đến từng góc của vũ trụ. Thiên sứ tìm kiếm ai đó đáng mở quyển sách và tháo những ấn kia. Ngài hỏi, Ai có tình trạng xứng đáng bẩm sinh, đạo đức và quyền bính thiêng liêng đủ tư cách để tháo mấy cái ấn? Và ai có quyền đánh bại Sa-tan cùng đạo quân quỉ sứ nó, để quét sạch tội lỗi cùng mọi tác dụng của nó, và để đảo ngược sự rủa sã giáng trên mọi loài thọ tạo?
Nhưng khi tiếng vang vọng lại của Ngài tan đi, duy chỉ có sự im lặng. Các thiên sứ trưởng đầy quyền năng Mi-ca-ên và Gáp-ri-ên không đáp trả. Hàng ngàn thiên sứ khác vô số vẫn giữ im lặng. Hết thảy người chết trong sự công bình của mọi thời đại, bao gồm Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Gióp, Môi-se, David, Solomon, Ê-li, Ê-li-sê, Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chiên, Đa-ni-ên, Phi-e-rơ và phần còn lại các sứ đồ, Phao-lô, và mọi người khác ra từ thời Hội thánh, không nói gì cả. Dầu trên trời, dưới đất, bên dưới đất, không ai có thể mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa. Một cuộc tìm kiếm khắp cả vũ trụ, từ địa ngục đến thiên đàng và mọi chỗ ở giữa, dẫn tới chỗ không có một ai xứng đáng để mở cuộn giấy kia.
Bị phủ lút với đau khổ và mất tinh thần nơi ngã rẻ của các biến cố, Vì không có ai đáng mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa, nên tôi khóc dầm dề. Khóc ra từ klai¯o, cùng một từ thường mô tả sự khóc lóc của Chúa Jêsus về thành Giê-ru-sa-lem (Lu 19:41), và sự khóc lóc cay đắng của Phi-e-rơ sau khi phản Chúa (Lu 22:62). Vì vậy, đây là một từ diễn tả tình cảm rất mạnh, không kềm chế được. Đây là lần duy nhất trong Kinh Thánh, những giọt nước mắt được nhìn thấy từ trên trời (xem 7:17; 21:4). W. A. Criswell giải thích tại sao Giăng khóc:
[Nước mắt của Giăng] tiêu biểu cho những giọt nước mắt của hết thảy dân sự của Đức Chúa Trời trải qua bao thế kỷ. Những giọt nước mắt đó của sứ đồ Giăng là những giọt nước mắt của A-đam và Ê-va, bị đuổi ra khỏi Vườn Ê-đen, khi họ gục đầu xuống bên ngôi mộ đầu tiên, khi họ tưới lên bụi của đất với những giọt nước mắt của họ trên khuôn mặt im lặng, yên ắng của con trai họ, là A-bên. Đó là những giọt nước mắt của con cái Israel trong tình trạng nô lệ khi họ kêu cầu cùng Đức Chúa Trời trong thống khổ và và trong tình trạng nô lệ của họ. Đấy là những giọt nước mắt của tuyển dân Đức Chúa Trời trải bao thế kỷ khi họ kêu la thấu trời. Đấy là những tiếng nấc nghẹn và nước mắt đã tràn ra từ tấm lòng và linh hồn của dân sự Chúa khi họ nhìn vào người chết câm nín của họ, khi họ đứng bên cạnh những ngôi mộ của họ mở toang ra, khi họ trải nghiệm những thử thách và đau khổ của cuộc đời, những chứng đau đầu và thất vọng khôn tả xiết. Đó là sự rủa sã mà tội lỗi chồng chất lên tạo vật đẹp đẽ của Đức Chúa Trời; và đây là sự nguyền rủa bàn tay kẻ nào cầm giữ nó, kẻ chiếm đoạt, kẻ không có môn bài, kẻ xâm lăng, kẻ xa lạ, người lạ, con rồng, con rắn, là Sa-tan quỉ dữ. “Nên tôi khóc dầm dề”, vì sự thất bại không tìm được Đấng Cứu Chuộc, nghĩa là địa cầu nầy đang ở trong sự rủa sã của nó bị cầm phải chịu chết cho đến đời đời. Câu ấy có ý nói sự chết, tội lỗi, sự rủa sã và địa ngục sẽ cai trị mãi mãi và đời đời và tễ trị địa cầu của Đức Chúa Trời sẽ mãi mãi nằm trong tay của Sa-tan. (Expository Sermons on Revelation [Grand Rapids: Zondervan, 1969], 3:69–70).
