“Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy. Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi. Giăng gởi cho bảy Hội thánh ở xứ A-si: nguyền xin ân điển và sự bình an ban cho anh em từ nơi Đấng Hiện Có, Đã Có Và Còn Đến, cùng từ nơi bảy vị thần ở trước ngôi Ngài, lại từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian! Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men”. (Kh 1:1-6)
Nhiều người say mê, thậm chí bị ám ảnh với cuộc tương lai. Họ chuyên đọc số tử vi của họ, tìm kiếm hạng độc giả đọc thẻ Tarot, xem chỉ tay, nhắm vào tài liệu khoa học viễn tưởng tương lai, hoặc gọi đến một trong các “đường dây nóng siêu linh“ được quảng cáo trên TV. Có người tìm hiểu sâu hơn vào các hệ thống thờ lạy hình tượng, tìm kiếm đồng cốt (như vua Saulơ đã tìm), cố gắng trong vô ích và tội lỗi hầu nhận được thông tin về những gì sẽ đến bằng cách “vì người sống mà hỏi kẻ chết“ (Es 8:19). Tất nhiên, là người chết không thể đáp ứng trước các nỗ lực tiếp xúc đó, nhưng ma quỉ đáp ứng, mạo nhận như những lời dối trá của kẻ chết và lan truyền đi.
Tuy nhiên, các nỗ lực để phân biệt tương lai đều ở trong chỗ hư không. Chỉ có một Đấng biết rõ và tuyên bố về cuộc tương lai: ấy là Đức Chúa Trời (Es 44:7; 45:21; 46:9-10). Chỉ trong Kinh Thánh, người ta sẽ tìm được lẽ thật về cuộc tương lai. Các tiên tri trong Cựu Ước, đặc biệt là Êsai, Êxêchiên, Đaniên, và Xachari, họ cung ứng những cái nhìn thoáng qua về cuộc tương lai. Cũng một thể ấy, Chúa chúng ta trong bài giảng trên núi Ô-li-ve đầy khích lệ của Ngài, cùng với Phierơ và Phaolô trong các tác phẩm đã được cảm thúc cho trong Kinh Thánh. Còn sách Khải huyền cung ứng cái nhìn chi tiết nhất về cuộc tương lai trong cả Kinh thánh. Cốt lõi thích đáng trong mặc khải của Đức Chúa Trời cho con người trong Kinh thánh, sách Khải Huyền tiết lộ lịch sử tương lai của thế giới, mọi con đường dẫn đến đỉnh cao lịch sử trong sự tái lâm của Đấng Christ và thiết lập vương quốc vinh hiển trên đất và vương quốc đời đời của Ngài.
Bằng cách giới thiệu, Giăng liệt kê ra mười một đặc điểm của quyển sách kỳ diệu này: bản chất thiết yếu, lẽ đạo trọng tâm, nguồn thiêng liêng, người nhận, bản chất tiên tri, sự giải cứu siêu nhiên, tác giả con người, ơn phước được hứa cho, sự khẩn cấp rất thuyết phục, lời chúc phước Ba Ngôi Đức Chúa Trời và bài tán dương tôn vinh.
BẢN CHẤT THIẾT YẾU
Sự mặc thị (Kh 1:1a)
Ba từ nầy rất quan trọng cho việc tìm hiểu quyển sách nầy. Nhiều người bối rối bởi sách Khải huyền, họ xem nó như là một lẽ mầu nhiệm, ẩn bí, không thể giải đoán được. Không gì có thể bằng sự thật. Không thể che giấu được sự thật, sách Khải huyền tỏ ra sự thật ấy. Đây là chương cuối cùng trong câu chuyện cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Nó kể lại câu chuyện ấy cho đến cuối cùng. Giống như câu chuyện nói tới sự Sáng Tạo lúc đầu không có gì là mơ hồ hay tối tăm cả, nhưng rất rõ ràng, vì vậy Đức Chúa Trời đã đưa ra một bản tường trình chi tiết và rõ nét về phần kết cuộc. Tin rằng Đức Chúa Trời sẽ phán chính xác và rõ ràng từ Sáng thế ký đến Giuđe là điều không tưởng, rồi khi đến với phần kết chẳng thấy chính xác và rõ ràng đâu cả. Tuy nhiên, nhiều nhà thần học ngày nay nghĩ rằng sách Khải huyền không phải là bản tường trình chính xác nói tới phần kết bất chấp những gì sách ấy nói. Họ cũng khẳng định rằng mọi lẽ mầu nhiệm của nó quá mơ hồ đến nỗi phần kết thúc bị chừa lại trong hoang mang. Như chúng ta sẽ thấy trong phần lý giải nầy, đây là một lỗi nghiêm trọng làm dấy lên viễn cảnh về sự cứu chuộc ở đỉnh cao của nó như đã được ban cho bởi Đức Chúa Trời.
Apokalupsis (sự mặc thị) xuất hiện mười tám lần trong Tân Ước, khi được sử dụng nói tới một nhân vật, luôn luôn với ý nghĩa “trở nên rõ ràng“. Trong Lu 2:32, Si-mê-ôn ca ngợi Đức Chúa Trời vì đã ban cho hài nhi Jêsus, mô tả Ngài là “soi khắp thiên hạ, và làm vinh hiển cho dân Y-sơ–ra-ên là dân Ngài”. Si-mê-ôn mừng rỡ vì Đấng Mê-si đã được dựng nên ai cũng xem thấy được. Phao-lô nói trong Ro 8:19 về sự biến đổi hiển nhiên của người tin Chúa trong sự vinh hiển như “con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra“. Cả hai: Phaolô (ICo 1:7) và Phierơ (IPhi 1:7) đã sử dụng apokalupsis để đề cập đến với sự mặc thị của Đấng Christ nơi sự tái lâm của Ngài.
