Skip to content

HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM

VIETNAMESE COMMUNITY BAPTIST CHURCH

Menu
  • Sứ Mạng
  • Hội Thánh
  • Đọc Kinh Thánh
  • Bible Studies
  • Thờ Phượng
Menu

23 – Hai Người Làm Chứng (Kh 11:1-14)

Posted on August 26, 2026August 26, 2026 by vcbc

Bấy giờ có người ban cho tôi một cây lau giống như cây gậy, và biểu tôi rằng: Hãy đứng dậy đo đền thờ Đức Chúa Trời, bàn thờ, và những kẻ thờ lạy tại đó. Còn sân ngoài đền thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi; vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng. Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian. Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy. Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả. Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đi trên thập tự giá. Người ta ở các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất. Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể. Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy. Đồng một giờ đó, có cơn động đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động đất ấy, còn những kẻ khác thất kinh và ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời. “Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng (Kh 11:1-14)

Xuyên suốt lịch sử Đức Chúa Trời đã thành tín sai các phát ngôn viên của Ngài kêu gọi hạng tội nhân phải ăn năn. Trong suốt những năm tháng tối tăm thật dài của Israel loạn nghịch: “Song Đức Giê-hô-va cậy miệng các đấng tiên tri và những kẻ tiên kiến mà khuyên Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: Khá từ bỏ đường ác của các ngươi, hãy gìn giữ điều răn và luật lệ ta, tùy theo các mạng lịnh ta cậy những tiên tri, là tôi tớ ta, mà truyền cho tổ phụ các ngươi” (IIVua 17:13). Tuy nhiên, đáng buồn thay,

“Nhưng chúng không muốn nghe, cứng cổ mình, y như các tổ phụ của chúng không có lòng tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Chúng khinh bỏ các luật lệ và giao ước Ngài đã lập cùng tổ phụ họ, và những lời chứng mà Ngài đã phán với họ. Chúng đi theo các thần hư không, và trở thành hư không, bắt chước các dân tộc ở chung quanh mình, mà Đức Giê-hô-va đã cấm làm theo gương của chúng nó” (các câu 14–15).

Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ, đã truyền lại cho họ bởi các sứ giả của Ngài, vì Ngài đã giáng sự thương xót trên dân sự của Ngài và trên nơi ngự của Ngài; nhưng họ liên tục chế nhạo các sứ giả của Đức Chúa Trời, khinh dể lời của của Ngài và nhạo báng các tiên tri của Ngài, cho đến khi cơn thạnh nộ của Chúa dấy lên nghịch cùng dân sự Ngài, cho đến khi không còn phương chữa trị được nữa (IISu 36:15-16).

Ta đã sai mọi tôi tớ ta, tức các tiên tri, nhiều lần đến cùng các ngươi, nói rằng: “Ôi! sự gớm ghiếc mà ta ghét đó thì đừng phạm đến. Nhưng chúng nó chẳng nghe, chẳng để tai vào, chẳng chừa sự dữ, và cứ đốt hương cho các thần khác. Vì vậy cơn giận và sự thạnh nộ của ta đã đổ ra như lửa đốt nơi các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem; và chúng nó bị đổ nát hoang vu như có ngày nay” (Gie 44:4-6)

Các tiên tri như Ê-li, Ê-li-sê, Êsai, Giêrêmi, Giôna, và những vị khác đã đương đầu với cả hai: Israel lạc sai và các dân Ngoại tội lỗi, kinh nghiệm của Giêrêmi là kiểu mẫu nhận lãnh mà các vị tiên tri thường đã nhận được:

Nầy là lời phán cùng Giê-rê-mi về cả dân Giu-đa, trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa; ấy là năm thứ nhất đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua nước Ba-by-lôn. Đấng tiên tri Giê-rê-mi rao truyền những lời nầy trước mặt dân Giu-đa và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem rằng: Từ năm thứ mười ba đời Giô-si-a, con trai A-môn, vua của Giu-đa, cho đến ngày nay có hai mươi ba năm, lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi. Từ lúc đó, tôi dậy sớm nói cùng các ngươi; nhưng các ngươi chẳng khứng nghe tôi. Đức Giê-hô-va đã sai các đầy tớ Ngài, là các tiên tri, đến cùng các ngươi, dậy sớm mà sai đến, nhưng các ngươi không nghe lời, không để tai mà nghe. Các đấng ấy nói rằng: Mỗi người trong các ngươi hãy từ đường dữ mình trở lại; hãy bỏ điều ác của việc làm mình, và ở trong đất mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi từ xưa cho đến đời đời. Chớ theo các thần khác đặng hầu việc và thờ lạy, chớ lấy việc tay mình làm ra mà chọc giận ta nữa, thì ta sẽ không làm hại chi các ngươi. (Gie 25:1-6)

Tuy nhiên, bức tranh chưa đến nỗi ảm đạm như thế; Đức Chúa Trời luôn luôn bảo toàn số dân sót có lòng tin. Phao-lô viết cho người thành Rô-ma: “Còn Ê-sai nói về dân Y-sơ-ra-ên mà kêu lên rằng: Dầu số con cái Y-sơ-ra-ên như cát dưới biển, chỉ một phần sót lại sẽ được cứu mà thôi” (Ro 9:27; đối chiếu Ro 11:4-5; Es 10:20–22; 11:11). Ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã đến với phần dân sót trung tín của Israel, cũng như các dân Ngoại chịu tin theo, qua sự trung tín rao giảng Tin lành. Trong Ro 10:13 Phao-lô tuyên bố: “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu”. Khi ấy, vị sứ đồ hỏi một cách hùng hồn: “Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao?” (câu 14).

Trong Tân Ước, cũng như trong Cựu Ước, các nhà truyền đạo trung tín đã kêu gọi ăn năn và tin theo Chúa, hiến cho hết thảy các tội nhân niềm hy vọng được tha tội trong Đấng Christ. Đứng đầu hết trong số những nhà truyền đạo ấy là Đức Chúa Jêsus Christ (Mat 4:17; Mac 1:38). Các đẳng cấp truyền đạo trong Tân Ước cũng bao gồm Giăng Báp-tít (Mat 3:1-2), Mười Hai sứ đồ (Mat 10:5-7; Mac 6:7-12), Phi-e-rơ (Cong 7:1-56), Phi-líp (Cong 8:12, 35, 40), và hầu hết những kẻ tin theo họ, sứ đồ Phao-lô (Cong 13:15…; ITi 2:7; IITi 1:11).

