“Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ nhất trong bảy ấn thì tôi thấy một con trong bốn con sanh vật nói tiếng như sấm rằng: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người một cái mão triều thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng. Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe con sanh vật thứ nhì nói: Hãy đến! Liền có con ngựa khác sắc hồng hiện ra. Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn. Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con sanh vật thứ ba nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa ô. Kẻ ngồi trên ngựa tay cầm cái cân. Tôi lại nghe ở giữa bốn con sanh vật như có tiếng nói rằng: Một đấu lúa mì bán một đơ-ni-ê, ba đấu mạch nha bán một đơ-ni-ê, còn dầu và rượu chớ động đến. Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe con sanh vật thứ tư nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng vàng hiện ra. Người cỡi ngựa ấy tên là Sự Chết, và Âm phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế gian, đặng sát hại dân sự bằng gươm dao, bằng đói kém, bằng dịch lệ và bằng các loài thú dữ trên đất” (Kh 6:1-8)
Kinh Thánh dạy rằng thế gian không lay chuyển đã không hướng đến hoà bình và thống nhứt, mà hướng đến một cuộc chiến tranh sau cùng, lớn lao, chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn (16:14–16). Cho tới bầu không khí tàn sát, nhiều việc sẽ tiếp tục xấu đi khi thế gian càng sa ngày càng sâu vào hỗn loạn, lộn xộn, và tội lỗi. Khi sự cuối cùng đến, chiến tranh gia tăng, tội ác gia tăng, sẽ có nhiều biến động về kinh tế, cùng các thảm hoạ trong thiên nhiên chưa từng thấy, tỉ như các trận động đất, lũ lụt, đói kém và bịnh tật (đối chiếu Ma-thi-ơ 24:6–8). Hết thảy các tai vạ ấy sẽ đánh dấu sự đổ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên thế giới sa ngã, loạn nghịch.
Các tiên tri trong Cựu Ước nói về thời kỳ khủng khiếp về sự phán xét trong tương lai nầy. Khi mô tả nỗi khổ của Israel trong kỳ ấy, Giêrêmi viết: “Khốn thay! Ngày đó thật lớn, đến nỗi chẳng hề có ngày nào giống như vậy. Ấy là kỳ tai hại của Gia-cốp!” (Giêrêmi 30:7). Khi mô tả sự phán xét hầu đến của các dân Ngoại, Êsai đã viết:
“Hỡi các nước, hãy đến gần mà nghe; hỡi các dân, hãy để ý! Đất và mọi vật trong nó thế gian và mọi vật sanh ra đó, hãy đều nghe! Vì Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng mọi nước; cơn thạnh nộ Ngài nghịch cùng cả đạo binh họ; Ngài đã giao họ cho sự diệt vong, phó cho sự đánh giết. Kẻ bị giết trong chúng nó sẽ phải ném bỏ, thây chết bay mùi hôi; các núi đầm đìa những máu. Cả cơ binh trên trời sẽ tan tác, các từng trời cuốn lại như cuốn sách; cả cơ binh điêu tàn như lá nho rụng, như lá vả khô rơi xuống” (Es 34:1-4)
Trong Kh 5:1-7, Đấng Christ đã nhận từ Đức Chúa Cha một cuộn giấy được đóng với bảy cái ấn cho tới chừng được mở ra bởi Đấng có thẩm quyền để làm công việc ấy. Cuộn giấy chứa việc làm xác định cho địa cầu. Không giống như các việc làm thông thường, nó không chứa phần mô tả về cơ nghiệp của Đấng Christ, nhưng thay vì thế, nó chứa các chi tiết cho thấy Ngài sẽ thực thi việc tái xưng nhận những gì thuộc về Ngài theo cách hợp pháp. Khởi sự ở chương 6, cuộn giấy được mở ra và mấy cái ấn được tháo ra. Việc mở ra cuộn giấy đánh dấu phần mở đầu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và sự phán xét giáng trên con người tội lỗi khi Chúa lấy lại tạo vật ra khỏi tay kẻ chiếm đoạt, là Sa-tan.
Mỗi cái ấn của cuộn giấy (đối chiếu 5:1) tiêu biểu cho một sự phán xét thiêng liêng đặc biệt sẽ tuần tự được đổ ra trên đất. Các cái ấn bao gồm toàn bộ thời kỳ Đại Nạn (3:10), lên đến cao điểm với sự tái lâm của Đấng Christ. Cách tốt nhứt để tìm hiểu bốn cái ấn đầu tiên như đang diễn ra trong nửa đầu của Cơn Đại Nạn, cái ấn thứ năm kéo dài từ ấn thứ nhứt đến phân nửa ấn thứ nhì, (được gọi là “cơn đại nạn” trong 7:14 và kéo dài ba năm rưỡi 11:2; 12:6; 13:5) rồi ấn thứ sáu và thứ bảy xảy ra trong suốt “cơn đại nạn đó”. Rõ ràng, ấn thứ bảy chứa những sự phán xét bằng bảy tiếng kèn (8:1-11:19) và tiếng kèn thứ bảy (11:15) chứa những sự phán xét qua bảy cái bát (16:1-21). Cho nên bảy cái ấn chứa hết thảy những sự phán xét cho đến cuối cùng khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm.