Sách Khải huyền chứa các lẽ thật đã bị che giấu, nhưng giờ đây đã được thố lộ. Mặc dù không chỗ nào trực tiếp trích dẫn Cựu Ước, 278 trong số 404 câu của nó đề cập hoặc ám chỉ đến lẽ thật có tính tiên tri trong Cựu Ước, rồi nó khuếch đại những gì ban đầu chỉ là gợi ý trong Cựu Ước.
Apocalypse tỏ ra rất nhiều lẽ thật thiêng liêng lắm. Nó cảnh báo Hội thánh về mối nguy hiểm tội lỗi và dặn dò Hội thánh về nhu cầu phải thánh khiết. Nó tỏ ra sức mạnh của Đấng Christ và người tin Chúa phải thắng hơn Satan. Nó tỏ ra sự vinh hiển và oai nghi của Đức Chúa Trời và mô tả sự thờ lạy kỉnh kiền liên tục bên ngôi của Ngài. Sách Khải huyền tỏ ra phần kết của lịch sử nhân loại, bao gồm việc thiết lập chính trị sau cùng của thế gian, sự nghiệp của Anti-christ, và Chiến trận Ạt-ma-ghê-đôn ở đỉnh cao. Nó tỏ ra sự vinh hiển hầu đến nơi sự trị vì của Đấng Christ trên đất trong vương quốc ngàn năm, sự phán xét ở Ngai Lớn Trắng, và mô tả sự an lạc vĩnh hằng của trời mới và đất mới. Sách Khải Huyền mô tả phần đắc thắng tối hậu của Đức Chúa Jêsus Christ đối với mọi người và ma quỉ. Sách Khải huyền mô tả sự thất bại tối hậu của Satan và tội lỗi, và tình trạng sau cùng của kẻ gian ác (hình khổ trong địa ngục đời đời) và người công bình (vui mừng đời đời ở thiên đàng). Nói ngắn gọn, đây là một câu chuyện thuật lại về tương lai của thế gian được viết ra bởi một người đã nhìn thấy cả mọi sự ấy.
Nhưng đặc biệt, bao hàm hết mọi đặc điểm đó, sách Khải Huyền tỏ ra sự oai nghi và sự vinh hiển của Đức Chúa Jêsus Christ. Nó mô tả chi tiết các biến cố gắn với sự đến lần thứ hai của Ngài, tỏ ra sự vinh hiển của Ngài mà một ngày kia sẽ rực rỡ lên như tia chớp xẹt lên không nhầm lẫn như dòng sét chớp thật nhanh trên bầu trời tối tăm (Mat 24:27).
LẼ ĐẠO TRỌNG TÂM
của Đức Chúa Jêsus Christ (Kh 1:1b)
Trong khi cả Kinh Thánh là sự mặc khải đến từ Đức Chúa Trời (IITi 3:16), theo một phương thức đặc biệt sách Khải huyền là sự mặc thị — sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ. Đang khi quyển sách này chắc chắn là sự mặc thị đến từ Đức Chúa Jêsus Christ (xem 22:16), đây cũng là sự mặc thị nói về Ngài. Các Tân Ước khác sử dụng cụm từ apokalupsis I¯esou Christou (mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ) gợi ý rằng phát biểu của Giăng trong câu này được hiểu rõ nhất theo ý nghĩa sự mặc thị về Đức Chúa Jêsus Christ (đối chiếu: ICo 1:7; Ga 1:12; IITe 1:7; IPhi 1:7). Các sách Tin lành cũng nói đến Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng giới thiệu Ngài nơi sự đến thứ nhứt trong sự hạ mình; sách Khải huyền giới thiệu Ngài nơi lần đến thứ hai của Ngài trong sự cao trọng. Từng sự khải thị và mô tả Ngài trong sách Khải huyền là một sự khải thị đầy oai nghi, quyền phép và vinh hiển.
Sự vén mạng của Đấng Christ khởi sự ở 1:5-20, ở đó Ngài được tỏ ra trong nét oai nghi giáng xuống. Những câu này cũng cung cấp một cái nhìn về sự vinh hiển của lần đến thứ hai của Ngài. Trong các chương 2 và 3, giống như Chúa Tễ của Hội thánh được tôn cao, Ngài đã quở trách và khích lệ Hội thánh của Ngài. Sau cùng, các chương 4-22 cung cấp cái nhìn chi tiết về lần đến thứ hai của Ngài; thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài, trong đó Ngài sẽ trị vì trên vương quốc ấy theo cách riêng; và sự tỏ ra thể trạng đời đời.
W. A. Criswell, là Mục sư lâu năm của Hội thánh First Baptist ở Dallas, ông đưa ra phần giải thích sau đây về lý do tại sao Đấng Christ được tỏ ra trong sự vinh hiển:
Lần đầu tiên Chúa chúng ta bước vào thế giới này, Ngài đã đến trong bức màn xác thịt của chúng ta. Thần tánh của Ngài bị bao lại bởi nhân tánh của Ngài. Địa vị Đức Chúa Trời của Ngài bị che giấu bởi nhân tánh của Ngài. Chỉ một lần trong một khoảng thời gian rất ngắn, thần tánh của Ngài đã chiếu qua, như trên Núi Hoá Hình, hay như trong các việc làm kỳ diệu của Ngài. Song hầu hết thời gian, sự vinh hiển, sự oai nghi, thần tánh, sự lạ lùng và kỳ diệu của Con Đức Chúa Trời, ngôi thứ hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, bị che khuất đi. Các thuộc tánh này đã bị xác thịt bao phủ, trong nhân tánh con người của chúng ta. Ngài chào đời trong một chuồng chiên. Ngài lớn lên trong cảnh khó nghèo. Ngài biết rõ đói khát có ý nghĩa như thế nào. Ngài bị đánh đập và bị chà đạp. Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá và bị treo lên như một kẻ tội phạm trước sự xem khinh của cả thế gian. Lần cuối cùng thế gian này đã nhìn thấy Chúa Jêsus là khi họ trông thấy Ngài bị treo lên trong sự nhục nhã, khổ sở và đau đớn trên cây thập tự. Sau đó, Ngài đã hiện ra cho một số môn đồ của Ngài, nhưng lần cuối cùng thế gian vô tín này đã từng nhìn thấy Chúa Jêsus là khi nhìn thấy Ngài chết như một kẻ ác, như một tội phạm, bị đóng đinh trên cây thập tự của người La-mã. Đó là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, một phần của ân điển vô lượng vô biên, và tình yêu của Chúa chúng ta. “Bởi lằn roi Ngài chúng ta được lành bịnh“.