Sự khóc lóc của Giăng, mặc dù là chân thành, song chưa chín chắn. Ông không cần phải khóc, vì Đức Chúa Trời sắp sửa nắm lấy hành động. Tương tự, Chúa Jêsus nói cho goá phụ ở thành Na-in (Lu 7:13) cùng những kẻ đang khóc lóc vì cái chết của đứa con gái của chủ nhà hội (Lu 8:52) rằng nước nước mắt của họ vốn chẳng thích ứng vì cớ những gì Ngài sắp sửa thực hiện. Giăng bật khóc vì ông muốn nhìn thấy được trừ khử khỏi điều ác, tội lỗi, và sự chết. Ông muốn nhìn thấy Sa-tan bị đánh bại và vương quốc của Đức Chúa Trời được tiết lập trên đất. Ông muốn nhìn thấy Israel được cứu và Đấng Christ được tôn cao. Giăng vốn biết rõ rằng Đấng Mê-si đã bị thủ tiêu, thành Giê-ru-sa-lem bị huỷ diệt, và dân Do-thái bị tàn sát và bị tan rải. Ông vốn ý thức rõ ràng rằng Hội thánh đã đối mặt với sự bắt bớ kịch liệt rồi bị tiêm nhiễm với tội lỗi (các chương 2–3). Từ nhận định của ông, mọi sự dường như đâm ra rất tồi tệ. Liệu chẳng có ai bước tới phía trước để làm thay đổi sự việc nầy ư? Có phải chẳng có một người nào sẽ mở cuộn giấy ra và chuộc lấy tạo vật của Đức Chúa Trời sao? Nhưng Giăng không cần phải khóc, vì cuộc tìm kiếm người nào xứng đáng mở cuộn giấy kia ra sắp sửa tới hồi hết thúc.
CHỌN LỰA ĐẤNG XỨNG ĐÁNG
Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng, thì có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra. Tôi lại thấy chính giữa ngôi và bốn con sanh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết; Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, là bảy vì thần của Đức Chúa Trời sai xuống khắp thế gian. Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi. (Kh 5:5-7)
Bởi vì những giọt nước mắt của ông là không thích ứng, một người trong các trưởng lão bảo Giăng chớ khóc. Khi ấy, ông ta đưa sự chú ý của Giăng tới một Thân Vị mới đang nổi lên trên bối cảnh, sư tử của chi phái Giu-đa, Chồi của Vua Đa-vít. Không có một người nào và không có một thiên sứ nào có thể chuộc lấy vũ trụ, trừ ra một Thân Vị là Đấng có quyền. Tất nhiên, Thân Vị nầy là Đức Chúa Jêsus Christ đã được tôn vinh hiển, đã được tôn cao, được mô tả ở đây bởi hai tước hiệu Mê-si của Ngài. Tước hiệu Sư tử của chi phái Giu-đa rút ra từ lời chúc phước của Gia-cốp về chi phái Giu-đa trong Sa 49:8-10:
Hỡi Giu-đa! các anh em sẽ khen ngợi con, tay con sẽ chận cổ quân nghịch, các con trai cha sẽ quì lạy trước mặt con. Giu-đa là một sư tử tơ; Hỡi con! Con bắt được mồi rồi tha về. Nó sụm gối, nằm khác nào sư tử đực, như sư tử cái; há ai dám khiến ngồi lên? Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó.