Sự mở ra bảy cái ấn tương ứng với phần niên đại của Chúa chúng ta về các biến cố của Cơn Đại Nạn được thấy trong chính sứ điệp của Chúa Jêsus mô tả kỳ tận thế và sự tái lâm của Ngài, được ghi lại trong Ma-thi-ơ 24. Cái ấn thứ nhứt mô tả một sự hòa bình giả dối, ngắn ngủi sẽ đi trước cuộc tàn sát lấn cuối cùng. Trong Mat 24:4-5, Chúa Jêsus cũng nói về sự hoà bình ấy, cảnh cáo về các christ giả, dối gạt, họ cứ nói về sự hoà bình đó. Cái ấn thứ hai mô tả cuộc chiến tranh trên toàn thế giới, điều nầy Chúa Jêsus cũng có tiên đoán (Ma-thi-ơ 24:6-7). Cái ấn thứ ba, đói kém, tìm gặp một sự tương ứng trong Mat 24:7. Trong cùng câu đó, Chúa Jêsus tiên đoán các trận động đất, tiêu biểu cho thiên tai; cái ấn thứ tư tiêu biểu cho chết chóc bởi các thảm hoạ thiên nhiên như vậy, bao gồm động đất và dịch lệ. Cái ấn thứ năm, chỉ ra nhiều người tuận đạo ở dưới bàn thờ, tìm thấy một sự tương ứng trong lời cảnh cáo của Chúa Jêsus rằng những người tin Chúa sẽ bị tuận đạo trong Kỳ Đại Nạn (Mat 24:9). Trong suốt lần mở cái ấn thứ sáu, bầu trời trở nên đen kịt lại — giống như Chúa Jêsus tiên đoán bầu trời sẽ ra như thế (Ma-thi-ơ 24:29). Cái ấn thứ bảy cho thấy những sự phán xét đầy biến động sau cùng, bao gồm hết thảy sự tàn phá từ các lần phán xét bằng tiếng kèn và cái bát, dẫn tới lần đến lần thứ hai của Ngài (Mat 24:37…).
Giống như cơn đau đẻ của người mẹ tăng theo tần số và cường độ khi thời điểm sinh con đến gần, cũng một thể ấy những sự phán xét được mô tả bởi mấy cái ấn sẽ tăng lên suốt kỳ Đại Nạn cho đến khi chúng lên đến cao điểm trong lần đến của Đức Chúa Jêsus Christ trong sự vinh hiển phán xét. Bốn cái ấn đầu tiên bao gồm thời kỳ Chúa Jêsus được mô tả là “đầu sự tai hại” (Mat 24:8). Bốn sự phán xét ấy thật là kinh khủng, chúng chỉ là sự đổ ra mở đầu cho cơn thạnh nộ sau cùng của Đức Chúa Trời Trời trong ba cái ấn sau cùng.
CÁI ẤN THỨ NHỨT: SỰ HOÀ BÌNH GIẢ DỐI
“Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ nhất trong bảy ấn thì tôi thấy một con trong bốn con sanh vật nói tiếng như sấm rằng: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người một cái mão triều thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng” (Kh 6:1-2)
Các chương 4 và chương 5 mô tả sự ngợi khen được dâng lên ở trên trời cho Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jêsus Christ. Chương 4 tôn vinh Đức Chúa Trời trong vai trò Đấng Tạo Hoá (đối chiếu 4:11) trong khi chương 5 tôn vinh Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Cứu Chuộc (đối chiếu 5:9-10). Thình lình, khi những cái ấn khởi sự được mở ra trong chương 6, sự ngợi khen đình lại khi lường trước sự đoán phạt sắp xảy tới. Giờ đây bối cảnh chuyển từ trời cao xuống đất, đó sẽ là trọng tâm của các biến cố qua sự tái lâm của Đấng Christ trong chương 19 và sự thiết lập vương quốc trên đất của Ngài trong chương 20.