Họ lần lượt chuyển giao lẽ thật của Tin lành cho thế hệ tiếp theo của các nhà truyền đạo tin kính, họ đã chuyển lẽ thật ấy qua cho các nhà truyền giáo khác (đối chiếu IITi 2:2), tỉ như Ti-mô-thê, Tít, các tiên tri và sứ đồ của Hội thánh, cũng như các trưởng lão của và các đấng tiên kiến trong Hội thánh đầu tiên. Cùng với nhiều nhà truyền giáo vô danh trải qua các thế đại, đã có những người nổi bật lo rao giảng Tin lành, tỉ như Clement, Ignatius, Polycarp, Chrysostom, Irenaeus, Wycliff, Huss, Tyndale, Luther, Calvin, Zwingli, Latimer, Knox, Bunyan, Wesley, Whitefield, Maclaren, Edwards, Spurgeon, và nhiều người khác nữa cho đến ngày nay.

Trong tương lai, trong thời khắc tối tăm nhất của Địa Cầu, Đức Chúa Trời sẽ dấy lên hai nhà truyền đạo ngoại lệ đầy quyền phép. Họ sẽ không sợ hãi lo rao truyền Tin lành trong ba năm rưỡi trong bảy năm của Kỳ Đại Nạn, là khoảng thời gian mà Chúa Jêsus gọi là “hoạn nạn lớn” (Mat 24:21; Kh 7:14). Trong khoảng thời gian đó, những sự phán xét thiêng liêng thật khủng khiếp giáng trên đất, khoảng thời gian của bầy ma quỉ hung dữ gây kinh khiếp và giết hại hàng triệu người, và sự gian ác đã lan tràn không ai kềm chế, sự rao giảng Tin lành của họ, cùng với sự rao giảng của 144.000 giáo sĩ người Do-thái (7:1-10), “thiên sứ bay giữa trời” (14:6), và những lời làm chứng của các tín hữu khác còn sống trong khoảng thời gian ấy, sẽ là một sự biểu hiện sau cùng của ân điển của Đức Chúa Trời hiến cho những tội nhân nào biết ăn năn và chịu tin theo Chúa.

Ngoài việc rao giảng Tin lành, hai nhà truyền đạo nầy sẽ công bố sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên thế giới gian ác. Chức vụ của họ có thể sẽ kéo dài từ điểm giữa của Kỳ Đại Nạn cho đến ngay trước khi tiếng loa thứ bảy thổi lên. Tiếng loa nầy sẽ báo trước sự đổ ra những lần phán xét bằng cái bát lửa lan đi thật nhanh chóng, chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn và sự tái lâm của Đấng Christ. Trong suốt thời gian đó, họ sẽ công bố rằng các tai hoạ sẽ giáng xuống trên thế gian đều là những sự phán xét của Đức Chúa Trời. Họ sẽ dự phần vào việc làm ứng nghiệm lời của Đức Chúa Jêsus Christ rằng “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Mat 24:14). Họ cũng sẽ được Đức Chúa Trời đại dụng để đem lại ơn cứu rỗi cho Y-sơ-ra-ên (đối chiếu phần thảo luận của câu 13 dưới đây).

Nhưng trước khi giới thiệu hai người trung tín làm chứng nầy, Giăng ghi lại một biến cố rất hay mà ông có một vai trò trong đó, một biến cố đề ra bối cảnh dành cho sự đến của hai người làm chứng.

ĐỀN THỜ BỊ ĐO

Bấy giờ có người ban cho tôi một cây lau giống như cây gậy, và biểu tôi rằng: Hãy đứng dậy đo đền thờ Đức Chúa Trời, bàn thờ, và những kẻ thờ lạy tại đó. Còn sân ngoài đền thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi; vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng (Kh 11:1-2)

Thỉnh thoảng trong sách Khải huyền, sứ đồ Giăng đóng một vai trò tích cực trong các sự mặc thị của ông (đối chiếu 1:17; 4:1; 5:4–5; 7:13–14; 10:8–10). Sau sứ mệnh mới phải ghi chép những lời tiên tri hầu đến trong Khải huyền (10:11), Giăng lại tham gia vào một trong những sự mặc thị mà ông đã ghi lại. Ông được . . . ban cho một cây lau giống như cây gậy, bởi chính thiên sứ đã trao đổi với ông ở 10:8 hoặc thiên sứ mạnh sức mà ông đã trao đổi với ở 10:9-11. Kalamos (cây tầm) đề cập đến cây sậy là thứ thực vật mọc ở thung lũng sông Giô-đanh có chiều cao từ 15 đến 20 feet. Cây nầy có thân rỗng và nhẹ, nhưng vẫn cứng đủ để sử dụng như một cây gậy để đi bộ (đối chiếu Exe 29:6) hoặc bị cạo nhẵn đi để làm bút (III Giăng 13). Thân cây, bởi vì chúng rất dài và nhẹ, rất lý tưởng cho việc sử dụng như thước đo. Trong viễn ảnh của Ê-xê-chi-ên, một thiên thần đã sử dụng cây gậy như vậy để đo lường đền thờ ngàn năm (Exe 40:3-43:17).

Giăng được yêu cầu phải đo đền thờ của Đức Chúa Trời, kể cả bàn thờ, và những kẻ thờ lạy tại đó. Rõ ràng, đây không phải là một nỗ lực để quyết định kích thước vật lý của nó, vì không có gì được cung ứng cho, nhưng đã truyền đạt một số lẽ thật quan trọng trổi hơn phần kiến trúc. Sự việc đã chỉ ra, như trong một trường hợp ở Cựu Ước, rằng Đức Chúa Trời có khi đánh dấu mọi thứ cần phải hủy diệt (thí dụ IISa 8:2; IIVua 21:13; Es 28:17; Ca 2:8; Am 7:7-9, 17). Nhưng việc đo đạt của Giăng cần phải được hiểu rõ hơn là biểu thị quyền sở hữu, xác định các tham số về tài sản của Đức Chúa Trời (đối chiếu 21:15; Xa 2:1-5). Sự đo đạt này biểu hiện một việc gì đó tốt đẹp, một khi các thứ không được đo chính là điều ác (câu 2). Tốt nhất nên xem việc ấy là sự đo lường Israel của Đức Chúa Trời, được đền thờ làm biểu tượng, về ơn cứu rỗi, và về sự bảo hộ, sự bảo tồn và sự ưu ái đặc biệt của Ngài. Những lời tiên tri chưa được trao cho Giăng sẽ nhơn đó phân biệt giữa sự ưu ái của Đức Chúa Trời đối cùng Israel và cơn thạnh nộ của Ngài đối với thế giới ngoại giáo.

Lẽ thật đó chắc chắn là rất đáng khích lệ đối với Giăng. Vào thời điểm ông viết sách Khải huyền, tương lai của Israel trông rất ảm đạm. Một phần tư thế kỷ trước đó, người La-mã đã tàn bạo đàn áp cuộc nổi dậy của người Do-thái vào năm 66-70SC, giết hơn một triệu người Do-thái, tàn phá thành Giê-ru-sa-lem và thiêu đốt đền thờ. Nhưng, bất chấp sự huỷ diệt lớn lao ấy: “Đức Chúa Trời chẳng từng bỏ dân Ngài đã biết trước“ (Ro 11:2) và sẽ bảo tồn họ cho đến một ngày trong tương lai khi số dân sót của dân tộc tin theo Chúa sẽ được cứu (Ro 11:4-5, 26; đối chiếu Xa 12:10-13:1, 8-9).