Nhưng liệu thế giới này có còn được nhìn thấy Đấng Cứu Thế của chúng ta — chịu chết xấu hổ trên một cây thập tự không? Không! Đây cũng là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời rằng một ngày kia thế gian vô tín, phạm thượng, bất kỉnh nầy sẽ nhìn thấy Con Đức Chúa Trời với bản tánh trọn vẹn, sự vinh hiển, sự oai nghi, sự lạ lùng và kỳ diệu của địa vị Đức Chúa Trời của Ngài. Khi ấy, mọi người sẽ nhìn xem Ngài như Ngài vốn có thật vậy. Họ sẽ nhìn thấy Ngài đang vòng tay lại trước cả Vũ Trụ, nắm giữ trong tay Ngài uy quyền của mọi tạo vật trong vũ trụ ở trên chúng ta, trong vũ trụ xung quanh chúng ta và trong vũ trụ bên dưới chúng ta đang nắm giữ thế giới này và số phận của nó trong hai bàn tay bị đâm thủng và yêu thương của Ngài. (Expository Sermons on Revelation [Grand Rapids: Zondervan, 1969], 1:16-17).
Ngay cả một cái nhìn lướt qua sách Khải Huyền cho thấy rằng Đức Chúa Jêsus Christ là chủ đề chính của sách ấy. Ngài là “Đấng làm chứng nhân thành tín” (1:5), “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết” (1:5), “làm Chúa của các vua trong thế gian” (1:5), “An-pha và Ô-mê-ga” (1:8; 21:6); “Đấng Toàn Năng” (1:8), “Đấng Trước Hết và là Đấng Sau Cùng” (1:17), “Đấng sống” (1:18), “Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng” (2:1); “Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi” (2:12), “Con Đức Chúa Trời” (2:18); “Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng” (2:18); “Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao” (3:1); “Đấng Thánh, chân thật” (3:7); “Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được” (3:7), “Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật” (3:14), “Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời” (3:14); “Sư tử của chi phái Giuđa” (5:5); “Chồi của vua Đa-vít” (5:5); “Chiên Con của Đức Chúa Trời” (thí dụ, 5:6; 6:1; 7:9-10; 8:1; 12:11; 13:8; 14:1; 15:3; 17:14; 19:7; 21:9; 22:1); “Đấng thánh và chân thật” (6:10); “Đấng trung tín và chân thật” (19:11), “Lời Đức Chúa Trời” (19:13); “Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa” (19:16); “Đấng Christ (Đấng Mê-si), trị vì trên đất với các thánh đồ của Ngài đã được làm cho vinh hiển” (20:6); và “Jêsus … là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói” (22:16). Sách Khải huyền tỏ ra sự oai nghi và vinh hiển của Đức Chúa Jêsus Christ trong bài ca, thi thơ, biểu tượng và lời tiên tri. Trong đó, các tầng trời được mở ra và độc giả của nó xem thấy, như Ê-tiên (Công Vụ các Sứ Đồ 7:56), mọi mặc thị về Con Đức Chúa Trời đã sống lại, đã được làm cho vinh hiển.
NGUỒN THIÊNG LIÊNG
Đức Chúa Trời Ban Cho Ngài (Kh 1:1c)
Sách Khải Huyền là món quà từ Đức Chúa Cha đến Đức Chúa Jêsus Christ theo ý nghĩa nào? Có người giải thích cụm từ Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài gắn với lời lẽ của Chúa Jêsus trong Mac 13:32: “về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi”. Trong sự sĩ nhục khi Ngài hoá thân thành nhục thể, khi Ngài “đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người” (Phi 2:7), Chúa Jêsus đã hạn chế việc sử dụng các thuộc tánh thiêng liêng của Ngài. Trong sách Khải Huyền, những ai nắm giữ quan điểm này tranh luận, Đức Chúa Cha sau cùng đã cho Chúa Jêsus phần thông tin mà Ngài đã thiếu khi hoá thân thành nhục thể và chịu sĩ nhục.
Tuy nhiên, có hai khó khăn rất lớn với quan điểm đó. Một điểm rõ rệt nhất là không có một chỗ nào sách Khải huyền cung ứng ngày hay giờ nói tới sự tái lâm của Đấng Christ. Vì thế, nó không có chứa phần thông tin mà Đức Chúa Cha đã tỏ ra cho Đức Chúa Con. Hơn nữa, Đức Chúa Con đã thăng thiên về trời vinh hiển hơn nửa thế kỷ trước khi sách Khải huyền được viết ra. Là Đức Chúa Trời trọn vẹn và toàn tri, Ngài không cần bất cứ ai cung ứng cho Ngài bất cứ thông tin nào.