Sau khi nhận được từ Đức Chúa Cha công việc xác định cho địa cầu (5:7), Chiên Con (Đức Chúa Jêsus Christ) đã mở ấn thứ nhứt trong bảy ấn. Giống như mỗi ấn bị mở ra trong sự hiện thấy, những gì đã được ghi chép trên cuộn giấy không được đọc, nhưng đã được làm ra. Ngay lập tức, Giăng nghe thấy một trong bốn con sanh vật (Chê-ru-bin, một đẳng cấp thiên sứ cao quý — đối chiếu Ê-xê-chi-ên 10:15 và xem phần thảo luận 4:6-8 chương 11 của sách nầy) nói tiếng như sấm: “Hãy đến”. Để đáp lại lời triệu tập của thiên sứ, một con ngựa bạch có người cởi trên nó. Bốn cái ấn đầu tiên liên quan đến ngựa và người cởi ngựa (được gọi là bốn người cởi ngựa trong sách Khải huyền). Ngựa trong Kinh Thánh được gắn kết với chiến thắng, oai nghi, quyền lực, và chinh phục (thí dụ 19:11, 14; Giop 39:19-25; Ch 21:31; Es 43:17; Gie 6:23; Xai 9:10; 10:3).
Sau khi thấy phần tương ứng với 19:11, có người xác định người cởi con ngựa bạch là Đấng Christ. Nhưng kể từ khi Đấng Christ mở cuộn giấy bị đóng ấn ra, Ngài không thể là người cởi ngựa cho được. Hơn nữa, người cởi ngựa nầy đội một stephanos, một vương miện chiến thắng như là một phần thưởng vậy; trong 19:12 Đấng Christ đội nhiều diad¯emas, vương miện hoàng gia. Không giống như người cởi ngựa nầy, là người có cái cung, Đấng Christ mang một thanh gươm (19:15). Sau cùng, Đấng Christ tái lâm ở phần cuối Kỳ Đại Nạn, chớ không phải vào lúc khởi sự của kỳ ấy.
Nhiều người khác xác định người cởi ngựa là Anti-christ. Nhưng kể từ khi ba người cởi ngựa kia không tiêu biểu cho các cá nhân mà cho các thế lực không riêng ai (chiến tranh, đói kém, và chết chóc), vậy nên tốt nhất phải xem người thứ nhứt cũng là một thế lực nữa. Thế lực đó được định nghĩa tốt nhất là một sự hòa bình trên toàn thế giới, bị tan rải trong suốt cái ấn thứ nhì bởi người cởi ngựa thứ nhì (6:4). Tuy nhiên, như sẽ thấy, Anti-christ sẽ đóng vai trò lãnh đạo thúc đẩy ám ảnh toàn cầu với việc tìm kiếm hòa bình.
Vì vậy, trước khi những nỗi kinh khiếp của kỳ Đại Nạn nổ ra và dẫn tới trận chiến Ạt-ma-ghê-đôn, sẽ có một thời kỳ hòa bình cấp thế giới. Nhưng nó sẽ là một nền hòa bình giả tạo, khi thế giới bị lùa vào một ý thức giả dối về an ninh nối theo sau bởi chiến tranh, đói kém, và chết chóc. Mong muốn tuyệt vọng của thế giới về hòa bình quốc tế sẽ là mồi cho cái bẫy của Sa-tan. Sự khao khát về an ninh và an toàn sẽ thực hiện trong bàn tay của Anti-christ, nhà cai trị của Sa-tan, hắn sẽ thuyết phục thế giới rằng hắn có thể cung ứng cho họ. Đặc biệt, hắn sẽ lừa dối Israel, dân sự Do-thái luôn muốn có một nền hòa bình lâu dài, và hắn “sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người [Israel] trong một tuần lễ” (Da 9:27). Tuy nhiên, hiệp ước hòa bình và sự bảo hộ của Anti-christ sẽ không kéo dài: “và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định” (Đaniên 9:27). Sự bình an giả tạo mà Anti-christ đem lại sẽ phải dừng lại đột ngột ở điểm giữa của Kỳ Đại Nạn khi hắn báng bổ Đền Thờ tại thành Giê-ru-sa-lem, phản bội dân Do-thái, rồi mở ra những cuộc tấn công chết chóc thẳng vào họ (đối chiếu Ma-thi-ơ 24:4–10). Sẽ chẳng có sự bình an chi hết cho tới chừng nào Chúa Bình An dựng lên vương quốc đời nầy của Ngài (20:1–6).
Kinh Thánh lặp đi lặp lại lời cảnh cáo về miếng mồi hoà bình giả tạo. Giêrêmi mô tả những kẻ trong thời của ông họ tuyên bố: “‘Bình an! bình an! mà không bình an chi hết” (Gie 6:14; 8:11). Ông kêu la với Đức Giê-hô-va: “Tôi bèn thưa rằng: Ôi! hỡi Chúa Giê-hô-va, nầy các tiên tri bảo họ rằng: Các ngươi sẽ không thấy gươm dao, sẽ chẳng có đói kém; nhưng ta sẽ ban sự bình an bền lâu cho các ngươi ở trong miền nầy” (Gie 14:13). Đức Giê-hô-va đáp: “Ấy là những lời nói dối, mà các tiên tri đó nhân danh ta truyền ra. Ta chẳng từng sai họ đi, chẳng từng truyền lịnh và chẳng từng phán cùng họ. Họ nói tiên tri đó là theo những sự hiện thấy giả dối, sự bói khoa, sự hư không, và sự lừa gạt bởi lòng riêng mình!” (câu 14). Khi viết về sự dối gạt về sự bình an giả tạo tương ứng như thế nầy, Phao-lô nói: “Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và an ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu” (ITe 5:3).
