Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy. Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mặt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực. Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy. Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán. Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta. Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa. Những châu chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận: trên đầu nó có như mão triều thiên tợ hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta; nó có tóc giống tóc đàn bà, và răng nó như răng sư tử. Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến trường. Đuôi nó có nọc, như bọ cạp, ấy bởi trong những đuôi đó mà chúng nó có quyền hại người ta trong năm tháng. Nó có vua đứng đầu, là sứ giả của vực sâu, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn. Nạn thứ nhất đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó. (Kh 9:1-12)
Bởi vì thế giới của chúng ta là nhà hát mà ở đó diễn ra câu chuyện cứu chuộc vinh hiển, tôn vinh danh Đức Chúa Trời, Sa-tan cùng các sứ nó đã tấn công dòng giống con người, biến trái đất thành bãi chiến trường chính trong cuộc chiến tranh vũ trụ nghịch cùng Đức Chúa Trời, các thiên sứ thánh, và người được chọn. Sa-tan đã phát động cuộc tấn công đầu tiên trong Vườn Ê-đen, ở đó hắn đã cám dỗ thành công A-đam và Ê-va phải bất tuân Đức Chúa Trời. Những hậu quả thảm khốc, ấy là “tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội” (Ro 5:12).
Sau Sự Sa Ngã, Đức Chúa Trời đã giàu ơn hứa ban một Đấng Cứu Thế, Ngài sẽ đến để tiêu diệt Sa-tan và giải phóng con người khỏi quyền lực của hắn (Sa 3:15). Sa-tan đã chống lại bằng cách sai ma quỉ đến sống chung với phụ nữ, với nỗ lực tạo ra dòng giống nửa quỉ nửa người mà Người-Trời không thể chuộc được (Sa 6:1-4). Đáp lại, Đức Chúa Trời đã hủy diệt dòng giống ấy và toàn thế giới tội lỗi này trong sự phán xét mạnh mẽ của Nạn Lụt trên toàn cầu — thảm hoạ lớn lao nhất mà địa cầu đã từng xem thấy.
Sự hành hại của Sa-tan đối với Gióp công bình cho thấy sự hận thù của hắn đối với người tin kính. Sa-tan tìm cách huỷ diệt đức tin của Gióp — để đưa ông từ vương quốc của Đức Chúa Trời về lại với nước tối tăm của hắn. Với sự cho phép của Đức Chúa Trời, Sa-tan đã phá hủy tài sản của Gióp, giết chết con cái của ông, và hủy hoại sức khoẻ của ông. Gióp đã bị bỏ lại với một người vợ cay đắng (Giop 2:9), những người bạn mà sự mưu luận của họ đã khiến ông bị mất tập trung, và nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về lý do tại sao Đức Chúa Trời lại để cho ông phải chịu khổ. Nhưng Gióp vẫn trung thành với Đức Chúa Trời, minh chứng rằng đức tin cứu rỗi là vĩnh cửu và Đức Chúa Trời gìn giữ kẻ thuộc về Ngài, để rồi đến cuối cùng Đức Chúa Trời được biện minh, và nỗ lực của Sa-tan hòng tiêu diệt đức tin của Gióp, giống như nỗ lực ấy đã làm với bất kỳ tín đồ nào khác, không thành công. Như hắn đã làm với Gióp, Sa-tan liên tục cáo giác những người tin Chúa trước mặt Đức Chúa Trời (12:10, đối chiếu Xa 3:1).
Không một quốc gia nào đã trải qua nhiều cuộc tấn công của Sa-tan hơn Israel. Hắn luôn có một sự hận thù đặc biệt đối với tuyển dân của Đức Chúa Trời: “là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ” (Ro 9:5). I Sử ký 21 ghi lại một trong các cuộc tấn công của hắn: “Sa-tan dấy lên muốn làm hại cho Y-sơ-ra-ên, bèn giục Đa-vít lấy số Y-sơ-ra-ên … Điều đó chẳng đẹp lòng Đức Chúa Trời; nên Ngài hành hại Y-sơ-ra-ên” (các câu 1, 7). Sự trừng phạt của Đức Chúa Trời mang hình thức một trận dịch lệ, trong đó có bảy mươi ngàn người Israel bị chết mất (câu 14). Trong suốt lịch sử, Sa-tan đã dụ dỗ Israel và Giuđa vào sự thờ lạy hình tượng, phi đạo đức và bất tuân đối với luật pháp của Đức Chúa Trời. Kết quả là, Đức Chúa Trời đã đem sự phán xét giáng trên dân sự của Ngài, đưa họ vào cuộc phu tù trong xứ A-si-ri và Ba-by-lôn. Vào kỳ đại nạn trong tương lai, một lần nữa Sa-tan sẽ nỗ lực tiêu diệt dân tuyển đó (12:1-6, 13-17).