Thực vậy, sách Khải huyền là món quà của Đức Chúa Cha ban cho Đức Chúa Con trong một ý nghĩa sâu xa, kỳ diệu hơn. Như một phần thưởng cho sự phục vụ thánh, trung tín, hạ mình và trọn vẹn của Ngài, Đức Chúa Cha đã hứa phải tôn cao Đức Chúa Con. Phaolô giải thích:
“Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Phi 2:5–11)
Sự tôn cao của Đấng Christ, được hứa cho trong ba câu cuối cùng (9-11) của phân đoạn đó, được mô tả chi tiết trong sách Khải Huyền. Vì vậy, nó chứa đựng sự tiết lộ đầy đủ về sự vinh hiển nơi sự tái lâm của Đấng Christ — phần thưởng tối hậu của Ngài đến từ Đức Chúa Cha vì sự trung tín của Ngài trong sự sĩ nhục của Ngài. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự vui mừng của Đức Chúa Cha với sự vâng phục của Đức Chúa Con là sự phục sinh của Ngài; và thứ hai là sự thăng thiên của Ngài; thứ ba là việc sai phái Đức Thánh Linh; rồi sau cùng là ân ban sách Khải huyền, là sách hứa hẹn và tỏ ra sự vinh hiển nơi sự tái lâm của Đấng Christ.
Khi ấy, sách Khải huyền chi tiết cơ nghiệp của Đức Chúa Con do Đức Chúa Cha ban cho. Tuy nhiên, không giống như hầu hết ý muốn của con người, người ta có thể đọc dữ liệu vì nó không phải là một dữ liệu riêng tư, có đóng ấn. Nhưng không phải ai cũng có đặc quyền hiểu được nó, chỉ có những người mà Đức Chúa Trời vén nó lên bởi Thánh Linh của Ngài.
NGƯỜI NHẬN
tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, (Kh 1:1d)
Để tôn cao và làm vinh hiển cho Con của Ngài, Đức Chúa Cha đã giàu ơn chấp nhận một ngóm người đặc biệt, ban cho họ đặc ân hiểu biết những lẽ thật chứa trong quyển sách này. Giăng mô tả những người đó là tôi tớ của Ngài [của Đấng Christ]. Doulois (tôi tớ-nô lệ) sát nghĩa là “nô lệ” (xem Mat 22:28, Mac 13:34). Tuy nhiên, doulos (tôi tớ-nô lệ) là một loại nô lệ đặc biệt — là người phục vụ vì tình yêu thương và sự tôn kính đối với chủ của mình.
Xu 21:5-6 mô tả hạng nô lệ ấy: “Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời”.
Đó là lý do tại sao thấy sách Khải huyền là khó hiểu; sách ấy không được dự trù cho họ. Đức Chúa Cha đã ban ra sách ấy cho Đức Chúa Con để tỏ ra cho những người sẵn lòng phục vụ Ngài. Người nào từ chối không công nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa Tễ không mong gì hiểu được quyển sách nầy. Phaolô giải thích: “Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng” (ICo 2:14). Đối với các môn đồ Ngài, khi ở trên đất, Chúa Jêsus phán rằng: “Vậy nên ta phán thí dụ cùng chúng; vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết … Vì lòng dân nầy đã cứng cỏi; Đã làm cho nặng tai và nhắm mắt mình lại, e khi mắt mình thấy được, tai mình nghe được, lòng mình hiểu được, họ tự hối cải lại, và ta chữa họ được lành chăng. Các bạn đã được ban cho biết các mầu nhiệm nước thiên đàng, nhưng đối với họ, điều đó không được ban cho” (Mat 13:11, 13). Những kẻ vô tín không thể nắm bắt Chúa Giêsu muốn nói gì khi Ngài dạy về những thực tại thuộc linh trong hiện tại. Họ cũng không thể nắm bắt được các thực tại trong tương lai. Lẽ thật thiêng liêng bị che khuất khỏi kẻ khôn ngoan đời nầy. Hạng người hoài nghi chẳng tìm được gì trong sách Khải huyền ngoài sự lộn lạo và nhầm lẫn. Nhưng đối với hạng tôi tớ-nô lệ của Đức Chúa Jêsus Christ, quyển sách này là sự mặc thị dễ hiểu lẽ thật có tính cách tiên tri nói tới phần tương lai của thế gian.
BẢN CHẤT TIÊN TRI
những điều kíp phải xảy đến; (Kh 1:1e)
Phần nhấn mạnh của sách Khải Huyền nhấn mạnh vào các biến cố trong tương lai biệt nó riêng ra đối với các sách Tân Ước khác. Trong khi chúng chứa các tham khảo nhắm tới cuộc tương lai, các sách Tin lành chủ yếu tập trung vào sự sống và chức vụ trên đất của Đức Chúa Jêsus Christ. Sách Công Vụ các Sứ Đồ ghi chép phần lịch sử của Hội thánh từ buổi ban đầu của nó nhắm vào Lễ Ngũ Tuần cho đến khi sứ đồ Phaolô phải ở tù. Các thư tín Tân Ước, giống như các sách Tin lành, chứa những cái nhìn thoáng qua về cuộc tương lai. Tuy nhiên, phần nhấn mạnh chính của nó là giải thích ý nghĩa sự sống, sự chết và sự phục sinh của Đức Chúa Jêsus Christ rồi áp dụng nó vào sinh hoạt của Hội Thánh trong thời hiện tại. Vì vậy, năm sách đầu tiên của Tân Ước là nói về quá khứ, và 21 sách kế tiếp nói về thì hiện tại. Sách cuối cùng, mặc dù nó chứa một số thông tin về quá khứ (chương 1) và hiện tại (bảy Hội thánh trong các chương 2-3, mặc dù Hội thánh theo lịch sử trong thời của Giăng, chúng mô tả các loại nhà thờ được tìm thấy trong kỷ nguyên Hội thánh), nhắm vào cuộc tương lai (các chương 4-22).