Dường như rất khó tin rằng thế giới, đang lơ lửng trên bờ vực của thảm họa sau cùng, có thể bị dối gạt hoàn toàn như thế. Tuy nhiên, đấy chính là những gì đã xảy ra ở quy mô nhỏ hơn trước khi cuộc chiến tranh phá tán nhất diễn ra, là Thế chiến II. Adolf Hitler vạch ra chi tiết kế hoạch chinh phục trong cuốn sách của ông có đề tựa là Mein Kampf, xuất bản hơn một thập niên trước khi Thế chiến II bắt đầu. Dù vậy, thật khó tin là các đồng minh phương Tây (đặc biệt là Anh và Pháp) cứ khăng khăng tin rằng lời xưng nhận giả dối của Hitler là một nhân vật của hòa bình. Họ đứng im lìm khi ông ta tái chiếm vùng Rhineland (khu phi quân sự sau Thế chiến I), do đó hủy bỏ Hiệp ước Versailles, sau đó là Áo, Sudetenland và Tiệp Khắc. Với việc muốn xoa dịu Hitler và tránh né chiến tranh, Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đến gặp nhà độc tài Đức quốc xã tại Munich năm 1938. Khi ông trở lại Anh, Chamberlain đắc thắng vẫy một tờ giấy trên tay (chứa một cam kết vô giá trị về hòa bình từ Hitler) mà ông tuyên bố được bảo đảm “hoà bình với danh dự . . . hòa bình cho thời đại của chúng ta”. Khi Winston Churchill (một trong số ít người mà Hitler không hề nắm được) đã dấy lên trong Hạ viện tuyên bố rằng nước Anh đã phải chịu đựng một sự thất bại hoàn toàn, ông đã bị những thành viên đầy giận dữ trong Quốc hội hò hét. Sự dối gạt gần như quá phổ biến; gần như ai nấy đều hiểu sai các dự tính của Hitler. Chỉn sau khi ông xâm chiếm Ba-lan vào tháng 9 năm 1939, sau cùng các đồng minh mới công nhận sự thật. Đến lúc đó thì đã quá trễ để tránh né thảm hoạ của Đệ II Thế chiến.
Người cởi ngựa có một cái cung song chẳng có mũi tên nào hết, rồi người ấy được tôn vinh với một mão triều thiên có kẻ đã ban cho người, cho thấy rằng công cuộc chinh phục của người sẽ liên quan đến các chiến thắng không đổ máu. Mão triều thiên của ông (stephanos) là vương miện của người chiến thắng. Người thực sự chẳng phải là một vì vua và không có một vương miện thực sự nào (diad¯ema) cho nhà vua cả, nhưng đã đạt được một vương miện từ thế gian vì những thành tựu đắc thắng của người dẫn đến hòa bình cấp thế giới. Người sẽ không thắng bởi quân đội, nhưng bằng cách khéo léo và gian dối (đối chiếu IITe 2:9-11). Chiến thắng của người sẽ là một cuộc chiến thắng “chiến tranh lạnh”, một nền hòa bình đạt được theo sự nhất trí, chớ không phải do xung đột (Da 9: 24-27). Ngay cả khi số phận sau cùng của thế gian đến gần, Anti-christ sẽ hứa hẹn một thời hoàng kim của nền hòa bình và thịnh vượng. Với lòng biết ơn, cả thế giới sẽ tôn tặng ông và nâng ông lên vị trí lãnh đạo tối cao. Nhưng cả hai: những lời tuyên bố và nền hòa bình sẽ không tồn tại được lâu dài đâu.
CÁI ẤN THỨ HAI: CHIẾN TRANH
“Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe con sanh vật thứ nhì nói: Hãy đến! Liền có con ngựa khác sắc hồng hiện ra. Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn” (Kh 6:3-4)
Tâm trạng hưng phấn của thế giới về nền hòa bình và hài hoà sẽ bị tan tác khi con ngựa thứ hai và người cởi ngựa xuất hiện trên bối cảnh. Giống như Đệ II Thế Chiến nối theo sau nền hòa bình giả tạo do Hitler thiết lập, cũng một thể ấy những cuộc chiến tranh tàn phá sẽ lan rộng khắp thế giới theo sau sự sụp đổ hoà bình giả tạo của Anti-christ. Đây là câu chuyện chuyển sang tồi tệ và cứ như thế cho đến khi Nhà Vua đích thực tái lâm để thiết lập vương quốc của Ngài.
Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì Giăng nghe con sanh vật thứ nhì triệu người cởi ngựa thứ nhì, nói: “Hãy đến”. Ngay lập tức con ngựa sắc hồng hiện ra. Hồng, màu của lửa và huyết, mô tả chiến tranh. Sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng xuống và sự bình an giả tạo, ngắn ngủi do Anti-christ đưa ra trở thành một cuộc tàn sát đẫm máu.
Trước tiên, Giăng lưu ý, về người cởi ngựa, rằng Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian. Mọi sự xảy ra đều ở dưới quyền tễ trị của Đức Chúa Trời. Ngài cho phép sự hòa bình giả tạo, và Ngài kết thúc nó rồi đưa chiến tranh đến trên đất. Ngược lại với sự dạy của một số người, những sự phán xét trong kỳ Đại Nạn không phản ảnh cơn giận dữ của loài người hay cơn thạnh nộ của Sa-tan; chúng chỉ tỏ ra cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ ra trên thế gian. Chính Ngài là Đấng cầm lấy cuộn giấy đóng bảy ấn và Chiên Con mới là Đấng mở nó ra. Đôi khi sớm sủa trong nửa đầu của kỳ Đại Nạn, trong phần khởi sự đau đớn khi sinh con (đối chiếu Mat 24:8; Mac 13:7-8; Lu 21:9), nền hòa bình cấp thế giới đổi thành xung đột khắp thế giới giống như hòa bình biến khỏi thế gian vậy. Khi mô tả thời kỳ nầy, Chúa Jêsus phán: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc … Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia” (Mat 24:6-7). Người ta giết lẫn nhau trên một cấp độ không lường được. Tàn sát bạo lực sẽ trở nên phổ biến. Trong khi Kinh thánh không cung ứng chi tiết, những tiến bộ trong kho vũ khí hiện đại cho thấy một vụ tàn sát khủng khiếp không thể tưởng tượng được.
Giăng cũng lưu ý rằng một thanh gươm lớn đã được trao cho người cởi ngựa. Machaira (gươm) đề cập đến loại gươm mà người lính La-mã đeo bước vào chiến trường. Nó cũng là một thứ vũ khí được sử dụng bởi các tay sát thủ. Sự hiện thấy mô tả một thanh gươm lớn để mô tả phạm vi của cuộc chiến. Khi ấy, nền hòa bình giả dối của Anti-christ sẽ tan tác trong một vòng xoáy chiến tranh, ám sát, nổi loạn, và tàn sát.
Khi hắn nổi lên trong việc thúc đẩy một nền hòa bình giả tạo, sau cùng Anti-christ sẽ đóng vai chính trong cuộc chiến tranh nối theo sau đó. Mặc dù là kiến trúc sư trưởng của nền hòa bình giả tạo, khi chiến tranh nổ ra trên khắp thế giới, hắn sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc dùng đến chiến tranh để duy trì uy quyền và thế lực của mình. Anti-christ sẽ khéo léo trong chiến tranh khi hắn có mặt thúc đẩy nền hòa bình giả tạo. Da 8:24 mô tả sự nghiệp của hắn trong vai trò một chiến binh: “Quyền thế người sẽ lớn thêm, nhưng không phải bởi sức mình. Người làm những sự tàn phá lạ thường; và được thạnh vượng, làm theo ý mình, hủy diệt những kẻ có quyền và dân thánh”. Giữa vòng các nạn nhân của hắn sẽ là nhiều người thuộc dân sự của Đức Chúa Trời (đối chiếu 6:9; Mat 24:9).