Từ đầu đến cuối chức vụ trên đất của Chúa Jêsus, Sa-tan đã hết sức chiến đấu với cơn giận dữ cùng kiệt của mình để chống lại Đức Chúa Jêsus Christ. Hắn đã cám dỗ Đấng Christ trong bốn mươi ngày vào thời điểm Ngài bắt đầu chức vụ, rồi tìm cách gạt Ngài qua một bên khỏi công việc mà Cha Ngài đã sai đến để lo hoàn thành (Mat 4:1-11). Một cuộc chiến lâu dài và không ngừng nghỉ diễn ra chống lại Chúa Jêsus bởi các cấp lãnh đạo Do-thái, Ngài đã xác định họ thuộc về gia tộc ma quỉ (Gi 8:44). Sa-tan không bao giờ ngừng nỗ lực đó, thậm chí cố gắng sử dụng những người thân thiết với Chúa Jêsus chống lại Ngài (Mac 8: 32-33). Sa-tan đã cố gắng hủy diệt đức tin của cấp lãnh đạo hàng sứ đồ, là Phi-e-rơ, đòi hỏi từ Đức Chúa Trời cơ hội thử thách ông theo cách nặng nề (Lu 22: 31-32) với dự tính phá huỷ đức tin của ông (như hắn đã cố gắng không thành công khi thực hiện với Gióp). Thử nghiệm được Đức Chúa Trời cho phép và rất là nặng nề. Thử thách ấy đã khiến Phi-e-rơ phải sợ hãi và chối Chúa ba lần (Lu 22: 34, 54-61), song Phi-e-rơ đã ăn năn (Lu 22:62) và được phục hồi (Gi 21:15-23) để trở thành nhà truyền giáo lỗi lạc trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Cong 2:14 …). Ở phần kết chức vụ của Chúa Jêsus: “Vả, quỉ Sa-tan ám vào Giu-đa, gọi là Ích-ca-ri-ốt, là người trong số mười hai sứ đồ” (Lu 22:3), ông ta đã nộp Đấng Christ vào tay những kẻ giết Ngài.
Hội thánh cũng là một mục tiêu đặc biệt cho cuộc tấn công của Sa-tan. Không lâu sau khi thành lập Hội thánh, chính Sa-tan đã thúc giục A-na-nia và vợ là Sa-phia-ra làm đồi bại Hội thánh bằng cách nói dối với Đức Thánh Linh (Cong 5:3). Sự nỗ lực ngu xuẩn, tội lỗi và đạo đức giả của cặp vợ chồng nầy muốn gây ấn tượng với những người khác với tình trạng thuộc linh của họ đã kết thúc khi Đức Chúa Trời khiến họ phải ngã chết trước mặt cả hội chúng (Cong 5:5-11). Sa-tan cũng đánh trận với sứ đồ Phao-lô, ngăn trở ông đến thăm Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca (ITe 2:18) và hành hạ ông bằng “một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan” (IICo 12:7). Sa-tan cũng tấn công Hội thánh bằng cách đưa những người không tin Chúa vào đó, trộn lẫn cỏ lùng của hắn vào lúa mì của Đức Chúa Trời (Mat 13:38-39), làm mù quáng lý trí những kẻ chưa tin Chúa để họ chối bỏ Tin lành (IICo 4:4; đối chiếu Lu 8:12), và tìm cách áp đảo các tín hữu sự cám dỗ, bắt bớ và ngã lòng (IPhi 5:8). Đức Chúa Trời tễ trị cho phép và giám sát mọi cuộc tấn công của Sa-tan và hoàn thành các mục đích của Ngài bất chấp chúng và qua chúng. Sa-tan là tôi tớ của Đức Chúa Trời.
Trong tương lai, Sa-tan sẽ phục vụ mục đích của Đức Chúa Trời bằng cách được phép mở ra một cuộc tấn công gây chết chóc khác chống lại dòng giống con người. Cuộc tấn công đó sẽ đến khi tiếng loa thứ năm trổi lên, suốt thời điểm phán xét của Đức Chúa Trời trong kỳ Đại Nạn (7:14). Trong hàng ngàn năm, thiên đàng đã công bố sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (đối chiếu Thi 19:1-2), nhưng trong tương lai họ sẽ công bố ra cơn thạnh nộ của Ngài. Những sự phán xét qua bốn tiếng loa đầu tiên hết thảy sẽ liên quan đến các vật thể từ bầu trời bay đụng vào địa cầu, hoặc, trong trường hợp tiếng loa thứ tư, tự các thiên thể sẽ bị tác động (8:7-12).
Trong khi sự hủy diệt gây ra bởi bốn sự phán xét đầu tiên bằng tiếng loa sẽ rất là thảm khốc, còn lại ba tiếng loa sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Đó là sứ điệp được đưa ra bởi “chim phụng hoàng bay giữa trời” (8:13). Nó phát ra một sứ điệp ba lần về khốn khổ (mỗi sứ điệp cho từng tiếng loa trong ba tiếng loa sau cùng) giáng trên “dân sự trên đất” (8:13) — một thuật ngữ trong sách Khải huyền cho hạng người chưa được tái sanh (đối chiếu 6:10; 11:10; 13:8, 12, 14; 14:6; 17:2, 8) — vì những sự kinh hoàng mà những sự phán xét bằng ba tiếng loa sau cùng sẽ được thả ra. Sứ điệp của chim phụng hoàng sẽ cung ứng cho mọi người cơ hội cuối cùng để ăn năn trước thời điểm sự phán xét thiêng liêng đạt đến đỉnh cao của nó trong ba vụ bùng nổ sau cùng của cơn thạnh nộ thánh của Đức Chúa Trời. Thật vậy, có vẻ như những kẻ đã nếm trải sự phán xét của tiếng loa thứ năm không chịu ăn năn có thể được khẳng định trong tình trạng không ăn năn của họ (đối chiếu 9:20-21; 16:9, 11).