Như trong tất cả các tài liệu mang tính cách tiên tri, có một sự nhấn mạnh kép ở trong sách Khải Huyền. Nó phác hoạ Đức Chúa Jêsus Christ trong sự vinh hiển tương lai của Ngài cùng với tình trạng phước hạnh của các thánh đồ. Nó cũng mô tả sự phán xét hạng người vô tín không tin theo Đức Chúa Jêsus Christ dẫn tới án phạt đời đời của họ. Nhà giải kinh Charles Erdman lưu ý:
Đây là quyển sách nói tới sự phán xét và số phận. Mặt sậm kia của bức tranh không hề bị che khuất một phút nào cả. Đức Chúa Trời là công bình. Tội lỗi phải bị trừng phạt. Vấn đề không chịu được và lộn xộn nằm trong đau khổ và thất bại. Đây không phải là sự nhầm lẫn theo tình cảm giữa đúng và sai. Đây không phải là sự dung chịu yếu đuối trước điều ác. Có nhắc đến “Chiên Con đã chịu giết“ mà còn nhắc tới “cơn thạnh nộ của Chiên Con”. Có một “dòng sông sự sống“, mà cũng có “hồ lửa“ nữa. Ở đây một Đức Chúa Trời yêu thương được tỏ ra ở giữa loài người, để lau hết nước mắt, và để xóa bỏ sự chết, sự buồn rầu và đau khổ; nhưng trước tiên các kẻ thù của Ngài phải bị bắt phục. Quả thật, sách Khải huyền là một bức tranh về cuộc xung đột lớn lao cuối cùng giữa các thế lực gian ác và quyền phép của Đức Chúa Trời. Màu sắc rất là mờ nhạt và được vay mượn từ những biến động trong thiên nhiên và từ các bối cảnh của lịch sử nhân loại, với những chiến trận và cuộc tàn sát của họ. Cuộc tranh chiến rất là lớn. Vô số các chiến binh thuộc ma quỉ dấy lên chống lại Ngài là “Vua các vua và Chúa các chúa“. Giáng trên họ là những điều “khốn cho“ được công bố, những cái “bát“ thạnh nộ được đổ ra, và sự huỷ diệt áp đảo tới đến. Một ngày tươi sáng sắp sửa đến, nhưng có sấm sét nổ ra trước bình minh. (The Revelation of John [Philadelphia: Westminster, 1966], 12).
Các lẽ thật quan trọng trong sách Khải huyền nhơn đó vừa vui sướng vừa đau đớn (đối chiếu 10:9–10).
Kíp dịch từ tachos, có nghĩa là “trong một thời gian ngắn” hoặc “mau chóng”. Sự thực cho thấy có một sự ngắn gọn nhất định đối với những biến cố trong tương lai được mô tả trong quyển sách này. Các sự phán xét không có tiền lệ, không thể tưởng tượng được quét qua địa cầu mau chóng trong một thời gian ngắn. Chỉ trong bảy năm, hệ thống thế gian gian ác bị phủ lút bởi cơn thạnh nộ khủng khiếp của Đức Chúa Trời. Ngay cả vương quốc trên đất ngàn năm được vắn tắt bởi các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời (đối chiếu II Phierơ 3:8). Cũng rất thực vào thời điểm Cất Lên, khi Đấng Christ tái lâm để đón Hội thánh của Ngài, diễn ra “trong giây phút, trong nháy mắt” (ICo 15: 52).
Nhưng đấy chưa phải là ý chính của tachos trong bối cảnh này. Ý ở đây không phải là tốc độ mà Đấng Christ di động khi Ngài đến, mà là gần tới sự đến của Ngài. Việc sử dụng tachos và các từ ngữ liên quan trong sách Khải huyền hỗ trợ cho sự tìm hiểu ý nghĩa của nó ở đây là “không bao lâu nữa”. Ở 2:16, Chúa Jêsus đã cảnh cáo Hội thánh Bẹt-găm phải “ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi”, trong khi ở 3:11 Ngài yên ủi Hội thánh trung tín tại Phi-la-đen-phia bằng cách nói cho họ biết: “Ta đến mau kíp”. Chương 11, câu 14, tuyên bố: “Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng”. Một thiên sứ đến nói cho Giăng biết rằng: “Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra” (22:6). Đức Chúa Jêsus Christ ba lần đã tuyên bố: “Ta đến mau chóng” (22: 7, 12, 20). Trong tất cả các trường hợp đó, tachos (hoặc những từ có liên quan đến nó) rõ ràng đề cập đến sự tức thì hay gần nhất của biến cố, chứ không phải tốc độ mà sự việc xảy ra. Nhóm từ tachos được sử dụng theo ý nghĩa tương tự xuyên suốt cả Tân ước (thí dụ: Cong 17:15, 25:4, Ro 16:20, ICo 4:19, Phi 2:19, 24; ITi 3:14; IITi 4:9, He 13:19, 23; IIPhi 1:14). Vì vậy, những điều kíp phải xảy ra mà Giăng đã viết không xảy ra trong một thời gian ngắn, mà là sắp xảy ra (đối chiếu 1:3; 22:6).
Người tin Chúa không cần phải tìm cách đặt ra “kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã tự quyền định lấy” (Cong 1:7). Thay vì thế, lúc nào họ cũng luôn chú ý đến lời cảnh báo của Chúa để “tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến” (Mat 24:42). Sự hiểu biết các biến cố được mô tả trong sách Khải Huyền là kíp phải xảy ra đã và sẽ thúc đẩy các Cơ đốc nhân sống loại đời sống thánh khiết và vâng phục (IIPhi 3:14).