Đấng cai trị giống như sư tử ra từ chi phái Giu-đa rất là mạnh mẽ, dữ tợn, khiến cho chết chóc — Đấng Mêsi, là Đức Chúa Jêsus Christ (He 7:14). Người Do-thái trong thời của Chúa Jêsus vốn trông mong Đấng Mê-si được đầy năng quyền và giải phóng họ ra khỏi bàn tay nặng nề của những kẻ áp bức họ, lúc bấy giờ là nhà cầm quyền La-mã. Đấy là một phần vì Chúa Jêsus thất bại không liệu được những điều họ trông mong đến nỗi họ đã chối bỏ và giết Ngài chết đi. Ngài chẳng có một khao khát nào về chính trị cả (đối chiếu Gi 6:15; 18:36), Ngài cũng không sử dụng quyền phép lạ lùng của Ngài để chống lại những kẻ áp bức La-mã. Thay vì thế, Ngài ban hiến một vương quốc thuộc linh.
Đáng buồn thay, người Do-thái đánh giá sai Đấng Mêsi của họ một cách hoàn toàn. Ngài là sư tử, sẽ xé nát cùng huỷ diệt các kẻ thù của họ. Nhưng Ngài sẽ làm vậy tuỳ theo thời khắc của Ngài, chớ không theo thời biểu của họ. Sư tử của Ngài giống như sự phán xét các kẻ thù nghịch Ngài đang chờ đợi cái ngày hãy còn ở trong cuộc tương lai mà Ngài đã chọn — là ngày khởi sự mở ra trong Khải huyền chương 5.
Chúa Jêsus cũng được thấy ở đây là cái chồi hay dòng dõi của Vua David (đối chiếu 22:16; Gie 23:5–6; 33:15-17). Tước hiệu Mêsi ấy rút ra từ Es11:1, 10: “Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái … Xảy ra trong ngày đó, rễ Y-sai đứng lên làm cờ cho muôn dân, các nước đều tìm đến Ngài, nơi an nghỉ của Ngài sẽ được vinh hiển”. Giống như bảng gia phổ trong Mathiơ 1 và Lu-ca 3 cho thấy, Chúa Jêsus là dòng dõi của David, cả hai bên: cha và mẹ của Ngài. Trong Rôma 1:3, sứ đồ Phao-lô nói rằng Chúa Jêsus “theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra”. Thuật ngữ “Con vua David” là một tước hiệu của Đấng Mêsi thường được sử dụng trong các sách Tin lành (thí dụ Mat 9:27; 12:23; 15:22; 20:30–31; 21:9,15; 22:42; Mac 12:35).
Chúa Jêsus là Đấng xứng đáng để cầm lấy cuộn giấy kia vì cớ Ngài là ai, là Vua hợp pháp ra từ lòng của David; Ngài vốn có thật vậy, sư tử ra từ chi phái Giu-đa với quyền phép để tiêu diệt các kẻ thù của Ngài; và cũng vì cớ những gì Ngài đã làm — Ngài đã thắng. Tại thập tự giá, Ngài đã đánh bại tội lỗi (Rô-ma 8:3), sự chết (He 2:14-15), cùng mọi thế lực của âm phủ (Co 2:15; IPhi 3:19). Những người tin Chúa là những kẻ thắng qua sự đắc thắng của Ngài (Co 2:13-14; IGi 5:5).
Khi ông nhìn vào bối cảnh không thể tin được ở trước mặt mình, sự sáng chói, loé sáng phản ảnh sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đang phát ra từ ngôi, chiếc cầu vồng sáng rực vây quanh ngôi, phần nền rực rỡ mà ngôi ấy được đặt ở trên, tia chớp loé lên và sấm sét loan báo trước sự phán xét thiêng liêng rất đáng sợ, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão, sự chú ý của Giăng chỉ ra những gì ông nom thấy ở chính giữa ngôi (với bốn con sanh vật) cùng các trưởng lão. Thay vì phải tán thưởng Sư Tử của chi phái Giu-đa, Nhà Vua toàn thắng thuộc dòng David, Giăng đã nhìn thấy một Chiên Con. Chúa Jêsus không thể là Sư tử của sự phán xét, hoặc nhà Vua của sự vinh hiển, trừ phi trước tiên Ngài là “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất bỏ tội lỗi của thế gian” (Gi 1:29).