Từng sự phán xét trong bốn tiếng loa đầu tiên đều tác động đến vũ trụ vật chất theo một cách thức nào đó, nhưng với tiếng loa thứ năm, mục tiêu sẽ chuyển từ lãnh vực thuộc thể sang lãnh vực thuộc linh. Những sự kiện chấn thương kết hợp với sự mặc thị ở tiếng loa thứ năm được mở ra trong bốn bối cảnh: vực sâu không đáy, quyền phép được bung ra, bộ dạng được tỏ ra, và nhà vua lộ diện.
VỰC SÂU KHÔNG ĐÁY
Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy. Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mặt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực. (Kh 9:1-2)
Khi vị thiên sứ thứ năm thổi loa, Giăng thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất. Trong sự mặc thị của ông, vị sứ đồ đã thấy rồi một số thiên thể lao xuống địa cầu (đối chiếu 6:13; 8:8, 10). Tuy nhiên, không giống như chúng, ngôi sao này không phải là một mảng vật chất trong vũ trụ, mà là một hữu thể thiên sứ (đối chiếu Giop 38:7). Hắn được truyền cho từ trời rơi xuống đất cho thấy đây là một tham khảo đến Sa-tan — là thiên sứ lãnh đạo của tất cả các thiên sứ sa ngã. Es 14:12-15 mô tả sự sa ngã của thiên sứ nầy:
Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao. Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! (đối chiếu Exe 28:12–16; Lu 10:18)
Sự sa ngã của Sa-tan được mô tả ở 9:1 chưa phải là sự loạn nghịch gốc của hắn. Mặc dù hắn cùng các thiên sứ nào cùng sa ngã với hắn (đối chiếu 12:4) đều bị trục xuất ra khỏi thiên đàng, Sa-tan còn giữ được quyền tiếp cận sự hiện diện của Đức Chúa Trời, ở đó hắn thường xuyên cáo buộc những người tin Chúa (12:10; Giop 1:6). Nhưng trong suốt kỳ Đại nạn, hắn cùng các sứ hắn sẽ đánh trận không thành công với thiên sứ Mi-ca-ên và các thiên sứ thánh. Như một kết quả thất bại của họ, họ sẽ thường xuyên bị quăng xuống đất. Kh 12:7-9 mô tả bối cảnh chiến trận đó:
Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại; song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa. Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó.
Với sân khấu hoạt động của hắn bây giờ bị hạn chế trên đất, và thời gian của hắn sắp cạn rồi (đối chiếu 12:12), Sa-tan sẽ tìm cách sắp xếp lại hết thảy các quỉ sứ hắn — các ma quỉ đã có sẵn rồi ở trên đất, những quỉ sứ bị quăng xuống đất cùng với hắn, và những quỉ sứ bị giam giữ trong vực sâu không đáy (sát nghĩa là “hố sâu thăm thẳm”). Abussos (không đáy) xuất hiện bảy lần trong sách Khải huyền, luôn luôn đề cập đến nơi trú ngụ của ma quỉ bị giam giữ ((đối chiếu 9:2, 11; 11:7; 17:8). Chính Sa-tan sẽ bị giam ở đó trong suốt thời kỳ thiên hi niên, bị xiềng khoá lại cùng với các quỉ sứ bị nhốt khác nữa (20:1, 3).
Kinh thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đã tễ trị lựa chọn giam giữ một số quỉ sứ trong vực sâu trừng phạt đó. II Phierơ 2:4 chép rằng: “Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét”. Cụm từ “quăng vào trong vực sâu” là một phân từ rút ra từ danh từ Tartarus tiếng Hy-lạp. Giống như Chúa Jêsus đã dùng một thuật ngữ nói tới địa ngục được rút ra từ tiếng Do-thái (Gehenna; đối chiếu Mat 5:22), cho nên Phi-e-rơ đã chọn một thuật ngữ từ thần thoại Hy-lạp mà độc giả của ông rất quen thuộc. Tartarus là tên được sử dụng trong văn học Hy-lạp nói tới địa điểm mà những tội phạm tồi tệ nhất, những kẻ đã từng xúc phạm đến các vị thần, đi đến sau khi chết và bị trừng phạt. Chỗ mà ở đó Đức Chúa Trời giữ tù các quỉ sứ thực sự khác với địa điểm tưởng tượng trong thần thoại Hy-lạp. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ Tartarus dường như mang ý tưởng cho rằng vì cớ sự gian ác tội lỗi của họ, Đức Chúa Trời đã giam giữ các thiên sứ sa ngã trong một địa điểm khổ hình và cô lập nhứt thể ấy. Chúng vẫn ở lại chỗ ấy, chờ đợi sự kết án đến hình phạt sau cùng trong hồ lửa đời đời (Kh 20:10, 13-14).