Naos (đền thờ) không đề cập đến toàn bộ cấu trúc đền thờ (đối chiếu câu 2), mà đề cập đến bên trong đền thờ, được dựng lên từ Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Bàn thờ có lẽ là bàn thờ bằng đồng, nằm bên ngoài nơi thánh trong sân, vì đó là chỗ mà những kẻ thờ lạy trong đền thờ sẽ nhóm lại. Dân sự không được phép vào đền thờ bên trong; chỉ có các thầy tế lễ mới có thể bước vào Nơi Thánh (nơi có bàn thờ xông hương, đối chiếu Lu 1:8-10). Những kẻ thờ lạy trong sự mặc thị của Giăng mô tả số dân sót Do-thái có lòng tin theo Chúa đang sinh sống trong Kỳ Đại Nạn, họ đang thờ lạy Đức Chúa Trời.

Sự hiện diện của đền thờ trong sự mặc thị nầy vào thời kỳ hoạn nạn lớn mang theo với nó sự nhận biết đầy khích lệ rằng đền thờ, bị người La-mã phá hủy nhiều năm trước khi Giăng viết, sẽ được tái thiết lại trong tương lai. Kinh thánh đề cập đến năm đền thờ. Sa-lô-môn xây dựng đề thờ thứ nhứt, Xô-rô-ba-bên đã xây đền thờ thứ hai sau kỳ lưu đày, Hê-rốt xây dựng đền thờ thứ ba (trong thời của Đấng Christ), và chính mình Chúa sẽ xây dựng đền thờ thứ năm trong thời kỳ thiên niên niên (Ê-xê-chi-ên 40–48; Ag 2:9; Xa 6:12-13). Đền thờ Giăng nhìn thấy trong sự mặc thị nầy là đền thờ thứ tư, sẽ được xây dựng tại thành Giê-ru-sa-lem trong Kỳ Đại nạn (Mat 24:15; IITe 2:4), và cùng với nó, hệ thống con sinh của người Do-thái sẽ được phục hồi (đối chiếu Da 9:27; 12:11).

Đền thờ trong Kỳ Đại Nạn sẽ được xây dựng vào nửa đầu của Kỳ Đại Nạn dưới sự bảo trợ và bảo vệ của Anti-christ. Nhiều người Do-thái chính thống ngày nay ước mơ xây dựng lại đền thờ của họ, nhưng bối cảnh của nó giờ đây đang bị chiếm (và trong tâm trí của nhiều người Do-thái bị xúc phạm) bởi nhà thờ Hồi giáo được biết đến là Dome of the Rock. Vì người Hồi giáo tin rằng đây là chỗ mà Muhammad lên trời, đây là một trong những đền thờ thiêng liêng nhất trong thế giới Hồi giáo. Đối với người Do-thái phải vật lộn để rứt bối cảnh ấy ra khỏi tay người Hồi giáo và xây dựng đền thờ của họ sẽ không thể tưởng tượng nổi trong bầu khí hậu chính trị ngày nay. Nhưng trong Kỳ Đại Nạn, dưới sự bảo vệ của Anti-christ (đối chiếu Da 9:24-27), họ sẽ có khả năng tái thiết lại đền thờ.

Việc phục hồi sự thờ lạy trong đền thờ sẽ làm tỉnh thức mối quan tâm của phần nhiều người Do-thái nơi Đấng Mê-si. Nhiều người sẽ nhận ra rằng “Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được“ (He 10:4). Đức Chúa Trời sẽ sử dụng thái độ không thoả lòng đó để sửa soạn tấm lòng của họ cho cái ngày mà Ngài sẽ

sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng. Trong ngày đó, sẽ có sự thương khóc lớn tại Giê-ru-sa-lem, như là sự thương khóc của Ha-đát-Rim-môn ở trong đồng bằng Mê-ghi-đô. Đất nầy sẽ thương khóc, mỗi họ riêng phần mình: họ của nhà Đa-vít riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Na-than riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; họ của nhà Lê-vi riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; Họ Si-mê-y riêng ra, những vợ chúng nó riêng ra; phàm những họ còn sót lại, mỗi họ riêng ra, và những vợ chúng nó riêng ra. Trong ngày đó sẽ có một suối mở ra cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, vì tội lỗi và sự ô uế. (Xa 12:10-13:1)

Nhưng việc tái tỉnh thức về ơn phước trong Đấng Mêsi chơn thật sẽ kích thích tánh ganh tỵ ghê gớm của kẻ sai trái. Khi ngày càng có nhiều người Do-thái trở lại với sự thờ phượng ở đền thờ và bắt đầu tìm kiếm Đấng Mê-si của họ, Anti-christ sẽ hành động. Ở điểm giữa của Kỳ Đại Nạn, hắn sẽ thôi không thờ lạy nữa, làm ô uế đền thờ (sự hoang vu gớm ghiếc, Da 9:27; 12:11; Mat 24:15), và tự tôn mình lên làm đối tượng duy nhất đáng chấp nhận trong sự thờ phượng (13:15; IITe 2:4).

Việc đo đền thờ của Giăng tượng trưng cho việc đóng dấu số dân sót người Do-thái tin theo Chúa mà Đức Chúa Trời sẽ buông tha khỏi sự phán xét. Xa-cha-ri đã viết về những việc hầu đến đó:

Đức Giê-hô-va phán rằng: Xảy ra trong khắp đất, hai phần của nó sẽ bị diệt và mất song một phần ba sẽ được còn lại. Ta sẽ đem một phần ba ấy vào lửa, ta sẽ luyện nó như luyện bạc, thử nó như thử vàng; chúng nó sẽ kêu cầu danh ta, và ta sẽ nhậm lời nó; ta sẽ phán rằng: ấy là dân ta đây. Và nó sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời tôi (13:8–9).