Anti-christ dựng lên sự gớm ghiếc hoang vu (Da 11:31; 12:11; Mat 24:15) sẽ có nhiều sự xung đột rất lớn, được mô tả chi tiết trong Da 11:36-45:
“Vua sẽ làm theo ý muốn mình; kiêu ngạo và lên mình cao hơn hết các thần; nói những lời lạ lùng nghịch cùng Đức Chúa Trời của các thần. Người sẽ được may mắn cho đến khi cơn thạnh nộ Chúa được trọn, bởi vì điều gì đã có chỉ định thì phải ứng nghiệm. Người sẽ không đoái xem các thần của tổ phụ mình, cùng kẻ mà đàn bà vẫn mến. Người sẽ chẳng coi thần nào ra gì; bởi vì người tôn mình lên cao hơn hết cả. Nhưng người sẽ ở chỗ mình tôn kính thần của các đồn lũy; người sẽ lấy vàng, bạc, đá quí, và những vật tốt đẹp mà tôn kính thần tổ phụ mình không biết. Người sẽ cậy thần lạ giúp cho mà lấy các đồn lũy vững bền, và người sẽ ban thêm sự vinh hiển cho kẻ nào nhận mình. Người cho họ cai trị nhiều người, và chịu tiền bạc mà chia đất. Đến kỳ sau rốt, vua phương nam sẽ tranh chiến cùng người. Vua phương bắc đem xe binh, lính kỵ và nhiều tàu, xông đến vua đó như cơn gió lốc. Người sẽ lấn vào các nước, tràn tới và đi qua. Người sẽ vào đến đất vinh hiển, và nhiều nước sẽ bị đổ. Song những người Ê-đôm, người Mô-áp và những kẻ làm đầu trong dân Am-môn sẽ thoát khỏi tay người. Người sẽ giang tay ra trên các nước, và đất Ê-díp-tô sẽ không thoát khỏi. Người sẽ chiếm lấy các của báu, vàng và bạc, cùng hết thảy đồ quí báu của Ê-díp-tô. Dân Li-by và dân Ê-thi-ô-bi sẽ theo sau người. Song những tin tức từ phương đông và phương bắc sẽ đến làm cho người bối rối; người sẽ giận lắm mà đi ra để tàn phá và hủy diệt nhiều người. Người sẽ đặt các trại của cung mình ở khoảng giữa biển cùng núi vinh hiển và thánh. Song người sẽ đến sự cuối cùng mình, và chẳng có ai đến giúp đỡ người cả”.
Là đầu của liên minh Tây phương, Anti-christ, như đã nói ở trên, ban đầu sẽ tỏ mình là một nhà vô địch hoà bình. Thậm chí hắn dường như làm được những điều mà không ai có thể làm được, mang lại hòa bình cho vùng Trung Đông rối rắm kia. Hắn sẽ lập một hiệp ước với Israel, xem như là người bảo hộ và bảo vệ họ. Nhưng chẳng bao lâu các màu sắc thực sự của hắn sẽ bày ra, và mong muốn của hắn về sự thống trị sẽ kích thích sự loạn lạc. Các nỗ lực của Anti-christ hòng tiêu diệt kẻ thù của mình và cai trị họ bằng một bàn tay sắt sẽ mở ra những cuộc chiến tranh kéo dài suốt phần còn lại của Kỳ Đại Nạn. Sau cùng, khi Nhà Vua đích thực của trần gian, là Đức Chúa Jêsus Christ, tái lâm, Anti-christ sẽ bị quăng vào trong hồ lửa cho đời đời (20:10).
Các cuộc chiến tranh bắt đầu với phần mở ra của ấn thứ nhì kéo dài phần thời gian ngắn ngủi còn lại trước sự đến của vương quốc thiên hi niên.
CÁI ẤN THỨ BA: ĐÓI KÉM
“Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con sanh vật thứ ba nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa ô. Kẻ ngồi trên ngựa tay cầm cái cân. Tôi lại nghe ở giữa bốn con sanh vật như có tiếng nói rằng: Một đấu lúa mì bán một đơ-ni-ê, ba đấu mạch nha bán một đơ-ni-ê, còn dầu và rượu chớ động đến” (Kh 6:5-6)
Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tiếng nói mạnh mẽ của con sanh vật thứ ba loan báo cho biết sự xuất hiện của con ngựa thứ ba và người cởi ngựa. Cách sử dụng từ “kìa” cho thấy ông giật mình và bị sốc vì vẻ bề ngoài đáng sợ của người cởi ngựa thứ ba. Màu đen được gắn kết với đói kém ở Ca 5:10 (KJV). Đói kém là hậu quả hợp lý của chiến tranh cấp thế giới vì nguồn cung ứng lương thực bị phá hủy và những ai dính dáng vào sản xuất lương thực đều bị giết chết. Chúa Jêsus cũng dự đoán nạn đói kém trong tương lai ở Mat 24:7: “Dân nầy sẽ nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất“. Đức Chúa Trời đã sử dụng đói kém như một phương tiện của sự phán xét trong quá khứ (thí dụ Le 26:26; Phu 32:24; IIVua 8:1; Thi 105:16; Es 3:1; Gie 16:4; Exe 4:16-17; 5:16; 14:13; Ag 1:11), nhưng đây sẽ là sự đói kém tàn phá nhất trong cả thảy lịch sử của con người.