Ma quỉ bị giam trong vực sâu chắc chắn sẽ là hạng độc ác, tàn bạo và hư hỏng nhất trong các thiên sứ sa ngã. Giu-đe mô tả một số trong chúng như “còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình”, hãy lưu ý rằng Đức Chúa Trời: “dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn. Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cùng các thành lân cận cũng buông theo sự dâm dục và sắc lạ, thì đã chịu hình phạt bằng lửa đời đời, làm gương để trước mặt chúng ta” (Giu 1:6-7). Phân đoạn Kinh Thánh đó mô tả các thiên sứ sa ngã nào đã rời bỏ lãnh vực thiên sứ để thưởng thức tội tình dục với con người, giống như con người ở thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ đã nỗ lực lao vào tình dục với các thiên sứ (Sa 19:1, 4-5).
Phi-e-rơ tỏ ra thời điểm tội lỗi của các thiên sứ nầy diễn ra:
Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống. Ấy bởi đồng một linh hồn đó, Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù, tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục chờ đợi, chiếc tàu đóng nên, trong đó có ít người được cứu bởi nước, là chỉ có tám người. (I Phierơ 3:18–20).
Các “linh hồn bị tù” trong vực sâu “tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê”. Họ là những ma quỉ sống chung với phụ nữ trong nỗ lực thất bại của Sa-tan để làm bại hoại nhân loại và khiến cho dòng giống ấy không thể chấp nhận được (Sáng thế ký 6:1-4). Ma quỉ đó vẫn sợ mình bị quăng xuống vực sâu rất là rõ ràng từ sự thực có ma quỉ đã nài xin Chúa Jêsus đừng đưa chúng đến đó (Lu-ca 8:31). Điều đó cho thấy rằng các quỉ khác đã bị giam giữ ở đó kể từ các biến cố ở Sáng thế ký 6. Ma quỉ mà Sa-tan thả ra ở tiếng loa thứ năm có thể không bao gồm những kẻ đã phạm tội trong thời của Nôê (đối chiếu Giu-đe 6), một khi họ được truyền cho phải bị “xích lại đời đời” (Giu-đe 6) cho đến ngày cuối cùng khi chúng được đưa đến hồ lửa đời đời (20:10; Giu-đe 7). Những ma quỉ khác bị giam trong vực sâu có thể là những ma quỉ đã được thả ra. Vì vậy, vực sâu là nơi giam giữ tạm cho ma quỉ mà từ đó một số sẽ được thả ra dưới sự phán xét nầy.
Sau khi Satan nhận được chìa khóa dẫn đến vực sâu từ đấng giữ nó, là Đức Chúa Jêsus Christ (1:18), hắn mở vực sâu không đáy ra rồi thả các tù nhân của nó. John Phillips nhận xét:
Hãy hình dung thế gian sẽ như thế nào nếu chúng ta mở hết cửa của tất cả tù phạm của trái đất và buông tha những tên tội phạm hung ác và bạo lực nhất thế giới, trao cho họ trọn vẹn quyền cai trị để thực hành mọi sự bĩ ỗi của chúng trên con người. Một cái gì đó tồi tệ hơn đang chất chứa cho thế giới. Sa-tan, bị quăng ra khỏi thiên đàng, giờ đây đã được phép triệu tập các quỉ dữ độc ác nhất trong vực sâu để hành động như các đại biểu của hắn trong việc đưa nhân loại đến bệ chơn của Con Thú. (Exploring Revelation, Revelation ed. [Chicago: Moody, 1987, reprint, Neptune, N. J .: Loizeaux, 1991], 125).
Khi vực sâu mở ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn. Khói trong sách Khải huyền có thể đề cập đến những việc thánh (8:4; 15:8), nhưng thường được kết hợp với sự phán xét (9:17-18; 14:11; 18:9,18; 19:3; đối chiếu Sa 19:28; Es 34:10; Gio 2:30; Na 2:13). Một luồng khói khổng lồ phát ra từ vực sâu đến nỗi mặt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực. Luồng khói gây ô nhiễm bầu trời tượng trưng cho sự bại hoại của địa ngục đang phát lên từ vực sâu để làm ô nhiễm cả thế giới.