Arnion (Chiên Con), vóc dáng nhỏ bé, đề cập đến một con chiên con, hoặc một con chiên nhỏ nuôi trong nhà. Hình ảnh rút ra từ lễ Vượt Qua, khi các gia đình Do-thái được yêu cầu phải giữ chiên con làm sinh tế giống như thú cưng nuôi trong nhà bốn ngày trước khi hy sinh nó (Xu 12:3-6). Trong khi mỗi chiên con dưới thời Cựu Ước chỉ về Đấng Christ, Ngài chỉ được đề cập đến là chiên con có một lần trong Cựu Ước (Es 53:7). Trong Tân Ước ngoài sách Khải huyền, Ngài chỉ được gọi là chiên con có bốn lần mà thôi (Gi 1:29, 36; Cong 8:32; IPhi 1:19). Nhưng trong sách Khải huyền, Ngài xuất hiện trong vai trò Chiên Con có tới ba mươi mốt lần.
Một vài đặc điểm chỉ ra rằng đây chẳng phải là chiên con thông thường. Thứ nhứt, Ngài đang đứng, sống động, trên chân của Ngài, tuy nhiên trông như đã bị giết. Những vết thẹo từ vết thương gây chết chóc mà Chiên Con nầy nhận lãnh đều thấy được rõ ràng bằng mắt thường; thế mà Ngài vẫn còn sống. Mặc dù ma quỉ và hạng người gian ác đã mưu nghịch cùng Ngài và giết Ngài đi, Ngài đã sống lại từ kẻ chết, nhơn đó đánh bại kẻ thù và thắng hơn các kẻ nghịch thù của Ngài.
Ở cái nhìn đầu tiên, dường như là một sự lệch lạc kỳ cục lắm khi đưa chiên con ra để chống lại con rồng (12:9) và bè lũ quái thú của địa ngục châu chấu (9:3), ếch nhái (16:13), và lính chiến con người (19:19) là những kẻ chạy theo con rồng. Song Chiên Con nầy còn hơn cả thứ sinh tế đã được dâng lên vì cớ tội lỗi; mà Ngài còn là Sư tử và là “Vua các vua, Chúa các chúa” (19:16). Ngài đã đánh bại Sa-tan rồi (IGi 3:8; đối chiếu Gi 12:31; 16:11; Rô-ma 16:20; Hê-bơ-rơ 2:14) cùng các thế lực của hắn (Co 2:15; IPhi 3:22) tại thập tự giá và sắp sửa làm cho chiến thắng ấy ra trọn.
Đặc điểm khác về Chiên Con nầy mà Giăng đã lưu ý, ấy là nó có bảy sừng. Theo hình ảnh được rút ra từ thế giới động vật, sừng trong Kinh Thánh tiêu biểu cho sức mạnh và quyền bính (thí dụ ISa 2:1, 10; IISa 22:3; Thi 18:2; 75:10; 89:17, 24; Gie 48:25; Mi 4:13). Bảy, con số của sự trọn vẹn, tiêu biểu cho quyền phép tuyệt đối, trọn vẹn của Chiên Con. Chiên Con trong mặc thị của Giăng cũng có bảy mắt, một lần nữa chỉ ra sự toàn tri thật trọn vẹn và sự thông biết và tri thức thật trọn vẹn. Giăng để ý, mấy con mắt đó tiêu biểu cho bảy vì thần của Đức Chúa Trời sai xuống khắp thế gian. Như đã lưu ý trong các phần bàn luận ở 1:4 và 4:5 trước đây trong sách nầy, cụm từ bảy vì thần của Đức Chúa Trời mô tả Đức Thánh Linh trong mọi sự đầy dẫy của Ngài. Ở đây, cũng như ở 4:5, sự đầy dẫy của Đức Thánh Linh được nhận thấy trong quan hệ với sự phán xét, khi Ngài được sai xuống khắp thế gian tìm kiếm hạng tội nhân phạm tội, không chịu ăn năn phải chịu phán xét (đối chiếu Gi 16:8).
Câu 7 ghi lại hành đông sau cùng, kỳ lạ trong bối cảnh ở trên trời. Mọi sự Giăng đã mô tả kể từ lúc sự mặc thì khởi sự ở 4:1 đã được dựng lên hướng tới khoảnh khắc nầy. Nhận định nầy được xem là hành động lịch sử long trọng, nổ ra, hành động nầy loan báo sự cuối cùng thời đại của con người. Mục tiêu tối hậu về sự cứu chuộc sắp sửa diễn ra; con người sẽ tìm lại được thiên đàng, Vườn Ê-đên được phục hồi. Trước cặp mắt lạ lùng của Giăng Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi.