SỰ GIẢI CỨU SIÊU NHIÊN
thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó (Kh 1:1f )
Sách Khải huyền là độc nhất trong văn chương Tân Ước bởi vì đây là quyển sách Chúa sai thiên sứ đến tỏ ra cho tác giả con người của nó. Trong 22:16 Chúa Jêsus tái khẳng định lẽ thật được giảng dạy ở đây, công bố: “Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ ta đến làm chứng về những sự đó cho các ngươi trước mặt các Hội thánh”. Các thiên sứ đã tham gia vào việc ban ra sách Khải Huyền cho Giăng giống như họ đã tham gia vào việc ban Luật pháp cho Môi-se (Cong 7:53, Ga 3:19, He 2:2). Không những các thiên sứ tham gia vào việc chuyển sách Khải Huyền cho Giăng, mà họ còn đóng một vai trò nổi bật trong những bối cảnh mà sách ấy mô tả. Các thiên sứ xuất hiện trong từng chương của sách Khải huyền ngoại trừ chương 4 và chương 13. Chữ “thiên sứ” hay “các thiên sứ” được sử dụng bảy mươi mốt lần trong sách Khải huyền — nhiều hơn bất kỳ sách nào khác trong Kinh thánh. Thực vậy, một trong bốn lần sử dụng trong Kinh Thánh các chữ ấy đều nằm trong sách Khải Huyền. Như vậy, quyển sách này là nguồn thông tin quan trọng về chức vụ của các thiên sứ.
TÁC GIẢ CON NGƯỜI
cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Jêsus Christ, về mọi điều mình đã thấy. (Kh 1:1g-2)
Đại biểu con người mà các sứ giả thuộc hàng thiên sứ truyền đạt sách Khải huyền cho ở đây được nhận dạng là tôi tớ của Đấng Christ [Giăng]. Như đã nêu trong phần giới thiệu, đây là sứ đồ Giăng, con trai của Xê-bê-đê và là anh của Gia-cơ. Giăng đã viết sách Khải Huyền đang khi bị đày ra đảo Bát-mô (1:9).
Sự tàn ác trong các khải tượng mà Giăng nhận được trên hòn đảo hoang vắng đó đã làm cho ông phải chùn bước. Trong sách Tin lành của ông, Giăng không đề cập trực tiếp đến bản thân ông. Tuy nhiên, ở đây, ông đã ghi lại sự hiện thấy của mình với lời tuyên bố: “Tôi là Giăng“ (1:9; 22:8) — một lời công bố biểu lộ sự kinh ngạc khi ông nhận lãnh những sự hiện thấy quá sức mình.
Như ông đã trung tín làm chứng sự đến lần đầu tiên của Đấng Christ (Gi 19:35; 21:24; IGi 1:2; 4:14), vì vậy dưới sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, Giăng trung tín làm chứng cho mọi sự mà ông đã thấy liên quan đến Lần Đến Thứ Hai của Ngài. Đặc biệt, Giăng đã làm chứng về Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus Christ. Những cụm từ ấy cùng nhau xuất hiện lại ở 1:9 (đối chiếu 12:17), và được sử dụng rất hài hoà, một khi “Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri“ (19:10). Lời của Đức Chúa Trời được diễn tả trong sách Khải Huyền là lời chứng về sự vinh hiển hầu đến của Đức Chúa Jêsus Christ được ban cho Hội Thánh của Ngài (đối chiếu 22:16) và được ghi lại bởi chứng nhân trung thành của Ngài, là Giăng.
PHƯỚC HẠNH ĐƯỢC HỨA CHO
Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. (Kh 1:3a)
Sách Khải Huyền được các lời hứa về phước hạnh bao bọc lấy (các phước lành, như trong Ma-thi-ơ 5:3-12) cho những ai đọc và vâng theo nó (đối chiếu 22:7; Lu 11:28). Nhưng đó chỉ là hai trong số bảy lời hứa về ơn phước mà quyển sách dung chứa; phần còn lại là kỳ diệu tương ứng: “Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau!” (14:13). “Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình!” (16:15), “Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con!” (19:9), “Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất!” (20:6), “Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành!” (22:14).
Ba động từ được dịch là đọc, nghe và giữ theo ở trong thì hiện tại. Đọc, nghe, và giữ theo các lẽ thật được dạy dỗ trong sách Khải huyền (và trong phần còn lại của Kinh thánh) cần phải trở thành phương thức sống dành cho những người tin Chúa. Sự thay đổi từ số kẻ đọc đến số nhiều cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây mô tả sự thờ phượng của nhà thờ trong thế kỷ thứ nhất. Đây là cách thực hành phổ thông khi Hội thánh nhóm lại nghe một người đọc Kinh Thánh cho tất cả mọi người đều nghe (đối chiếu ITi 4:13). Mục sư Robert L. Thomas giải thích rằng “bởi vì các tác phẩm được viết ra rất đắt tiền và khan hiếm, cho nên, là bản sao của các sách đều là những phần kinh điển của Kinh thánh. Giống như một qui luật, một bản sao cho mỗi hội chúng Cơ đốc là điều có cần và phải trông mong được như thế. Việc đọc công khai là phương tiện duy nhất để Cơ đốc nhân tuỳ theo tầng lớp cần phải làm quen với nội dung của các sách này” (Revelation 1-7: An exegetical Commentary [Chicago: Moody, 1992], 60). Một khi chỉ có Kinh Thánh cần phải được đọc công khai. “Chủ đích của Giăng là sách Khải huyền cần phải được đọc công khai, được tranh luận mạnh mẽ ngay từ lúc khởi sự, nó được gộp vào trong những cuốn sách mà rồi chúng sẽ được công nhận là một phần kinh điển của Tân Ước“ (Thomas, Revelation 1-7, 62-63).