Nầy, ngày của Đức Giê-hô-va đến, những của cướp ngươi sẽ bị chia giữa ngươi. Vậy ta sẽ nhóm mọi nước lại tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem, và thành sẽ bị lấy, nhà sẽ bị cướp, đờn bà sẽ bị hãm, phân nửa thành sẽ đi làm phu tù; nhưng dân còn lại sẽ không bị trừ bỏ khỏi thành. Bấy giờ Đức Giê-hô-va sẽ ra đánh cùng các nước đó, như Ngài đã đánh trong ngày chiến trận. Trong ngày đó, chơn Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve, là núi đối ngang Giê-ru-sa-lem về phía đông; và núi ô-li-ve sẽ bị xé ra chính giữa về phía đông và phía tây, đến nỗi thành ra một trũng rất lớn; phân nửa núi dời qua phương bắc, phân nửa dời qua phương nam. Các ngươi sẽ trốn trong trũng núi, vì trũng núi ấy sẽ chạy dài đến At-san; và các ngươi sẽ đi trốn như là trốn khỏi cơn động đất đang ngày Ô-xia, vua Giu-đa. Bấy giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta sẽ đến, hết thảy các thánh sẽ ở cùng ngươi. (14:1–5)

Các chỉ dẫn của Giăng về việc đo đền thờ bao gồm một sự bỏ sót đáng kể. Ông được truyền cho: Còn sân ngoài đền thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi. Chỗ nầy nói tới hành lang dân Ngoại, nằm ở ngoài sân có bàn thờ bằng đồng. Nó đánh dấu ranh giới mà các dân Ngoại bị cấm không được đi qua. Trong thời Tân Ước, Rô-ma đã cho phép dân Do-thái có quyền hành quyết bất kỳ dân Ngoại nào vượt qua sân của các dân Ngoại. Vì người dân Ngoại nào làm như vậy là làm ô uế đền thờ. Thực ra, đây là một mạng lịnh giả, vì Phao-lô đã đưa các dân Ngoại vào trong đền thờ nhen nhúm lên cuộc nổi dậy dẫn đến việc ông bị bắt và bỏ tù (Cong 21:28-29).

Đức Chúa Trời cứu chuộc các dân ngoại, và sẽ tiếp tục làm như vậy trong kỷ nguyên này và trong kỳ đại nạn (5:9; 7:9). Nhưng Ngài sẽ chối bỏ các dân Ngoại vô tín, họ hội hiệp với Sa-tan và con thú và lấn lướt Israel là dân giao ước của Ngài. Điểm phân biệt nhạy bén trong sự mặc thị nầy giữa dân Do-thái cùng các dân Ngoại cho thấy rằng Hội thánh, đã bị bắt làm phu tù (đối chiếu 3:10), không có mặt trong kỳ Đại Nạn, vì trong Hội thánh: “tại đây không còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì” (Co 3:11). Ở Ê-phê-sô, Phao-lô viết rằng Đấng Christ:

là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách, là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời (2:14–16).

Qua cách giải thích, Giăng được truyền cho không đo sân ngoài đền thờ “vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng”. Bốn mươi hai tháng (1.260 ngày, ba năm rưỡi) tương ứng với sự nghiệp độc ác của Anti-christ, là thời gian chi phối phân nửa sau của Kỳ Đại Nạn (13:5). Khoảng thời gian đó sẽ là đỉnh cao của “thời kỳ các dân Ngoại” (Lu 21:24) — hàng ngàn năm trong đó các quốc gia dân Ngoại có nhiều cách khác nhau chiếm đóng và áp bức thành thánh Giê-ru-sa-lem. A-si-ri, Ba-by-lôn, Mê-đi Ba-tư, Hy-lạp, Rô-ma, Thỗ Nhĩ Kỳ, Anh, và người Ả-rập thảy đều cai trị trên Giê-ru-sa-lem, và ngày nay sự tự trị của Israel rất là mong manh và ở dưới sự tấn công không ngớt. Nhưng sự hủy diệt và áp bức gây tàn phá bởi sự cai trị của Anti-christ cùng các đội quân ma quỉ cùng con người sẽ trội hơn những kẻ áp bức khác nữa.

Đức Chúa Trời sẽ che chở nhiều người Do-thái ở một chỗ mà Ngài đã chuẩn bị cho họ trong đồng vắng (có người cho rằng thành phố đá Petra). Khải huyền 12:6 chép: “Còn người đàn bà, thì trốn vào đồng vắng, tại đó người đã có một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa soạn cho, để nuôi mình trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày” (đối chiếu câu 14). Nhiều người Do-thái sẽ nghe theo lời cảnh báo của Chúa Jêsus trốn đến nơi an toàn:

Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý), thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà; và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình. Đang lúc đó, khốn khó thay cho đàn bà có mang, và đàn bà cho con bú! Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát (Mat 24:15-20)

Tuy nhiên, phần còn lại, những kẻ còn ở lại (có người đang sinh sống trong thành Giê-ru-sa-lem; 11:13) sẽ đối mặt với sự bắt bớ ghê khiếp từ các lực lượng của Anti-christ. Lúc bấy giờ, Đức Chúa Trời đem ơn cứu rỗi đến cho dân Israel, sử dụng hai nhà truyền đạo năng động, họ sẽ xuất hiện tại thành Giê-ru-sa-lem (câu 13), và cũng sẽ gánh chịu thái độ thù nghịch và hận thù (các câu 7–8).

Vào cuối 1.260 ngày (bốn mươi hai tháng; ba năm rưỡi), Đấng Christ sẽ tái lâm (19:11-16), tiêu diệt Anti-christ và các lực lượng của hắn (19:17-21; IITe 2:8), phán xét các nước (Mat 25:31-46), và thiết lập vương quốc ngàn năm trên đất của Ngài (20:1-10). Da 12:11-12 chỉ ra rằng sẽ có lỗ hỗng bảy mươi lăm ngày giữa sự tái lâm vinh hiển của Đấng Christ và phần khởi đầu của vương quốc để lo liệu các đặc điểm mới vừa đề cập đến.

Vì vậy, bất chấp mọi nỗ lực miệt thị của Anti-christ hòng tiêu diệt Israel, Đức Chúa Trời sẽ che chở Israel để cứu vớt, bảo vệ và bảo hộ dân tộc. Như Xa-cha-ri đã viết, 2/3 dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị luyện lọc trong sự phán xét và còn lại một phần ba sẽ được cứu và bước vào sự vinh hiển của vương quốc đời nầy của Đấng Mêsi (Xa 13:8-9). Công cụ trong sự chuyển đổi của họ sẽ là một nhóm truyền giáo hai người độc nhất vô nhị, khó tin mà Giăng đang giới thiệu.

HAI SỨ GIẢ

Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian. Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy. Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả. Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đi trên thập tự giá. Người ta ở các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất. Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể. Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy. Đồng một giờ đó, có cơn động đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động đất ấy, còn những kẻ khác thất kinh và ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời. “Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng (Kh 11:3-14)

Sự nối kết giữa sự mặc thị nầy về hai nhà truyền đạo và phân đoạn đứng trước (các câu 1-2) cần phải làm cho rõ ràng. Họ sống giữa vòng các chứng nhân đặc biệt của Đức Chúa Trời, họ sẽ rao giảng sứ điệp phán xét của Ngài trong các giai đoạn cuối thời kỳ dân Ngoại giày đạp trên thành Giê-ru-sa-lem — và sẽ rao giảng Tin lành hầu cho số dân sót Do-thái sẽ tin Chúa và vui hưởng sự bảo vệ của Đức Chúa Trời. Bảy đặc điểm trong đời sống và chức vụ của hai nhà truyền đạo dạn dĩ này đã được trình bày trong phân đoạn: bổn phận, thái độ, lai lịch, quyền phép, sự chết, sự sống lại và cái chạm.