QUYỀN PHÉP ĐƯỢC BUNG RA
Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy. Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán. Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta. Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa. (Kh 9:3-6)
Từ luồng khói khổng lồ, bốc mùi, nguy hiểm làm đen tối bầu trời và gây ra sự hoảng loạn giữa những cư dân trên đất, Giăng đã nhìn thấy một nỗi kinh hoàng mới xuất hiện. Ma quỉ, lấy hình thể trông thấy được bằng mắt thường giống như bầy châu chấu, bay ra khỏi vực sâu để hành hại cả đất. Sức mạnh tàn phá của bầy châu chấu được ghi nhận trong một vài phân đoạn trong Cựu Ước (Phục truyền luật lệ ký 28:38; II Sử ký 7:13; Thi thiên 105:34; Giô-ên 2:25; Na-hum 3:15); bầy châu chấu tiêu thụ tất cả các thảm thực vật trên đường đi của chúng. Bối cảnh này là một sự gợi nhớ đến dịch lệ cào cào trong xứ Ai-cập (Xuất Êdíptô ký 10:4–5, 12–20), và phần mô tả về dịch lệ châu chấu ở Giô-ên 1:1-7; 2:1-5, nhưng còn tệ hại hơn nhiều lắm. Hình ảnh luồng khói là một sự mô tả thích hợp về trận dịch cào cào, một khi hàng triệu châu chấu giống như bầy côn trùng dày đặc đến nỗi chúng có thể làm đen tối bầu trời và che khuất mặt trời, biến ngày thành đêm. Bầy châu chấu rất lớn ở cấp độ không thể tưởng tượng được (đối chiếu Thi thiên 105:34); một bầy trên Biển Đỏ vào năm 1889 đã được báo cáo là phủ hết 2.000 dặm vuông. Sự huỷ diệt mà chúng có thể gây ra cho mùa màng và các thảm thực vật khác là đáng kinh ngạc (đối chiếu II Sử ký 7:13). John Phillips viết:
Dịch châu chấu tồi tệ nhất trong thời kỳ hiện đại đã tấn công Trung Đông vào năm 1951-1952 khi ở Iran, Iraq, Jordan, và Ả Rập Xê-út mọi thứ có màu xanh lá cây và phát triển bị cắn nuốt trên cả mấy trăm ngàn dặm vuông. Bầy châu chấu ăn lúa, lá và cuống lá, đáp xuống vùng đất trống. Khi một bầy phát sinh và bay trên đường đi của nó, cánh đồng xanh lá cây bị bỏ lại giống như sa mạc; sự trơ trọi và tàn phá trải dài thật xa mà mắt thường trông thấy được. (Exploring Revelation, 125–26).
Nhưng đây không phải là bầy châu chấu bình thường, mà là ma quỉ, giống như bầy châu chấu, mang lại sự tàn phá rộng khắp. Khi mô tả chúng dưới dạng châu chấu tượng trưng cho số lượng không thể đếm được của chúng và khả năng hủy diệt khổng lồ của chúng. Kỳ thực, ba lần trong phân đoạn (các câu 3, 5, 10) quyền của chúng gây ra đau khổ được sánh với bầy bò cạp cho thấy rằng chúng không phải là châu chấu thực sự, một khi châu chấu không có đuôi để chích như bọ cạp. Bọ cạp là một loài nguy hiểm, thuộc họ nhện, trú ngụ ở những khu vực ấm, khô, và có một cái đuôi dựng đứng kim chích thật độc. Nọc của nhiều loài bọ cạp gây ra đau đớn, và khoảng hai chục loài có khả năng giết chết con người. Các triệu chứng của nọc độc từ một trong những loài gây chết người, bao gồm co giật và tê liệt nặng nề, giống với những người kẻ bị quỉ ám (đối chiếu Mac 1:23-27; 9:20, 26). Kết hợp trong phần mô tả ma quỉ cả châu chấu và bọ cạp nhấn mạnh đến sự chết chóc trong sự xâm lược của ma quỉ. Nhưng đau khổ gây tàn phá bởi bầy ma quỉ nầy sẽ tồi tệ hơn nhiều so với đau đớn do loài con bọ cạp đích thực gây ra. Trong sự phán xét này, Đức Chúa Trời đưa ma quỉ vào sự tiếp xúc trực tiếp với hạng người không chịu ăn năn mà với chúng họ sẽ qua cõi đời đời trong hồ lửa. Sự thực cho thấy rằng các tạo vật giống như loài châu chấu và bọ cạp này ra từ vực sâu và vị lãnh tụ của chúng là “sứ giả của vực sâu” (9:11) cho thấy rằng ma quỉ phải được nhìn thấy trong bối cảnh này. Ma quỉ cũng được phác hoạ như các tạo vật từ vương quốc động vật ở 16:13, ở đó chúng xuất hiện là ếch nhái. Buồn thay, ngay cả kinh nghiệm khủng khiếp của ma quỉ xâm nhập như thế này sẽ không khiến cho nhiều người ăn năn (đối chiếu 9:20-21), nếu có.
Những hạn chế nghiêm ngặt đã được đặt vào các hoạt động của đạo binh ma quỉ này. Sự phán xét này, không giống như những sự phán xét của bốn tiếng loa đầu tiên, không nhắm vào thế giới vật chất. Thực vậy, có lời truyền cho chúng (có lẽ bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho thiên sứ chìa khóa vực sâu ở 9:1, và Ngài điểm soát mọi sự vì các mục đích của Ngài) là có những giới hạn. Đức Chúa Trời ngăn cấm bầy ma quỉ nầy chớ làm hại loài cỏ trên đất, thứ xanh hay cây cối nào (đối chiếu 8:7). Một lần nữa sự việc cho thấy rằng chúng không thực sự là loài côn trùng, vì châu chấu thực phải cắn nuốt sự sống thực vật. Sự tham khảo đến cỏ trên đất cho thấy rằng một thời gian đã trôi qua kể từ khi sự phán xét bằng tiếng loa đầu tiên đã thiêu cháy toàn bộ cỏ có trong kỳ (8:7). Cỏ bị hư hại đã khởi mọc lại và vẫn không bị hại gì bởi trận dịch này, cho thấy rằng đã có đủ thời gian cho sự phục hồi một phần môi trường của đất.