Sách Khải Huyền là lời sau cùng của Đức Chúa Trời nói với con người, cực đỉnh của sự mặc thị thiêng liêng. Việc viết ra sách ấy đánh dấu sự trọn vẹn của cả Kinh Thánh (đối chiếu 22:18-19), và phạm trù của nó bao gồm toàn bộ lịch sử cứu chuộc trong tương lai (1:19). Vì lẽ đó, có sự bắt buộc là những người tin Chúa phải chăm chú lắng nghe các lẽ thật mà nó chứa trong đó.
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP BẮT BUỘC
Vì thì giờ đã gần rồi. (Kh 1:3b)
Cụm từ này nhắc lại sự thật đã được dạy dỗ ở 1:1, rằng các biến cố được mô tả trong sách Khải Huyền đang sắp xảy ra. Thì giờ không dịch từ chronos, đề cập đến thời gian trên một chiếc đồng hồ hoặc trên lịch, mà là trên kairos, đề cập đến các mùa, kỷ nguyên, hoặc kỷ nguyên. Kỷ nguyên lớn lao kế tiếp của lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã gần rồi.
Sự tái lâm của Đấng Christ sắp xảy ra, sự kiện tiếp theo trong tờ lịch tiên tri của Đức Chúa Trời, luôn luôn là niềm hy vọng của Hội thánh. Chúa Jêsus truyền cho các môn đồ Ngài phải canh chừng với sự trông đợi sự tái lâm của Ngài:
Lưng các ngươi phải thắt lại, đèn các ngươi phải thắp lên. Hãy làm như người chờ đợi chủ mình ở tiệc cưới về, để lúc chủ đến gõ cửa thì liền mở. Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ thức canh! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ thắt lưng mình, cho đầy tớ ngồi bàn mình, và đến hầu việc họ. Hoặc canh hai, canh ba, chủ trở về, nếu thấy đầy tớ như vậy thì phước cho họ! Hãy biết rõ, nếu chủ nhà hay kẻ trộm đến giờ nào, thì sẽ tỉnh thức, chẳng để cho nó đào ngạch nhà đâu. Các ngươi cũng vậy, hãy chực cho sẵn sàng, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ. (Lu 12:35-40)
Phaolô viết cho người thành Rô-ma: “Đêm đã khuya, ngày gần đến” (Ro 13:12). Vị sứ đồ nghĩ rằng ông có thể sống cho đến khi Chúa tái lâm, khi ông sử dụng đại danh từ số nhiều “chúng ta” trong các phân đoạn như ICo 15:51-58 và ITe 4:15-18 cho thấy. Tác giả thơ Hêbơrơ đã khuyến khích độc giả của mình phải: “khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy” (He 10:25). Gia-cơ khuyến khích những người tin Chúa đang phấn đấu với thực tại sự tái lâm của Đấng Christ sắp xảy ra: “Hỡi anh em, vậy hãy nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến … Anh em cũng vậy, hãy nhịn nhục và bền lòng; vì kỳ Chúa đến gần rồi. … kìa, Đấng xét đoán đứng trước cửa” (Gia 5:7-9). Phierơ nhắc nhở các độc giả của ông: “Sự cuối cùng của muôn vật đã gần” (IPhi 4:7), đang khi trong IGi 2:18 sứ đồ Giăng nói thêm: “Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi”.
Bất chấp thái độ hoài nghi của những kẻ nhạo báng, họ gút mắc: “Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế” (IIPhi 3:4), Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm. Và sự tái lâm của Ngài gần rồi.
LỜI CHÚC PHƯỚC CỦA BA NGÔI ĐỨC CHÚA TRỜI
“Giăng gởi cho bảy Hội thánh ở xứ A-si: nguyền xin ân điển và sự bình an ban cho anh em từ nơi Đấng Hiện Có, Đã Có Và Còn Đến, cùng từ nơi bảy vị thần ở trước ngôi Ngài, lại từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!” (Kh 1:4-5)
Không giống như các thư tín hiện đại, người gửi phải ghi tên của họ vào cuối bức thư, thư tín ngày xưa ghi tên tác giả của chúng ngay ở phần đầu thư. Vì vậy, Giăng xác định mình là tác giả và ghi tên bảy Hội thánh (liệt kê ra ở 1:11) đang ở trong địa phận thuộc La-mã ở Á châu (Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay) là những người nhận thư. Nguyền xin ân điển và sự bình an là một lời chào thường hay có trong các thư tín Tân Ước (đối chiếu Ro 1:7; ICo 1: 3; IICo 1:2; Ga 1:3; Eph 1:2; Phi 1:2; Co 1:2; ITe 1:1; IITe 1:2; Phil 1:3), nhưng lời chào này giới thiệu một lời chúc phước từ Ba Ngôi Đức Chúa Trời (đối chiếu IICo 13:14).
Cụm từ Đấng Hiện Có, Đã Có Và Còn Đến xác định Thân Vị thứ nhứt của Ba Ngôi Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, được mô tả ở đây theo các thuật ngữ nói tới con người. Bởi vì đó là cách duy nhất chúng ta có thể hiểu được, mô tả có ba phần (đối chiếu 1:8; 4:8) nhìn nhận Đức Chúa Trời theo các chiều kích thời gian (quá khứ, hiện tại và tương lai), mặc dù Ngài là vô hạn. Đức Chúa Trời đời đời là nguồn mọi ơn phước của sự cứu rỗi, mọi ân điển, và mọi sự bình an.