BỔN PHẬN CỦA HỌ

Ta sẽ cho hai người làm chứng ta đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày (Kh 11:3a)

Một lần nữa, diễn giả là Đấng sẽ giao quyền cho hai người làm chứng không xác định được, nhưng có thể đấy là Đức Chúa Cha, hay là Đức Chúa Jêsus Christ. Hai người làm chứng là hình thức số nhiều martus, từ đó Anh ngữ mới có chữ martyr, một khi có nhiều chứng nhân của Đức Chúa Jêsus Christ trong Hội thánh đầu tiên đã trả giá bằng mạng sống của họ. Vì từ ngữ nầy luôn được sử dụng trong Tân Ước để nói đến nhiều người, hai người làm chứng phải là những con người đích thực chứ không phải giả định, như một số nhà bình luận đã có ý kiến. Có hai người làm chứng vì Kinh Thánh đòi hỏi sự làm chứng của hai người mới khẳng định một sự kiện hay xác minh sự thật (Phu 17:6; 19:15; Mat 18:16; Gi 8:17; IICo 13:1; ITi 5:19; He 10:28).

Bổn phận của họ là phải nói tiên tri. Nói tiên tri trong Tân Ước không nhất thiết đề cập đến việc dự đoán tương lai. Ý chính của nó là “thốt ra”, “nói ra”, hay “rao giảng”. (Bàn bạc về sự nói tiên tri, hãy xem I Côrinhtô, The MacArthur New Testament Commentary [Chicago: Moody, 1984], 302…). Hai người làm chứng sẽ rao giảng cho thế gian biết rằng các tai vạ đang xảy ra trong phân nửa sau của Kỳ Đại Nạn là những sự phán xét của Đức Chúa Trời. Họ sẽ cảnh báo việc Đức Chúa Trời sau cùng đổ ra sự phán xét và địa ngục đời đời sẽ nối theo sau. Đồng thời, họ sẽ rao giảng Tin lành, kêu gọi mọi người ăn năn và tin theo Đức Chúa Jêsus Christ. Khoảng thời gian chức vụ của họ là 1.260 ngày, ba năm rưỡi sau của Kỳ Đại Nạn, khi các lực lượng của Anti-christ đang áp chế thành Giê-ru-sa-lem (câu 2), và nhiều người Do-thái được che chở trong đồng vắng (12:6). Kỳ thực, họ là những nhà truyền đạo đích thực, chứ không phải là các biểu tượng của thể chế hay phong trào nào hết, được chỉ ra bằng cách mô tả về trang phục và cách ứng xử của họ nối theo sau.

THÁI ĐỘ CỦA HỌ

mặc áo bao gai (Kh 11:3b)

Bao gai là loại vải thô, nặng nề, sơ sài mặc trong thời xa xưa như một biểu tượng của khóc than, đau khổ, buồn rầu, và sỉ nhục. Gia-cốp mặc áo bao gai khi ông nghĩ Giô-sép đã bị giết (Sa 37:34). David đã truyền cho dân sự phải mặc áo bao gai sau vụ giết chết Áp-ne (IISa 3:31) và chính mình ông mặc nó suốt trận dịch mà Đức Chúa Trời gửi đến để đáp lại tội lỗi của ông về việc tu bộ dân (ISu 21:16). Vua Giô-ram đã mặc áo bao hai suốt cuộc bao vây thành Sa-ma-ri (IIVua 6:30), cũng như vua Ê-xê-chia khi thành Giê-ru-sa-lem bị tấn công (IIVua 19:1). Gióp (Giop 16:15), Ê-sai (Es 20:2), và Đa-ni-ên (Da 9:3) cũng mặc áo bao gai.

Hai người làm chứng này sẽ mặc lấy áo bao gai như là một bài học để bày tỏ ra nỗi buồn lớn lao của họ đối với thế giới vô tín, khốn khổ, bị các phán xét của Đức Chúa Trời hành hại, bị ma quỉ phá tán, và bị áp bức bởi hạng người gian ác, tội lỗi họ đã từ chối không chịu ăn năn. Họ cũng sẽ than khóc vì cớ sự ô uế của đền thờ, sự áp bức của Giê-ru-sa-lem, và quyền lực của Anti-christ.

LAI LỊCH CỦA HỌ

Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian (Kh 11:4)

Thắc mắc về hai người làm chứng là ai đã gợi lên sự thích thú nơi các học giả Kinh Thánh trong nhiều năm trời, và có rất nhiều khả năng đã được gợi ý. Giăng xác định họ là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian. Phần mô tả khó hiểu đó được rút ra từ Xa 4:1-14:

Đoạn, thiên sứ nói cùng ta trở lại, đánh thức ta, như một người đương ngủ bị người ta đánh thức. Người nói cùng ta rằng: Ngươi thấy gì? Ta đáp rằng: Tôi nhìn xem, kìa một cái chơn đèn bằng vàng cả, và một cái chậu trên chót nó, nó có bảy ngọn đèn; có bảy cái ống cho mỗi ngọn đèn ở trên chót nó. Ở kề bên lại có hai cây ô-li-ve, một cây ở bên hữu cái chậu, và một cây ở bên tả. Bấy giờ ta cất tiếng nói cùng thiên sứ đương nói với ta như vầy: Hỡi chúa tôi, những điều nầy là gì? Thiên sứ nói cùng ta đáp rằng: Ngươi không biết những điều nầy là gì sao? Ta nói: Thưa chúa! tôi không biết. Người đáp lại rằng: Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cho Xô-rô-ba-bên rằng: Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Hỡi núi lớn, ngươi là ai? Ở trước mặt Xô-rô-ba-bên ngươi sẽ trở nên đồng bằng. Nó sẽ đem đá chót ra; sẽ có tiếng kêu rằng: Xin ban ơn, ban ơn cho nó! Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Tay Xô-rô-ba-bên đã lập nền nhà nầy, thì tay nó cũng sẽ làm xong; và ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai ta đến cùng các ngươi. Vì ai là kẻ khinh dể ngày của những điều nhỏ mọn? Bảy con mắt Đức Giê-hô-va trải đi qua lại khắp đất, sẽ vui mà xem thấy dây chuẩn mực ở trong tay Xô-rô-ba-bên. Ta bèn đáp lại cùng người rằng: Hai nhánh ô-li-ve ở bên hữu và bên tả chơn đèn là gì? Ta lại cất tiếng nói cùng người lần thứ hai mà rằng: Hai nhánh ô-li-ve ở kề bên hai ống vòi vàng, có dầu vàng chảy ra, là gì? Người đáp rằng: Ngươi không biết những điều đó là gì sao? Ta nói: Thưa chúa, tôi không biết. Người bèn nói rằng: Ay là hai người chịu xức dầu, đứng bên Chúa của cả đất.