Đây là cùng một bối cảnh mà Đaniên mô tả trong Da 7:13-14, mặc dù Đa-ni-ên không nhắc tới cuộn giấy:
Ta lại nhìn xem trong những sự hiện thấy ban đêm, nầy, có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời; người tới đến Đấng Thượng Cổ và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước; hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi, và nước người không bao giờ phải hủy phá.
Đấng xứng đáng đã đến để thâu lại những gì hợp pháp thuộc về Ngài.
BÀI CA CỦA ĐẤNG XỨNG ĐÁNG
Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh. Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất. Đoạn, tôi nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn, đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen! Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời! Rồi bốn con sanh vật đều nói: A-men. Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy. (Kh 5:8-14)
Sự xuất hiện của Chiên Con khi Ngài bước tới lấy cuộn giấy khiến cho sự ngợi khen bùng lên từ khắp mọi nơi trong vũ trụ. Sự ngợi khen càng lúc càng tăng lên thành sự thờ lạy lúc bối cảnh của sự cứu chuộc lên tới đỉnh điểm của nó. Trong hai bài ca ngợi khen đầy vẻ oai nghi của chương 4 được thêm vào ba bài nữa ở chương 5. Sự thờ lạy bùng phát tự nhiên kết quả từ sự nhìn biết việc thất bại đã được lường trước lâu nay về tội lỗi, sự chết, và Sa-tan sắp sửa được hoàn tất và Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm trên đất trong đắc thắng và thiết lập vương quốc thiên hi niên vinh hiển của Ngài. Sự rủa sã sẽ bị đảo lại, số dân sót Israel có lòng tin sẽ được cứu, và Hội thánh sẽ được tôn vinh, được tôn cao, và được ban cho đặc ân đồng trị vì với Đấng Christ. Hết thảy những dự đoán về thời kỳ thiên hi niên sau cùng bộc lộ ra nơi viễn cảnh về mọi sự sắp sửa diễn ra.
Khi họ khởi sự bài ca ngợi khen và thờ phượng của họ, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con. Họ dâng lên cùng sự thờ lạy cho Đấng Christ mà họ đã dâng lên cho Đức Chúa Cha ở 4:10 hiến cho minh chứng đáng thuyết phục về thần tánh của Đấng Christ, một khi chỉ có Đức Chúa Trời mới được thờ lạy mà thôi (đối chiếu 19:10; Mat 4:10).
Sau khi Chúa Jêsus hoàn tất sự cứu chuộc bằng cách mang lấy tội lỗi lên trên thập tự giá, Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài sống lại từ kẻ chết và tôn Chúa Jêsus ngồi bên tay hữu của Ngài. Chúa Jêsus đã nhận lại sự vinh hiển mà Ngài vốn có trong sự hiện diện của Đức Chúa Cha trước khi sáng thế (Giăng 17:5). Phaolô viết về Đấng Christ khi gửi thư cho người thành Êphêsô: “mà Ngài đã tỏ ra trong Đấng Christ, khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời, cao hơn hết mọi quyền, mọi phép, mọi thế lực, mọi quân chủ cùng mọi danh vang ra, không những trong đời nầy, mà cũng trong đời hầu đến nữa. Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội thánh” (Eph 1:20-22).
Nhưng dù được tôn cao bên tay hữu của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Jêsus Christ chưa cai trị trọn vẹn đâu. Thi thiên 2:6–12 nói tới ngày còn trong tương lai khi Đấng Christ trị vì trên đất:
Dầu vậy, ta đã lập Vua ta Trên Si-ôn là núi thánh ta. Ta sẽ giảng ra mạng lịnh: Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Ngươi là Con ta; Ngày nay ta đã sanh Ngươi. Hãy cầu ta, ta sẽ ban cho Con các ngoại bang làm cơ nghiệp, Và các đầu cùng đất làm của cải. Con sẽ dùng cây gậy sắt mà đập bể chúng nó; Con sẽ làm vỡ nát chúng nó khác nào bình gốm. Vì vậy, hỡi các vua, hãy khôn ngoan; Hỡi các quan xét thế gian, hãy chịu sự dạy dỗ. Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, Và mừng rỡ cách run rẩy. Hãy hôn Con, e Người nổi giận, Và các ngươi hư mất trong đường chăng; Vì cơn thạnh nộ Người hòng nổi lên.