Cái cân mà người cởi ngựa cầm nơi tay phác hoạ sự phân phối sẽ kết quả từ nạn đói. Như ở Hoa Kỳ trong thời kỳ Suy Thoái, ở châu Âu sau Đệ II Thế Chiến, và ngày nay ở nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba bị chiến tranh tàn phá, sẽ có những người đói khát đang đứng xếp hàng nhận lấy đồ ăn. Nhưng họ sẽ không tìm thấy đủ thức ăn để sống tiếp, khi cái ấn thứ tư trong sự hiện thấy của Giăng tỏ ra. Theo sau sự xuất hiện của con ngựa ô và người cưỡi ngựa, Giăng nghe ở giữa bốn con sanh vật. Vì bốn con sanh vật được đặt ở xung quanh ngai (4:6), đây có thể là tiếng của Đức Chúa Trời, là Đấng đang ngồi trên ngôi (4:2-3). Đức Chúa Trời cũng phán trong sự kết nối với cái ấn thứ năm (6:11). Ngài phán ở đây như một lời nhắc nhở rằng đói kém là một sự phán xét trực tiếp ra từ Ngài.
Những lời loan báo của Đức Chúa Trời cho thấy đói kém gây ra sự tàn phá là dường nào: Một đấu lúa mì không đủ trợ giúp cho một người sống trong một ngày, đang khi một đơ-ni-ê tiêu biểu cho lương một ngày công của một công nhân trung bình. Lao động của người dân sẽ chưa cung ứng đủ lương thực cho bản thân họ và không đủ cho gia đình họ. Những người với gia đình của họ sẽ có thể mua ba đấu lúa mì cho một đơ-ni-ê. Có như thế mới cung ứng thức ăn cho gia đình của họ, nhưng lúa mì có giá trị dinh dưỡng thấp và thường để nuôi bầy gia súc. Do đó, tiền lương của một người sẽ khó mà nuôi ba người ăn với thứ thức ăn có chất lượng thấp. Cả hai bối cảnh này đều tiêu biểu cho tiền lương trong cảnh đói nghèo, và báo hiệu những điều kiện đói kém rất nghiệt ngã.
Trong ánh sáng của các điều kiện cùng cực ấy, Đức Chúa Trời cảnh báo mọi người ta chớ đụng đến [phung phí] dầu và rượu. Các thứ thực phẩm cơ bản sẽ trở thành những món xa hoa vô giá. Dầu ôliu và rượu, được sử dụng trong việc chuẩn bị và nấu nướng thức ăn, cũng như lọc cho nước sạch, cần phải được bảo vệ cẩn thận.
Một nền hòa bình giả tạo nối theo sau là những chiến cuộc trên toàn thế giới và nạn đói tàn phá trên toàn cầu sẽ kết hợp làm leo thang mọi hỗn loạn trong vũ trụ. Mọi sự nầy sẽ xảy ra trong nửa đầu của kỳ Đại Nạn, trong khi điều tồi tệ nhất sẽ xảy tới.
CÁI ẤN THỨ TƯ: SỰ CHẾT
“Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe con sanh vật thứ tư nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng vàng hiện ra. Người cỡi ngựa ấy tên là Sự Chết, và Âm phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế gian, đặng sát hại dân sự bằng gươm dao, bằng đói kém, bằng dịch lệ và bằng các loài thú dữ trên đất” (Kh 6:7-8)
Cái ấn thứ tư trong sự hiện thấy nối theo sau khuôn mẫu của ba cái ấn đầu tiên. Chiên Con đã mở cái ấn thứ tư và con sanh vật thứ tư triệu tập con ngựa thứ tư và người cởi nó. Giăng mô tả con ngựa sau cùng là con ngựa vàng vàng. Chl¯oros (ashen, vàng vàng), từ đó tiếng Anh mới có chữ “chlorophyll” (chất diệp lục) và “chlorine” “clor”), đề cập đến một màu vàng vàng. Nó mô tả thảm thực vật xanh trong nó, Tân Ước cũng sử dụng (8:7; 9:4; Mac 6:39). Màu của con ngựa mô tả tế nhị sự chết chóc màu vàng vàng của xác chết khi phân huỷ. Phải, người cởi ngựa ấy tên là Sự Chết. Sự chết giáng trên một quy mô to lớn là kết quả tất yếu của cuộc chiến tranh và nạn đói rộng khắp. Trong bối cảnh ghê khiếp và kinh khủng này, Giăng nhìn thấy theo sau với sự chết. Âm phủ (ở đây tiêu biểu cho mồ mả) như nó vốn có, trở thành kẻ đào mồ, chôn vùi hài cốt các nạn nhân của Sự Chết. Sự Chết và Âm phủ cũng song hành trong 1:18 và 20:13-14.
Tầm cở sự chết và sự huỷ diệt đan dệt bởi chiến tranh và đói kém khi ấy đã được xác định số lượng; họ [sự chết và âm phủ] được quyền tiêu diệt một góc tư dân cư của thế gian. Với dân số hiện tại của thế giới gần 6 tỷ, 1,5 tỷ người chết sẽ là tổng số đáng kinh ngạc. Trong thời đại của các thứ vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học, tổng số kinh khiếp ấy là con số đáng tin cậy. Sự chết sẽ sử dụng bốn công cụ trong phần việc tồi tệ của mình. Ba công cụ đầu tiên, gươm, đói kém và dịch lệ, thường được kết với nhau trong Kinh thánh (thí dụ ISu 21:12; IISu 20:9; Gie 14:12; 24:10; 44:13; Exe 6:11), và hết thảy bốn công cụ xuất hiện trong Exe 14:12-21.