Sự hiện thấy của Xa-cha-ri đều có sự ứng nghiệm cả gần và xa. Sự ứng nghiệm về mặt lịch sử là sự tái thiết đền thờ vào thời kỳ hậu lưu đày bởi thầy tế lễ Giê-hô-sua (Xa 3:1-10), nhà lãnh đạo tôn giáo, và Xô-rô-ba-bên, nhà lãnh đạo về mặt chính trị.

Nhưng lời tiên tri của Xa-cha-ri cũng nhìn tới trước sự phục hưng của Israel trong thời kỳ Thiên hi niên (Xa 3:8-10). Hai cây ô-li-ve và hai cây đèn tượng trưng cho ánh sáng phục sinh, một khi dầu ô-li-ve thường được sử dụng trong các loại đèn. Việc kết nối đèn với cây nhằm mô tả sự cung cấp dầu thường trực, tự phát và tiếp trợ tự động từ hai cây ô-li-ve vào hai cây đèn. Điều đó tượng trưng cho lẽ thật rằng Đức Chúa Trời sẽ không đem lại ơn cứu rỗi từ năng lực của con người, mà nhờ vào quyền phép của Đức Thánh Linh (đối chiếu Xa 4:6). Giống như Giô-hô-sua và Xô-rô-ba-bên, hai người làm chứng sẽ dẫn dắt một sự phục hưng thuộc linh của Israel đến cực điểm trong việc xây dựng một đền thờ. Sự rao giảng của họ sẽ là công cụ trong sự biến đổi cả dân tộc Israel (Kh 11:13, đối chiếu Ro 11:4-5, 26), và đền thờ gắn liền với sự biến đỗi đó sẽ là đền thờ ngàn năm.

Trong khi chẳng thể quyết đoán về lai lịch cụ thể của hai nhà truyền đạo nầy, nhưng có một số lý do cho thấy rằng họ có thể là Môi-se và Ê-li.

Thứ nhất, các phép lạ họ sẽ làm ra (tiêu diệt kẻ thù của họ bằng lửa, cầm giữ mưa lại, hoá nước thành huyết, đánh vào địa cầu với nhiều trận dịch) tương tự với những sự phán xét đã giáng xuống trong Cựu Ước bởi Môi-se và Ê-li với mục đích kích thích sự ăn năn. Ê-li đã gọi lửa xuống từ trời (IIVua 1:10, 12) và công bố một đợt hạn hán kéo dài ba năm rưỡi trên đất (IVua 17:1; Gia 5:17) — cùng chiều dài tương tự như cơn hạn hán do hai người làm chứng mang lại (Khải huyền 11:6). Môi-se hoá nước sông Ni-lơ thành huyết (Xu 7:17-21) và loan báo các trận dịch khác giáng trên Ai-cập đã được ghi lại trong Xuất Êdíptô ký các chương 7-11.

Thứ hai, cả Cựu Ước lẫn truyền khẩu Do-thái đều mong đợi Môi-se và Ê-li trở lại trong tương lai. Ma-la-chi 4:5 đã tiên đoán sự trở lại của Ê-li, và người Do-thái tin rằng lời hứa của Đức Chúa Trời dấy lên một tiên tri giống như Môi-se (Phu 18:15, 18) đòi hỏi sự trở lại của ông (đối chiếu Gi 1:21; 6:14; 7:40). Lời tuyên bố của Chúa Jêsus trong Mat 11:14 rằng “nếu các ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến” không nhất thiết loại trừ sự trở lại của Ê-li trong tương lai. Một khi người Do-thái không chấp nhận Chúa Jêsus, Giăng không làm ứng nghiệm lời tiên tri đó. Ông đã đến “lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng“ (Lu 1:17).

Thứ ba, cả hai: Môi-se và Ê-li (có lẽ đại diện cho Luật Pháp và Lời Tiên Tri) xuất hiện với Đấng Christ nơi sự Hoá Hình, cái nhìn trước về Lần Đến Thứ Hai (Mat 17:3).

Thứ tư, cả hai đều đã rời khỏi trần gian bằng những phương thức bất thường. Ê-li không hề chết, nhưng đã được chuyển lên trời trong một chiếc xe ngựa lửa (IIVua 2:11-12), và Đức Chúa Trời đã chôn cất theo cách siêu nhiên thi thể của Môi-se trong một địa điểm bí mật (Phu 34:5-6; Giuđe 9). Câu nói trong He 9:27 cho thấy rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét“, không loại trừ sự trở lại của Môi-se, vì có những ngoại lệ hiếm hoi khác cho tuyên bố chung chung đó (chẳng hạn như La-xa-rơ; Gi 11:14, 38-44).

Vì phân đoạn Kinh Thánh không xác định cụ thể hai nhà truyền đạo nầy, quan điểm được bảo vệ ở trên, giống như tất cả các quan điểm khác về lai lịch của họ, cần phải nghiên cứu nhiều hơn.

QUYỀN PHÉP CỦA HỌ

Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy. Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả (Kh 11:5-6)

Dù hai người làm chứng có phải là Môi-se và Ê-li hay không, họ sẽ có quyền phép kỳ diệu tương tự như hai nhân vật nầy trong Cựu Ước. Nếu họ có một cái chạm riêng tư và thu hút sự chú ý của thế giới trong suốt các biến cố ghê khiếp ở phân nửa thứ hai của Kỳ Đại Nạn, họ sẽ cần phải có khả năng để làm ra những việc kỳ diệu.

Giống như Nô-ê trước Nước Lụt và Môi-se trước các trận dịch ở Ai-cập, hai người làm chứng sẽ không sợ hãi cứ rao giảng sự phán xét, cơn thạnh nộ, sự báo thù của Đức Chúa Trời, và nhu cần phải ăn năn. Vì cớ ấy, họ sẽ bị ghét bỏ (đối chiếu các câu 9-10) và nhiều người muốn làm hại họ trong những ngày họ lo giảng đạo. Khi sự tổn hại được làm ra, họ sẽ phản ứng với quyền phép thật kỳ diệu — lửa sẽ ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình. Không một lý cớ nào để cho rằng đây không phải là lửa thật, đúng là lửa, một khi Đức Chúa Trời đã dùng lửa trong quá khứ để thiêu đốt các kẻ thù của Ngài (Le 10:2; Dan 11:1; 16:35; Thi 106:17-18). Những ai muốn làm hại hai nhà truyền đạo phải bị giết như vậy vì Đức Chúa Trời không muốn sự rao giảng của họ dừng lại cho đến khi chức vụ của họ đã hoàn tất và sẽ phán xét với cái chết của những người cố gắng ngăn chặn việc ấy.