Công việc của ma quỉ không nhắm vào thực vật, mà nhắm vào con người — không phải tất cả mọi người, mà chỉ nhắm vào những kẻ không có dấu ấn của Đức Chúa Trời trên trán của họ. Những người tin Chúa sẽ được bảo toàn, giống như Đức Chúa Trời che chở cho Y-sơ-ra-ên khỏi các hậu quả của các trận dịch ở Ai-cập (Xu 8:22…; 9:4…; 10:23). Những người nào có dấu ấn của Đức Chúa Trời trên trán, bao gồm không những 144.000 nhà truyền đạo người Do thái (7:3-4; 14:1), mà còn phần còn lại của những người được chuộc (đối chiếu 22:4; IITi 2:19). Dấu ấn nầy khiến cho họ về mặt cá nhân thuộc về Đức Chúa Trời rồi được bảo hộ thể ấy khỏi các thế lực của địa ngục. Chúa Jêsus đã hứa với các tín hữu trung tín Phi-la-đen-phia rằng “kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người” (3:12).
Exe 9:4-6 minh hoạ lẽ thật mà Đức Chúa Trời bảo hộ dân sự Ngài ở giữa sự phán xét. Đức Chúa Trời đã truyền cho một thiên sứ đi ngang qua thành Jerusalem rồi đặt dấu hiệu trên kẻ được chuộc. Người nào không có dấu hiệu ấy không sợ cái chết khi thành phố sa vào tay người Ba-by-lôn:
mà phán rằng: Hãy trải qua giữa thành tức giữa Giê-ru-sa-lem, ghi dấu trên trán những người nào than thở khóc lóc về mọi sự gớm ghiếc đã phạm giữa thành nầy. Rồi Ngài phán cùng những người kia cách như cho tôi nghe rằng: Hãy qua trong thành đằng sau nó, và đánh; mắt ngươi chớ đoái tiếc, và đừng thương xót. Nào già cả, nào trai trẻ, nào gái đồng trinh, nào con nít, đàn bà, hãy giết hết; nhưng chớ lại gần một kẻ nào là kẻ đã có ghi dấu; và khá bắt đầu từ nơi thánh ta. Vậy các người ấy bắt đầu từ các người già cả ở trước mặt nhà.
Ngay cả những gì ma quỉ có thể làm cho người chưa được tái sanh cũng bị hạn chế. Mặc dù Sa-tan có quyền về sự chết (He 2:14), việc thực thi quyền ấy phụ thuộc vào ý định và quyền phép tối cao của Đức Chúa Trời, vì vậy ma quỉ này được phép không phải là giết. Sau cả ngàn năm làm phu tù, ma quỉ độc ác chắc chắn sẽ muốn làm cho ai nấy nhìn biết mọi sự ác độc của chúng bằng cách tàn sát mọi người. Chắc chắn Sa-tan sẽ muốn giết hết những ai chưa được tái sanh để giữ họ đừng ăn năn. Nhưng Đức Chúa Trời, trong ơn thương xót của Ngài, sẽ khiến cho mọi người khổ sở trong năm tháng (vòng đời bình thường của loài châu chấu, thường từ tháng 5 đến tháng 9), trong thời gian đó chúng không thể chết nhưng sẽ được cung ứng cho cơ hội ăn năn và chấp nhận Tin lành. “Khổ” mô tả hình phạt trong Khải huyền (11:10; 14:10–11; 18:7, 10, 15; 20:10; ngoại lệ duy nhứt là 12:2; “nhọc nhằn” cũng là một từ Hy-lạp ở chỗ khác dịch là “hình khổ”). Thời kỳ 5 tháng đó sẽ là thời kỳ đau khổ ghê gớm về mặt thuộc linh và khổ sở theo phần xác giáng trên những kẻ vô tín bởi sự phán xét của Đức Chúa Trời qua đạo binh ma quỉ. Sự phán xét đáng sợ này được ví như nỗi khổ gây ra bởi một con bọ cạp khi nó cắn người ta. Những người không tin cũng sẽ nghe sứ điệp cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ được rao giảng bởi 144.000 nhà truyền đạo người Do-thái, hai chứng nhân và nhiều tín đồ khác. Năm tháng sẽ được dành cho nhiều người cơ hội cuối cùng để ăn năn và tin Chúa, trước khi họ ngã chết hoặc bị nhọc nhằn vĩnh viễn vì cớ sự vô tín của họ (9:20-21; 16:9, 11).