Mục sư Donald Grey Barnhouse từng lưu ý rằng có bốn việc ngoài tầm với trong vũ trụ: Hội thánh, sẽ được ở trên trời; Israel, họ sẽ sống trong sự bình an sở hữu mọi đất đã được hứa cho nó; Sa-tan, là kẻ thuộc về hồ lửa, và Đấng Christ, Ngài sẽ ngồi trên ngôi của Ngài đang trị vì. Hết thảy bốn thứ dị thường ấy sẽ được an định khi Đấng Christ lấy cuộn giấy từ tay Cha của Ngài.
Nhưng trước khi Ngài khởi sự mở cuộn giấy ấy ra ở chương 6, bài ca ngợi khen đến ở chương 5. Khi họ tỏ mình trước mặt Chiên Con trong sự thờ lạy, Giăng lưu ý rằng mỗi kẻ trong hai mươi bốn trưởng lão cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh. (Cấu trúc văn phạm bản văn tiếng Hy-lạp dường chỉ ra rằng chính các trưởng lão, chớ không phải bốn con sanh vật, họ đã cầm các thứ nầy). Đàn thường được kết hiệp với sự thờ phượng trong Cựu Ước (thí dụ IISa 6:5; ISu 15:16, 20, 28; 16:5; IISu 5:12; 29:25; Thi 33:2; 71:22; 92:1-4; 144:9; 150:3; đối chiếu Kh 14:2; 15:2), nhưng chúng cũng được kết với việc nói tiên tri. Trong I Sa-mu-ên 10:5, Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Kế sau, ngươi sẽ đến Ghi-bê-a-Ê-lô-him, là nơi có một cái đồn của dân Phi-li-tin; khi đã vào thành, ngươi sẽ gặp một đoàn tiên tri từ nơi cao xuống, có đàn sắt, trống cơm, ống sáo, và đàn cầm đi trước; họ sẽ nói tiên tri”. Tương tự, khi nói tới việc nói tiên tri, Ê-li-sê đã nói: “Nhưng bây giờ, hãy đem đến cho tôi một người khảy đàn. Trong lúc người ấy khảy đàn, thì tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ê-li-sê” (IIVua 3:15). ISu 25:1 ghi lại rằng: “Đa-vít và các quan tướng đội binh cũng để riêng ra mấy con cháu của A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun hầu phục dịch, lấy đàn cầm, đàn sắt, và chập chỏa đặng nói tiên tri” (đối chiếu các câu 3, 6). Các loại đàn mà những trưởng lão cầm có lẽ tiêu biểu cho hết thảy lời tiên tri, tiêu biểu cho các biến cố quan trọng sắp sửa diễn ra.
Ngoài các loại đàn, các trưởng lão cũng đang cầm những bình vàng đầy hương. Những cái bình lớn này đã được sử dụng trong đền tạm và đền thờ (Ivua 7:40,45,50; IIVua 12:13-14; ISu 28:17; IISu 4:22; Gie 52:19; Xa 14:20), ở đó chúng được kết nối với bàn thờ. Chúng tiêu biểu cho công tác cầu thay của thầy tế lễ cho dân sự. Trong Kinh thánh, ở các chỗ khác gắn việc xông hương với những lời cầu nguyện của các thánh đồ trong Thi 141:2; Lu 1:9-10; và Kh 8:3-4 (đối chiếu 6:9-10). Hương đựng trong những cái bình này tượng tiêu biểu cho những lời cầu nguyện của các tín đồ xuyên suốt các thời đại mà sự cứu chuộc đất đã được nói trước và được hứa cho sẽ xảy đến. Được ghép chung với nhau, đàn và bình hương cho thấy rằng mọi sự mà các sách tiên tri đã nói và mọi điều con cái của Đức Chúa Trời đã dâng lên cầu thay sau cùng sẽ được ứng nghiệm.