Trong cả Cựu và Tân Ước, Đức Chúa Trời thường sử dụng các phép lạ để xác nhận các sứ giả của Ngài. Trong thời điểm của Kỳ Đại Nạn, khi thế gian bị điều hành bởi hoạt động siêu nhiên của ma quỉ, tôn giáo giả hiệu, giết chóc, tình dục sai trái, và sự gian ác lan tràn, các dấu lạ siêu nhiên do hai người làm chứng nầy làm ra sẽ đánh dấu họ là các tiên tri đích thực của Đức Chúa Trời.

Tầm cỡ quyền phép lớn lao của họ sẽ được tỏ ra khi họ có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri. Điều đó sẽ giúp cho hạng người đau khổ được mạnh mẽ thêm. Sự phán xét bằng tiếng loa thứ ba kết quả trong việc đầu độc 1/3 lượng nước ngọt của địa cầu (8:10-11). Thêm vào đó, cơn hạn hán ba năm rưỡi kéo dài suốt 1.260 ngày lo giảng đạo của họ (câu 3, đoạn Lu 4:25; Gia 5:17) do hai người làm chứng đưa ra sẽ gây ra sự tàn phá mùa màng trên diện rộng và sự mất mát về con người và đời sống động vật qua đói và khát.

Thêm nữa, giống như Môi-se, hai người làm chứng sẽ có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả. Sự tàn phá mà hai nhà truyền đạo chuyên làm phép lạ nầy sẽ khiến cho họ bị ghét bỏ và lo sợ. Chắc chắn người ta sẽ tìm kiếm trong thất vọng để huỷ diệt họ, song chẳng làm chi được nữa. Họ sẽ không bị ngăn trở và ngăn chặn trong thời gian họ thi hành các nhiệm vụ.

SỰ CHẾT CỦA HỌ

Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đi trên thập tự giá. Người ta ở các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất (Kh 11:7-10)

Hạng người tội lỗi sẽ cố gắng trong tuyệt vọng và không thành công để trừ bỏ hai người làm chứng nầy trong suốt chức vụ của họ với một nỗ lực kamikaze kết quả trong việc thiêu đốt chúng. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ họ cho đến khi họ đã làm chứng xong rồi, đã đạt được các mục đích của Ngài trong suốt thời gian Ngài quyết định cho chức vụ của họ. Ở cuối thời điểm đó, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. Đây là phần tham khảo đầu tiên trong ba mươi sáu tham khảo ở Khải huyền về con thú và dự đoán các thông tin chi tiết hơn về nó sẽ được đưa vào các chương 13 và 17. Nó được giới thiệu ở đây với phần nhấn mạnh đến nguồn gốc của nó. Người ta nói rằng nó đã lên từ vực sâu, cho thấy nó được Sa-tan mặc lấy quyền phép cho. Một khi Sa-tan được mô tả là con rồng (12:3, 9), hình ảnh nầy chẳng phải là Sa-tan. Sách Khải huyền nói về hắn trong chương 13 cho thấy rằng con thú là một nhân vật cai trị cấp thế giới (thường được gọi là Anti-christ) là nhân vật bắt chước Đấng Christ thật, cai trị trên dân cư của đất, và đòi hỏi sự thờ phượng của họ (13:1-8). Vực sâu là nhà tù cho một số ma quỉ nhất định (xem phần thảo luận 9:1-2 trong chương 20 của tập sách này). Mặc dù hắn là một con người, con thú được kích hoạt bởi sự hiện diện và sức mạnh ra từ quỷ dữ xuất phát từ vực sâu. Trước sự vui mừng và ơn cứu rỗi của thế giới tội lỗi, con thú (Anti-christ) cuối cùng sẽ thắng hơn hai người làm chứng và giết họ đi (đối chiếu những vụ tấn công thành công khác của hắn ở 12:17; 13:7).

Sau cái chết của họ, thây hai người bị bỏ còn trên đường cái của thành lớn, nơi mà họ phục vụ và ở đó họ đã bị giết. Trong thế giới đời xưa, phơi thây kẻ thù là cách làm nhục tối hậu. Đức Chúa Trời cấm dân Do-thái làm theo cách đó (Phu 21:22–23).

Thành lớn là thành Giê-ru-sa-lem, gọi bóng (hay tốt hơn “về mặt thuộc linh”) là Sô-đôm và Ai-cập thích ứng với sự gian ác của nó. Đáng buồn thay, thành Giê-ru-sa-lem đã từng là thành của Đức Chúa Trời sẽ bị điều ác xâm chiếm đến nỗi nó sẽ giống như thành Sô-đôm và xứ Ai-cập gian ác. Phần mô tả về thành Giê-ru-sa-lem chẳng khác gì hơn Sô-đôm và Ai-cập để tỏ ra rằng một thời là thành thánh giờ chẳng khác gì hơn so với những nơi mà ai cũng biết vì thái độ của chúng thù ghét Đức Chúa Trời chơn thật và Lời của Ngài. Phần chú thích cho thấy rằng hai người làm chứng sẽ bị giết trong thành phố nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đi trên thập tự giá đã giúp xác định làm nhận ra Giê-ru-sa-lem theo cách hoàn toàn rõ ràng. Hai người làm chứng sẽ chết trong cùng một thành phố với Chúa của họ, cho thấy rằng, như vốn có đối với Ngài, thành phố đó sẽ là điểm trọng tâm của việc rao giảng của họ. Nó cũng cho thấy rằng thành Giê-ru-sa-lem sẽ là ngai cai trị của Anti-christ (đối chiếu IITe 2:3–4).

Việc sử dụng các cụm từ bao gồm các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước (đối chiếu 5:9; 7:9; 10:11) chỉ ra rằng mọi người trên khắp thế giới sẽ sẽ trông thấy thây hai người (trên truyền hình vệ tinh hoặc một số hình thức truyền thông khác). Trong một sự phô bày không lành mạnh và khinh miệt, suốt ba ngày rưỡi thế giới sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. Đám đông không biết ăn năn, cứng lòng vì tội lỗi sẽ muốn phấn khởi với cấp lãnh đạo của họ là Anti-christ, và tôn vinh hắn vì chiến thắng của hắn đối với hai nhà truyền đạo gây rối kia, họ đã mang lại sự hạn hán và đã rao giảng Tin lành đáng ghét.