Như vậy, hình khổ kinh khủng sẽ được giáng trên những kẻ vô tín ấy trong những ngày đó (năm tháng của câu 5) người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa. Mọi hy vọng sẽ qua đi mất; sẽ chẳng có ngày mai đâu. Đất mà người ta yêu mến và thờ lạy sẽ bị tàn phá hoàn toàn, đất bị tàn phá bởi trận động đất, lửa, và núi lửa, biển đầy những xác của hàng tỉ sinh vật chết, phần lớn nguồn nước ngọt biến thành chất độc cay đắng, bầu khí quyền bị ô nhiễm bởi các khí gas và mưa rào các mãnh vụn từ trên trời. Khi ấy, tồi tệ nhất, sẽ có khói từ vực sâu địa ngục khi ma quỉ được thả ra gây khổ sở hạng người xấu xa về mặt thuộc linh và thuộc thể. Mơ mộng về điều không tưởng khắp thế gian dưới sự lãnh đạo của Anti-christ (con thú ở 13:1 …) sẽ gục chết. Bị điên cuồng bởi sự phá hoại thứ năm và và độc ác của ma quỉ, người ta sẽ tìm cách thoải mái trong cái chết — chỉ để thấy rằng sự chết đã đi dự kỳ nghỉ của nó. Sẽ không thoát khỏi sự thống khổ do ma quỉ gây ra, sẽ không tránh khỏi được sự phán xét thiêng liêng. Mọi nỗ lực tự tử, dù là đạn dược, thuốc độc, chết chìm, hoặc nhảy từ các tòa nhà cao tầng, sẽ thất bại.
BỘ DẠNG ĐƯỢC TỎ RA
Những châu chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận: trên đầu nó có như mão triều thiên tợ hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta; nó có tóc giống tóc đàn bà, và răng nó như răng sư tử. Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến trường. Đuôi nó có nọc, như bọ cạp, ấy bởi trong những đuôi đó mà chúng nó có quyền hại người ta trong năm tháng. (Kh 9:7-10)
Sau khi phác hoạ sự tàn phá mà bầy châu chấu (ma quỉ) gây ra, Giăng đưa ra phần mô tả chi tiết hơn về bộ dạng của chúng trong sự mặc thị. Chúng được mô tả là bầy châu chấu bởi vì chúng mang lại sự phán xét nhanh chóng, to lớn, gây tàn phá của Đức Chúa Trời ((đối chiếu Xu 10:4-5,12-15; Phu 28:38; IVua 8:37; IISu 7:13; Thi 78:46; 105:34; Gio 2:1…; Am 7:1), nhưng các đặc điểm ghê khiếp, quá mức của chúng cho thấy chúng không giống như bất kỳ bầy châu chấu, bọ cạp nào, hay bất kỳ tạo vật nào khác chưa từng thấy có trên đất. Giăng chỉ có thể cung ứng tính cách xấp xỉ của một đạo quân thuộc linh nầy ghê khiếp là dường nào, như việc sử dụng lặp đi lặp lại các thuật ngữ giống như (được sử dụng mười lần trong phân đoạn này) và tợ hồ. Để mô tả đạo binh ma quỉ siêu nhiên và lạ lẫm, Giăng chọn các phép loại suy quen thuộc và tự nhiên.
Bộ dạng chung của bầy châu chấu giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận. Chúng ưa thích chiến tranh, mạnh mẽ và đầy thách thức, giống như những con ngựa đang căng thẳng và chân cào đất trong sự nóng nảy của chúng nhắm vào sứ mệnh về giết chóc. Gio 2:4-5 mô tả một trận dịch châu chấu bằng các thuật ngữ tương tự. Trên đầu của chúng, Giăng nhìn thấy có như mão triều thiên bằng vàng. Mão triều thiên chúng đội được gọi là stephanoi, mão triều thiên của người chiến thắng, cho thấy rằng đạo binh ma quỉ sẽ bất khả chiến bại, không ai có thể bắt phục được. Người ta sẽ chẳng có thứ vũ khí nào có thể gây hại cho chúng và không có sự chữa lành nào cho những hình khổ khủng khiếp do chúng gây ra. Mặt của chúng giống như mặt người ta cho thấy chúng là những hữu thể thông minh, có lý trí, chớ không phải là loài côn trùng đích thực. Trong khi Gie 51:27 mô tả bầy châu chấu như nhiều như lông cừu, phần mô tả về tóc của chúng giống như tóc của đàn bà nhấn mạnh nhiều đến sự quyến rũ của chúng. Sự vinh quang hay vẻ đẹp của một người nữ là mái tóc của nàng, là thứ mà nàng có thể trang điểm để trở nên quyến rũ hơn. Giống như các nàng tiên trong thần thoại Hy-lạp, bầy châu chấu là ma quỉ này sẽ thu hút người ta đến với sự diệt vong. Răng nó như răng sư tử (đối chiếu Gio 1:6), chúng sẽ khốc liệt, mạnh mẽ và gây chết chóc