Khi các trưởng lão đem đến trước mặt Đức Chúa Trời mọi sự ước ao và những lời cầu nguyện của các thánh đồ, họ đã hát lên một bài ca mới. Một khi (với ngoại lệ khả thi là Gióp 38:7) không có chỗ nào trong Kinh thánh ghi lại các thiên sứ cất tiếng ca hát, nhìn thấy các trưởng lão đang ca hát ở đây là điều tốt nhứt. (Ở nhiều bản thảo Kinh Thánh có chép: “Ngài … đã chuộc chúng ta cho Đức Chúa Trời”, như phiên bản Kinh Thánh King James mới, ở đó củng cố quan điểm trên đây, một khi bốn con sanh vật là các thiên sứ, họ không cần ai chuộc cả). Điều đó phù hợp với phần còn lại của Kinh thánh, phác hoạ kẻ được chuộc đang ca hát ngợi khen Đức Chúa Trời (đối chiếu Cac 5:3; IISu 5:13; Ne 12:46; Thi 7:17; 9:2; 61:8; 104:33; 146:2; Cong 16:25; Eph 5:19) và các thiên sứ nói tới điều đó (đối chiếu Lu 2:13-14). Xuyên suốt Kinh Thánh bài ca mới là bài ca nói tới sự cứu chuộc (Thi 33:3; 40:3; 96:1; 98:1; 144:9; 149:1; Es 42:10; Kh 14:3).
Bài ca mở ra với một sự tái khẳng định rằng Đấng Christ đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra. Ngài xứng đáng vì Ngài là Chiên Con, sư tử của chi phái Giuđa, và là Vua các vua và là Chúa các chúa. Mở những ấn của quyển sách ra có nghĩa là ban hành những sự phán xét đã được ghi chép trong đó. Khi ấy, tiếp tục củng cố tình trạng xứng đáng của Đấng Christ, bài ca tiếp tục, vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước. Cụm từ đó giải thích lời phát biểu ở câu 6 cho rằng Con Chiên đã chịu giết, giải thích tầm quan trọng của sự chết Ngài. Đó là cái chết mang tính cách thay thế, hy sinh của Đấng Christ mà chuộc cho Đức Chúa Trời . . . những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước. Chuộc ra từ agoraz¯o, một từ Tân Ước phong phú nói tới sự chuộc tội, phác hoạ các nô lệ được mua chuộc ngoài khu chợ rồi sau đó được buông tha. Tại thập tự giá, Đức Chúa Jêsus Christ đã trả giá chuộc (bằng chính huyết Ngài, IPhi 1:18-19) để chuộc những người thuộc về mọi chi phái (dòng dõi), mọi tiếng (ngôn ngữ) mọi dân tộc (chủng tộc) mọi nước (văn hoá) từ khu chợ nô lệ của tội lỗi (đối chiếu ICo 6:20; 7:23; Ga 3:13). Bốn thuật ngữ xuất hiện cùng nhau xuất hiện trong Kh 7:9; 11:9; 13:7; và 14: 6 và bao gồm toàn thể nhân loại.
Đối với Giăng, đây là một sự nhận biết thật kỳ diệu và đáng mừng vì một ngày kia những người được chuộc sẽ bao gồm những con người từ khắp nơi trên thế giới. Trong một ngày khi Hội thánh thì nhỏ bé, bị cô lập, vất vả và phạm tội, Giăng phải quan tâm đến tương lai của Hội thánh — đặc biệt, vì năm trong số bảy Hội thánh trong các chương 2-3 có nhiều nan đề nghiêm trọng và có thể dẫn đến chỗ diệt vong. Sự hiểu biết việc bắt bớ và tội lỗi không dập tắt được ngọn lửa lan rộng của Cơ đốc giáo đã mang lại niềm vui và hy vọng cho tấm lòng của vị sứ đồ.