Gươm (chiến tranh) và đói kém đã được bàn bạc rồi trong sự kết nối với cái ấn thứ hai và thứ ba; cái ấn thứ tư làm cho các điều kiện này còn tram trọng thêm. Dịch lệ dịch từ chữ thanatos, cùng một từ được dịch là “Sự Chết” sớm hơn trong câu 8. Ở đây, chủ yếu nó đề cập đến bệnh tật là nguyên nhân gây tử vong (đối chiếu 2:23; 18:8) nhưng đủ rộng để bao gồm các thiên tai như động đất mà Chúa Jêsus đã tiên đoán (Mat 24:7), lũ lụt, và núi lửa phun trào. Nó cũng đề cập đến những tác dụng của vũ khí sinh hóa học nữa.
Xuyên suốt lịch sử nhân loại, bệnh tật đã giết chết con người trên quy mô lớn hơn rất nhiều so với chiến tranh. Những binh sĩ Liên Hiệp đã chết vì bệnh tật trong cuộc Nội Chiến hơn là tử trận. Ước tính có khoảng 30 triệu người chết vì cúm đại dịch trong giai đoạn 1918-1919 — nhiều gấp ba lần so với ước tính 8,5 triệu binh sĩ thiệt mạng trong Đệ I Thế Chiến. Thêm nữa, mấy triệu người chết cùng thời điểm đó khi dịch sốt rét nổ ra ở Nga, Ba Lan và Romania. Trong một thế giới bị tàn phá bởi chiến tranh và đói kém, bệnh tật như thế không thể tránh khỏi sẽ lan đi rộng khắp.
Ở cái nhìn đầu tiên, việc bao gồm các loài thú dữ với chiến tranh, đói kém, và bệnh tật dường như gây bối rối, một khi hầu hết các tạo vật nguy hiểm cho con người, một là tuyệt chủng hoặc bị cô lập ở những khu vực không có dân cư. Nhưng một lời giải thích khả thi, ấy là tạo vật gây chết chóc nhiều nhất trong mọi tạo vật, là loài chuột, đang phát triển mạnh ở các khu đông dân cư. Loài chuột chịu trách nhiệm về hàng triệu người chết trong suốt lịch sử, cả hai: bằng cách ăn cung cấp cho, và đặc biệt là lây lan tật bệnh. Sự xuất hiện tai hại và tàn phá nặng nề nhất của bệnh lây lan từ chuột là Black Death [cái chết đen], một thứ bệnh dịch hạch xảy ra vào thế kỷ thứ mười bốn đã quét sạch ¼ cho đến 1/3 dân số ở châu Âu. Trong một thế giới bị tàn phá bởi chiến tranh, đói kém và bệnh tật, người bị hại bởi chuột cũng nhiều không kém.
Bốn cái ấn đầu tiên rõ ràng mô tả những sự phán xét tạo ra sự kinh hãi, đáng sợ mà chẳng có điều tương ứng nào trong lịch sử của nhân loại. Chẳng có một điều gì khác xảy ra kể từ khi Giăng đã có sự mặc thị nầy đã làm ứng nghiệm những sự phán xét nầy. Những lời tiên tri về ngày tận thế như thế nầy không thể đem áp dụng cho sự huỷ diệt Jerusalem vào năm 70SC (đã xảy ra trước khi Giăng có sự hiện thấy nầy, một khi ông viết sách Khải huyền khoảng năm 96SC) hoặc bất kỳ biến cố nào khác kể từ biến cố ấy. Sự tàn phá nầy chưa xảy ra, tuy nhiên bốn sự phán xét đầu tiên bằng ấn như thế nầy chỉ là khởi đầu của những cơn khốn nạn kinh khủng mà thế giới tội lỗi, loạn nghịch sẽ kinh nghiệm. Còn tệ hại hơn nữa là mấy cái ấn còn lại, tiếng kèn và những cái bát sẽ tới đến nữa. Vào thời điểm ấy, thế giới tội nhân sẽ nhìn biết rằng “sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (He 10:31). Sẽ chẳng có một lối thoát nào dành cho những kẻ vô tín không chịu ăn năn thoát khỏi những kinh khiếp của Kỳ Đại Nạn, hoặc khỏi những kinh khủng tệ hại không xiết kể của địa ngục. Trong lời lẽ của trước giả thơ Hê-bơ-rơ: “mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được?” (He 2:3).