nhiều hơn cả sư tử, xé toạc và phân thây các nạn nhân của chúng. Bộ giáp bằng sắt, được thiết kế để bảo vệ các cơ quan quan trọng và bảo toàn sinh mạng của người lính, ở đây tiêu biểu cho tính bất khả xâm phạm của ma quỉ; chống lại hay tiêu diệt chúng sẽ là điều bất khả thi. Trong một phép ẩn dụ được rút ra từ bãi chiến trường, Giăng, như tiên tri Giô-ên (Gio 2:4-5), ví tiếng cánh của chúng với một đạo binh đang di chuyển, lưu ý rằng tiếng ấy giống như tiếng của nhiều xe, có nhiều ngựa kéo ra chạy ra nơi chiến trường. Sẽ chẳng thoát khỏi cuộc tấn công lớn lao, toàn cầu; không có một chỗ nào để chạy trốn hết. Sự ví sánh ba lần về ma quỉ với bọ cạp (đối chiếu các câu 3, 5) nhấn mạnh rằng sứ mệnh duy nhất của chúng là làm hại cho người ta. Bản chất hình khổ hết mức nầy của ma quỉ khiến cho ai nấy tìm kiếm cái chết và không gặp được nó, muốn theo đuổi sự chết mà không nắm được nó, không được mô tả. Tuy nhiên, với một cái nhìn vào một số minh họa của Kinh thánh về hình khổ của ma quỉ cung ứng một cái nhìn sâu sắc. Người cuồng tín ở Ga-đa-ra đã bị hình khổ của ma quỉ đến nỗi họ bị điên cuồng, sống trong khu mồ mả (Mat 8:28). Ở xứ Ga-li-lê Chúa Jêsus gặp gỡ toàn những kẻ bị quỉ ám khổ sở (Mat 4:23-24). Một đầy tớ của thầy đội bị hình khổ tra tấn do bịnh bại (Mat 8:6). Một cậu bé bị quỉ ám đã tự ném mình vào ngọn lửa và nước trong các hành động tự huỷ diệt (Mac 9:20-22). Những hình khổ cả thuộc linh và thuộc thể như thế là do ma quỉ gây ra. Trong năm tháng chúng sẽ làm như vậy cho cả thế giới của hạng tội nhân bất kỉnh. Sự lặp đi lặp lại ma quỉ sẽ được phép hình khổ người ta trong một thời gian có hạn nhấn mạnh quyền phép tối thượng của Đức Chúa Trời trên khoảng thời gian tấn công của chúng. Chắc chắn, Ngài sẽ đẩy chúng trở lại vực sâu với cấp lãnh đạo gian ác của chúng (20:1-3) và rồi đưa chúng vào hồ lửa (20:10).
NHÀ VUA LỘ DIỆN
Nó có vua đứng đầu, là sứ giả của vực sâu, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn. Nạn thứ nhất đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó. (Kh 9:11-12)
Không giống như bầy châu chấu đích thực (đối chiếu Châm ngôn 30:27), ma quỉ có vua đứng đầu. Giăng cung ứng tước hiệu sứ giả của vực sâu. Có người xác định thiên sứ này là Sa-tan, nhưng lãnh địa của hắn là ở trên trời (Eph 6:12), ở đó hắn là “vua cầm quyền chốn không trung” (Eph 2:2). Hắn chẳng liên quan đến vực sâu cho đến khi hắn bị quăng vào đó (20:1-3). Tốt hơn, thiên sứ này được xem là một con quỉ có đẳng cấp cao trong hệ thống cấp bậc của Sa-tan. Giăng lưu ý rằng tên của hắn theo tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn. Giăng sử dụng cả hai cái tên đó để nhấn mạnh đến ảnh hưởng của hắn đối với cả những người Do-thái và các dân Ngoại bất kỉnh. Cả hai từ này đều có nghĩa là “kẻ hủy diệt” — một cái tên thích hợp cho kẻ đứng đầu đạo binh gây tàn phá của ma quỉ dấy lên từ vực sâu. A-ba-đôn được sử dụng trong Cựu Ước để mô tả nơi hình phạt đời đời (đối chiếu Giop 26:6; 28:22; 31:12; Thi 88:11; Ch 15:11; 27:20), do đó củng cố thêm phần kết nối của thiên sứ nầy với vực sâu và địa ngục. A-bô-ly-ôn đến từ động từ Hy-lạp apollumi, có nghĩa là “Ta tiêu diệt”. Các thuật ngữ nầy xác định kẻ đứng đầu là vua đạo binh gây chết chóc của ma quỉ.
Sau khi mô tả nạn thứ nhất (8:13, sự phán xét tiếng loa thứ năm), Giăng cảnh báo rằng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã chưa chuyển theo đường chạy của nó. Hai nạn (các sự phán xét bằng tiếng loa thứ sáu và thứ bảy, bao gồm hết thảy những sự phán xét bằng cái bát) đến sau đó, vì vậy sẽ không có gì hơn chỉ là một tiếng thở dài ngắn ngủi nhẹ nhõm trước khi những sự phán xét đáng sợ hơn nữa theo sau giáng trên những kẻ “dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật” (Ro 1:18).