Cái chết của hai người làm chứng sẽ mở ra những tiệc tùng đủ thứ trên khắp thế giới. Thật không thể tin được, Các dân sự trên đất (thuật ngữ kỹ thuật nói tới hạng người không tin Chúa, đối chiếu 6:10; 8:13; 13:8,12,14; 14:6; 17:2, 8) sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất. Mỉa mai thay, đây là lần nhắc tới duy nhất trong sách Khải huyền về sự vui mừng. Hạng tội nhân sẽ vui sướng vì những người đến rao báo cho họ những sự phán xét của Đức Chúa Trời, đã khuấy hại họ với quyền làm phép lạ và các sứ điệp lên án tội lỗi của họ và loan báo sự phán xét sắp xảy đến của Đức Chúa Trời (các câu 5-7) và kêu gọi họ phải ăn năn đã bị chết. Phản ứng theo cảm tính này phản ánh tỏ tường lần chối bỏ sau cùng của họ.

SỰ PHỤC SINH CỦA HỌ

Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể. Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy. (Kh 11:11-12)

Việc tiệc tùng và tặng quà của “ngày hai người làm chứng ngã chết” sẽ thình lình bị hoãn lại rất đáng buồn bởi một sự kiện đáng kinh ngạc nhất. Sau ba ngày rưỡi ấy, trong thời gian đó thây của họ còn nằm trên đường phố Giê-ru-sa-lem, có sanh khí từ Đức Chúa Trời (đối chiếu Sa 2:7) đến nhập vào trong hai người, hai người bèn đứng thẳng dậy. Không cần phải nói, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể. Sự hoảng loạn sẽ bắt lấy cái thế giới không được tái sanh khi những kẻ hành hại thù ghét họ bất ngờ hồi sinh. Nếu sự này được xem trên truyền hình, nó sẽ được phát đi phát lại nhiều lần. Chắc chắn ai cũng mong đợi hai người làm chứng phục sinh kia trở lại với chức vụ rao giảng và làm ra nhiều phép lạ của họ, song Đức Chúa Trời lại có những chương trình khác.

Có một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán rằng: Hãy lên đây! Tiếng nầy giống như tiếng của Chúa, là Đấng đã kêu gọi Giăng lên trời ở 4:1. Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy trong kinh hãi. Sự Cất Lên của hai người nầy chắc chắn sẽ được phát đi phát lại không dứt cho cả thế giới trông thấy. Đây là sự gợi nhớ việc Ê-li lên trời (IIVua 2:11) và cái chết bí ẩn cùng sự chôn cất Môi-se (Phu 34:5–6).

Có người lấy làm lạ họ thắc mắc tại sao hai người làm chứng không được phép rao giảng sau khi họ phục sinh. Nhưng những phép kỳ dấu lạ không làm cho tin lành ra dễ tin, bởi vì “nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy” (Lu-ca 16:31). Sau khi nghe giảng dạy và quan sát chức vụ kỳ diệu của Con Đức Chúa Trời, những người vô tín đã chối bỏ và giết Ngài.

Chức vụ của họ đã hoàn tất, hai người cùng lên trời với cả thế giới đang theo dõi sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời, chắc chắn ở đó họ đã nghe Ngài phán: “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; … hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi” (Mat 25:21).

CÁI CHẠM CỦA HỌ

Đồng một giờ đó, có cơn động đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động đất ấy, còn những kẻ khác thất kinh và ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời. “Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng (Kh 11:13-14)

Điểm nhấn sự sống lại của hai người làm chứng, đồng một giờ đó, có cơn động đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động đất ấy. Chữ người trong phiên bản Hy-lạp sát nghĩa là “danh tánh của nhiều người”. Cụm từ bất thường này có thể chỉ ra rằng bảy ngàn người đã ngã giết là những người nổi bật, có lẽ là các cấp lãnh đạo trong chính quyền cấp thế giới của Anti-christ.

Như là kết quả của trận động đất lớn đó, và sự phục sinh đáng kinh ngạc của hai người làm chứng, những kẻ khác thất kinh và ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời. Những kẻ khác phải đề cập đến số dân cư của thành Giê-ru-sa-lem, những người Do-thái sẽ đến với đức tin nơi Đấng Christ. Hỗ trợ cho cách giải thích đó là sự thực ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời là một dấu hiệu của sự ăn năn chơn thật trong sách Khải huyền và các chỗ khác trong Kinh Thánh (đối chiếu 4:9; 14:7; 16:9; 19:7; Lu 17:18-19; Ro 4:20). Thế rồi, phân đoạn này mô tả thực tại ơn cứu rỗi của người Do-thái tại thành Giê-ru-sa-lem, khi Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài về sự chúc phước cho dân Israel (Ro 11:4–5, 26).

Với phần chú thích tích cực, đầy hy vọng đó, khoảng thời gian xen giữa kết thúc. Tuy nhiên, đối với thế giới vô tín, nó kết thúc với lời cảnh báo nghiêm ngặt rằng “Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng. Tiếng loa thứ bảy (nạn thứ ba, đối chiếu 9:12) sẽ sớm được trổi lên, đem theo với nó những sự phán xét bằng các cái bát sau cùng, đầy bạo lực và sự tái lâm của Đấng Christ trong sự vinh hiển để thiết lập vương quốc của Ngài. Tachu (mau chóng) có nghĩa là “không bao lâu nữa” (đối chiếu Kh 2:16; 3:11; 22:7, 12, 20) và sự tỏ ra nạn sau cùng cận kề, là nạn mà những sự phán xét của bảy cái bát được mở ra qua sự trổi lên của tiếng loa thứ bảy.

Liên Lạc

5200 DeepHaven Court
Denver Colorado 80239-4138

Telephone: (303) 307-0180
Email: vcbc_info@comcast.net

Hàng Tuần

Chúa Nhật-Thờ Phượng -10:15 AM
Chúa Nhật - Trường Chúa Nhật - 09:00 AM
Thứ Hai - Cầu nguyện việc xây dựng - 08:00 AM (zoom)
Thứ Ba - Gia Đình Trẻ - 08:30 PM (zoom)
Thứ Tư - Cầu Nguyện - 08:00 AM (zoom)
Thứ Sáu - Học Kinh Thánh và Cầu Nguyện - 07:30 PM (tại nhà thờ and zoom)
Thứ Sáu - Chương Trình Thanh niên English Ministry - 07:30PM
Thứ Sáu - Lớp Học tiếng Việt - 08:00 PM (tại nhà thờ)
Thứ Bảy - Cầu Nguyện - 08:00 AM tại nhà thờ and zoom)
Học Kinh Thánh qua Zoom (thứ hai, ba, tư, và năm - 9:00 PM MT do bà Ms Tánh phụ trách)
Calendar

Log in
© 2026 HỘI THÁNH CỘNG ĐỒNG BÁP-TÍT VIỆT NAM | Powered by Minimalist Blog WordPress Theme