Bảy Vì Thần Ở Trước Ngôi Ngài đề cập đến Đức Thánh Linh. Rõ ràng, chỉ có một Đức Thánh Linh; con số bảy mô tả Ngài trong sự trọn vẹn của Ngài (đối chiếu 5:6; Êsai 11:2; Xachari 4:1-10). Đức Thánh Linh trong mọi sự vinh hiển và trọn vẹn của Ngài đang ban bố ân điển và sự bình an cho người tin Chúa; Ngài là thần linh hay ban ơn (Hêbơrơ 10:29) và tạo ra sự bình an trong cuộc sống của người tin Chúa (Galati 5:22). Ở đây Ngài được nhìn thấy trong sự vinh hiển nơi địa vị của Ngài trong sự hiện diện của Đức Chúa Cha ở trên trời.
Ân điển và sự bình an cũng tuôn tràn từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian! Ngài cũng được nhìn thấy trong sự tôn cao vinh hiển của Ngài. Điều nầy chỉ thích ứng khi Giăng nhắc đến Đấng Christ sau cùng, và cung ứng phần mô tả đầy đủ hơn về Ngài, một khi Ngài là lẽ đạo của sách Khải Huyền. Một Đấng làm chứng thành tín là nhân vật luôn luôn nói ra và tiêu biểu cho lẽ thật, và điều đó chắc chắn đánh dấu Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài là Đấng làm chứng trọn vẹn cho bản tánh của Đức Chúa Trời. Khải huyền 3:14 gọi Ngài là: “Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật“. Ngài công bố cho Phi-lát biết: “Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật“ (Gi 18:37). Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng làm chứng thành tín không thể nói dối, và Ngài đã sống và rao giảng trọn vẹn ý muốn của Đức Chúa Trời, hứa với những người tin Chúa ân điển và sự bình an của việc được cứu.
Phần mô tả thứ hai về Chúa Jêsus, sanh đầu nhất từ trong kẻ chết, không có nghĩa về mặt niên đại Ngài là người thứ nhứt được sống lại từ kẻ chết. Đã có những sự sống lại trước sự phục sinh của Ngài trong Cựu Ước (IVua 17:17-23; IIVua 4:32-36; 13:20-21), và chính mình Ngài đã làm cho nhiều người được sống lại trong suốt chức vụ trên đất của Ngài (Mat 9:23-25, Lu 7:11-15, Gi 11:30-44). Pr¯ototokos không có nghĩa là đầu nhất theo trình tự thời gian, mà là đầu tiên trong sự ưu việt. Trong tất cả những người đã từng hoặc sẽ được phục sinh, Ngài là người đầu tiên. Đức Chúa Trời tuyên bố Đấng Mê-si trong Thi 89:27: “Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất”. Sách Khải huyền ghi lại việc mở ra lời hứa đó.
Tước hiệu thứ ba, làm Chúa của các vua trong thế gian!, mô tả Đấng Christ như tễ trị tuyệt đối trên mọi vụ việc của thế gian nầy, Ngài đang nắm giữ công việc của tước hiệu đó (đối chiếu 5:1…). Đức Chúa Jêsus Christ là Vua tễ trị trái đất được dạy dỗ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh (thí dụ: 19:16, Thi 2:6-8, Gie 23:5; Xa 9:9; Mat 2:2; 21:5, Lu 19:38; 23:3, Gi 1:49). Ngài là Chúa Tễ, có một danh “trên hết mọi danh” (Phi 2:9-11), là Đấng, theo chương trình của Đức Chúa Cha và công việc của Đức Thánh Linh, ưng ban cho những người tin Chúa ơn phước hoàng gia của Ngài về ân điển và sự bình an.
BÀI CA TÁN DƯƠNG
Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men. (Kh 1:6)
Công việc của Đấng Christ vì ích của người tin Chúa đã khiến cho Giăng phải phát ra trong một bài ca tụng được cảm thúc ngợi khen Ngài. Trong hiện tại, Đấng Christ yêu thương người tin Chúa với tình yêu không phai (Ro 8:35-39). Sự tỏ ra long trọng nhất về tình yêu đó đã đến khi Ngài lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta — một tham khảo đến sự chuộc tội được cung ứng cho bởi cái chết hy sinh của Ngài trên thập tự vì ích cho chúng ta.
Đây là trọng tâm của Tin lành. Hạng tội nhân được Đức Chúa Trời tha thứ, được giải phóng ra khỏi tội lỗi, sự chết và địa ngục bởi sự hy sinh của Đức Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá. Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sự thay thế cho chúng ta, giết Ngài vì tội lỗi của chúng ta, hầu cho án phạt đã được trả giá đủ cả thay cho chúng ta. Sự công bình của Đức Chúa Trời đã được thỏa mãn và Đức Chúa Trời khi ấy ban sự công bình cho hạng tội nhân ăn năn mà vì họ Đấng Christ đã chịu chết thay cho.
Tình yêu của Đấng Christ cũng khiến Ngài làm cho chúng ta nên nước Ngài (chứ không phải vương quốc thiên hi niên, mà là phạm vi của sự tễ trị của Đức Chúa Trời mà những người tin Chúa bước vào khi được cứu, đối chiếu Co 1:13), trong đó chúng ta thưởng thức luật yêu thương, giàu ơn và sự bảo hộ tễ trị toàn năng của Ngài. Sau cùng, Ngài đã làm cho chúng ta nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, ban cho chúng ta đặc ân trực tiếp đến gần với Đức Chúa Cha (đối chiếu IPhi 2:9-10).
Giăng kết luận bài tụng ca của ông với phản ứng đúng đắn duy nhất trong ánh sáng trọng đại các ơn phước mà Đấng Christ đã ban cho những người tin Chúa: đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men. Đấy là phản ứng của hết thảy những ai đã đọc quyển sách kỳ diệu này, sự vinh hiển và quyền thống trị được trình bày trong đó.