Bài ca chuyển sang việc thể hiện các kết quả của sự cứu chuộc: và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất. Việc sử dụng những người ấy thay vì “chúng ta” chỉ ra sự bao la và toàn diện của công tác cứu chuộc. Hai mươi bốn vị trưởng lão bản thân họ vượt qua các thánh đồ thuộc mọi thời đại mà bước vào sự ca tụng ngợi khen và tin kính của họ. Người được chuộc là một phần trong nước của Đức Chúa Trời (xem 1:6), một cộng đồng những người tin Chúa ở dưới quyền tễ trị của Đức Chúa Trời. Họ cũng là thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta (đối chiếu 20:6), chỉ ra họ hoàn toàn tiếp cận với sự hiện diện của Đức Chúa Trời để thờ phượng và phục vụ. Chức thầy tế lễ hiện nay của các tín đồ (IPhi 2:5, 9) tỏ ra trước rằng cái ngày trong tương lai khi chúng ta sẽ hoàn toàn tiếp cận và tương giao trọn vẹn với Đức Chúa Trời. Trong vương quốc thiên hi niên, những người tin Chúa sẽ đồng trị trên đất với Đấng Christ (20:6; IITi 2:12).
Trong câu 1, Giăng nói ở lần thứ tư trong chương rằng ông đã nhìn thấy một việc quan trọng. Khi ông nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn, (đối Da 7:10). Về tiếng nói của bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão đã được thêm vào với tiếng của các thiên sứ vô số. Hàng muôn hàng ngàn có nghĩa là “10.000”, rõ ràng là con số cao nhất mà chữ Hy Lạp có một từ. Cụm từ hàng muôn hàng ngàn mô tả một đạo binh không thể đếm được. He 12:1 cũng chép rằng số các thiên sứ thánh không thể đếm được. Số lượng họ nhiều gấp hai lần các thiên sứ sa ngã (ma quỉ) theo Kh 12:3-4.
Đạo binh lớn bắt đầu nói tiếng lớn (Ne 9:4; Thi 33:3; “kêu cầu lớn tiếng”, 98:4 “nức tiếng”) sự ca tụng quen thuộc, Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen! Một lần nữa, phần nhấn mạnh nhắm vào sự chết của Đấng Christ cung ứng một sự cứu chuộc trọn vẹn, vì cớ đó người ta phải dành cho Ngài sự tôn thờ, khen ngợi, và sùng bái. Ngài xứng đáng nhận lãnh sự công nhận vì cớ quyền phép và sự toàn năng của Ngài. Ngài xứng đáng nhận được sự công nhận vì cớ sự giàu có vật chất và thuộc linh mà Ngài hiện có — Ngài có mọi sự (Thi 50:10-12). Ngài xứng đáng nhận được sự công nhận vì sự khôn ngoan và sự toàn tri của Ngài. Về mọi sự đó và mọi sự trọn vẹn tuyệt đối khác của Ngài, Đức Chúa Jêsus Christ xứng đáng với mọi năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!
Giống như bài thánh ca ngợi khen lên cao dần, mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều tham gia vào. Câu nói bao hàm này là một sự gợi nhớ đến Thi thiên 69:34: “Nguyện trời, đất, biển, và các vật hay động trong đó, đều ngợi khen Ngài“ và câu kết thúc của sách Thi thiên: “Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!” (Thi 150:6). Giai điệu hùng hồn nầy kêu lớn tiếng lên: “Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi, cùng Chiên Con, được ngợi khen, tôn quí, vinh hiển, và quyền phép cho đến đời đời”. Ơn phước vô tận, vinh hiển vô tận, khen ngợi vô tận, vinh quang vô tận, và sự thờ phượng vô hạn thuộc về Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Jêsus Christ. Loài thọ tạo không thể chứa hết niềm vui của nó đối với sự cứu chuộc sắp xảy ra (đối chiếu Ro 8:19-22).
Lạc mất trong sự kỳ diệu, yêu thương, và ngợi khen, bốn con sanh vật chỉ có thể nói “Amen”. Lời khẳng định long trọng có ý nói “nguyện được như thế”, “xin hãy khiến cho việc xảy ra” (đối chiếu 1:6-7). Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy.
Không bao lâu nữa, đạo binh hùng mạnh này sẽ diễu hành ra khỏi thiên đàng để thi hành sự phán xét, thâu lấy kẻ được chọn và tái lâm cùng với Đấng Christ khi Ngài dựng nên vương quốc trên đất của Ngài. Bối cảnh đã được thiết lập.